Email: email@ioer.edu.vn | vncsp@hnue.edu.vn
Bàn tròn giáo dục

VIỆN NGHIÊN CỨU SƯ PHẠM TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI – QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN

 TS. Trương Thị Bích

Viện Nghiên cứu Sư phạm


Trong bài viết này, tác giả trình bày 3 vấn đề : 1) Đôi nét về bối cảnh ra đời - những thành tựu và tiềm lực của Viện Nghiên cứu Sư phạm (VNCSP) ; 2) Viện Nghiên cứu Sư phạm – đơn vị đầu mối cho các hoạt động khoa học trong đào tạo và bồi dưỡng GV ở trường ĐHSP; 3) Những định hướng phát triển. 

I–BỐI CẢNH RA ĐỜI – NHỮNG THÀNH TỰU VÀ TIỀM LỰC

Bối cảnh ra đời

Viện Nghiên cứu Sư phạm được thành lập bởi các lí do cơ bản sau:

(1) Nhà nước có chủ trương thành lập hoặc chuyển một số viện nghiên cứu vào các trường đại học để có điều kiện tập trung nguồn lực cho hoạt động nghiên cứu khoa học và đào tạo.

(2) Trường ĐHSP Hà Nội có quyết định của Thủ tướng Chính phủ tách và phát triển thành Trường ĐHSP trọng điểm. Sứ mạng mà trường ĐHSP trọng điểm phải đảm nhiệm là nghiên cứu và đào tạo giáo viên các cấp học theo mô hình chất lượng cao.

(3) Bộ Giáo dục & Đào tạo triển khai chủ trương kiện toàn lại Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam và tạo điều kiện cho các trường ĐHSP, đặc biệt là các trường ĐHSP trọng điểm trực tiếp tham gia một cách hiệu quả hơn vào việc triển khai các đề tài, chương trình đề án giáo dục các cấp học từ Mầm non đến THPT và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên. Thành lập, nâng cấp Viện nghiên cứu trong hai trường ĐHSP trọng điểm với một trong các mục tiêu chiến lược quan trọng là gắn trực tiếp các hoạt động của hệ thống sư phạm với giáo dục các cấp học trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Như vậy, chủ trương thành lập, nâng cấp Viên Nghiên cứu SP tại ĐHSP Hà Nội không chỉ là nhu cầu tự thân của Trường ĐHSP Hà Nội mà quan trọng hơn là thực hiện Quyết định số 201/2001/QĐ-TTg ngày 12/12/1999 về việc tách trường ĐHSP Hà Nội và ĐHSP TP Hồ Chí Minh khỏi hai ĐHQG thành hai trường ĐHSP trọng điểm trong hệ thống các cơ sở đào tạo giáo viên trong cả nước. Trường ĐHSP trọng điểm có vai trò chuẩn mực vừa đào tạo giáo viên chất lượng cao, vừa nghiên cứu khoa học làm nòng cốt thúc đẩy sự phát triển hệ thống sư phạm trong cả nước, góp phần giải quyết những vấn đề căn bản của nền giáo dục quốc dân.

Những thành tựu

Hơn mười năm thành lập và phát triển là khoảng thời gian chưa dài đối với một đơn vị nghiên cứu khoa học giáo dục. Tuy nhiên, với những gì đã đóng góp cho Trường, cho Bộ Giáo dục và Đào tạo, cho ngành giáo dục nói chung, Viện Nghiên cứu Sư phạm xứng đáng có một “danh phận”, một vị trí quan trọng trong trường ĐHSP Hà Nội trọng điểm. 

Có thể khái quát những thành tựu khoa học mà VNCSP đã đạt được trong hơn mười năm phát triển:

Viện NCSP đã chủ trì tổ chức bồi dưỡng giáo viên trong cả nước trong đợt thay sách giáo khoa bắt đầu từ năm 2004.

Tổ chức biên soạn tài liệu bồi dưỡng giáo viên phục vụ triển khai đổi mới chương trình và sách giáo khoa.

Tổng kết, đánh giá kết quả triển khai thay sách giáo khoa mới.

Nghiên cứu xây dựng Chuẩn đầu ra chương trình đào tạo cử nhân sư phạm.

Tổ chức triển khai mô hình dạy học Intel ; Bàn tay nặn bột ; Mô hình tổ chức thực tập sư phạm ; Biên soạn chương trình thực tập sư phạm ; Biên soạn chương trình bồi dưỡng giáo viên chưa qua đào tạo sư phạm.

Chủ trì nghiên cứu các giải pháp phát triển hệ thống các cơ sở đào tạo giáo viên của Việt Nam.

Chủ trì nghiên cứu kinh nghiệm các nước về biên soạn sách giáo khoa.

VNCSP đã triển khai được hàng trăm đề tài khoa học từ cấp trường đến cấp nhà nước. Hầu hết các đề tài đều tập trung vào các lĩnh vực quan trọng của trường và của ngành : Nghiên cứu chiến lược phát triển của trường ĐHSP Hà Nội trọng điểm ; nghiên cứu đổi mới phương pháp đào tạo giáo viên (GV) ; nghiên cứu chuẩn nghề nghiệp của các cấp học ; nghiên cứu các giải pháp nâng cao năng lực hệ thống cơ sở đào tạo GV,…

Theo đó, hàng chục đầu sách có giá trị của các nhà khoa học trong Viện đã được công bố. Các sản phẩm khoa học này thực sự đã có ảnh hưởng tích cực đối với sự nghiệp giáo dục nói chung và chất lượng đào tạo của Trường ĐHSP Hà Nội nói riêng.

VNCSP đã tham gia đào tạo cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ các chuyên ngành của khoa học giáo dục, tâm lí học, quản lí giáo dục và một số ngành cơ bản khác. Bên cạnh đó, Viện còn thường xuyên triển khai các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho các đối tượng : giảng viên các trường đại học, cao đẳng ; sinh viên các trường đại học chưa qua đào tạo nghiệp vụ sư phạm ; cán bộ quản lí các cấp phổ thông và cán bộ các Sở, Phòng giáo dục. VNCSP còn tham gia tổ chức bồi dưỡng các kĩ năng mềm cho mọi đối tượng có nhu cầu. Trước hết là bồi dưỡng kĩ năng sống cho SV ĐHSP Hà Nội.

Ngoài ra, Viện còn tham gia các chương trình xây dựng mô hình trường học thân thiện, học sinh tích cực cấp THCS ; xây dựng chương trình khung, chương trình chi tiết và biên soạn tài liệu chương trình NVSP dành cho cán bộ giảng dạy ĐH, CĐ,…

Trong quá trình hoạt động nghiên cứu khoa học, VNCSP luôn sát cánh cùng các đơn vị nghiên cứu và đào tạo của Trường, trăn trở với nhiệm vụ chính trị nâng cao chất lượng đào tạo và bồi dưỡng GV, hoàn thành và hoàn thành tốt hầu hết các nhiệm vụ mà Lãnh đạo trường giao, tự đề xuất và tiên phong trong hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV, tìm hiểu nguyên nhân chất lượng kiến thực tập của SV cũng như nỗ lực tìm ra các giải pháp hữu hiệu và khả thi trong hoạt động này.

Và tiềm lực

Được thành lập ngày 21 tháng 12 năm 2001 theo Quyết định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo, thời gian đầu, VNCSP chỉ có 4 cán bộ với sự chỉ đạo của PGS. TS. Viện trưởng Phạm Viết Vượng. Năm 2004, từ sự sát nhập các Trung tâm của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, VNCSP đã có 4 Trung tâm nghiên cứu và 1 đơn vị hành chính : Trung tâm nghiên cứu Tâm lí học – sinh lí lứa tuổi, Trung tâm nghiên cứu Giáo dục học, Trung tâm nghiên cứu Giáo viên, Trung tâm nghiên cứu phát triển chương trình giáo dục, Phòng Hành chính – Tổng hợp. Hiện tại, với hơn 30 cán bộ, trong đó có 01 GS, 04 PGS, 07 TS, 12 ThS, 3 cán bộ đang là nghiên cứu sinh trong nước, 01 cán bộ đang là nghiên cứu sinh ngoài nước. Đây là đội ngũ cán bộ nghiên cứu mạnh, giàu kinh nghiệm, có thể đảm đương các trọng trách nghiên cứu lớn tầm quốc gia, quốc tế.

Các năm gần đây, hoạt động nghiên cứu khoa học cũng như các hoạt động khác (đào tạo – bồi dưỡng, giảng dạy, đoàn thể) của Viện đã có nhiều khởi sắc. Viện đã chủ trì và nghiệm thuthành công Chương trình nghiên cứu đổi mới đào tạo GV của các trường ĐHSP nhằm đáp ứng yêu cầu giáo dục phổ thông thời kì CNH, HĐH.Đây là chương trình nghiên cứu ứng dụng mang tính đột phá. Theo đó, sẽ triển khai đổi mới toàn diện chương trình đào tạo theo hướng phát triển năng lực nghề nghiệp của SV, đổi mới phương thức thực hành, thực tập sư phạm tại các trường phổ thông. Đây chính là sự khẳng định, là minh chứng thuyết phục cho năng lực, tiềm năng của Viện trong hoạt động nghiên cứu khoa học gắn với nhiệm vụ đào tạo và bồi dưỡng GV.

Nếu đi tìm nguyên nhân cho sự khởi sắc này, phải kể đến trước hết là sự quan tâm chỉ đạo của các cấp Lãnh đạo trực tiếp và gián tiếp. Cụ thể là Lãnh đạo Trường ĐHSP Hà Nội và Lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tin tưởng và mạnh dạn giao việc cho Viện. Thứ hai, đó là sự định hướng đúng đắn của Lãnh đạo Viện trong việc hoạch định ra đường hướng phát triển của Viện trong hiện tại và trong thời gian tới. Thứ ba, đó là nội lực “thâm hậu” truyền thống của Viện, nội lực của rất nhiều cán bộ nghiên cứu giàu kinh nghiệm, đã có những đóng góp nhất định cho công cuộc đổi mới đào tạo và bồi dưỡng GV trong thời kì hội nhập.

II – VIỆN NGHIÊN CỨU SƯ PHẠM – ĐƠN VỊ ĐẦU MỐI CHO CÁC HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRONG ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƯỠNG GV Ở TRƯỜNG ĐHSP

1. Đầu mối cho các dự án, các chương trình khoa học của Nhà nước, của Bộ Giáo dục & Đào tạo và giữa các Khoa trong trường ĐHSP Hà Nội

Ngoài các đơn vị chức năng, các đơn vị phục vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học, Trường ĐHSP Hà Nội có các Khoa đào tạo kết hợp với nghiên cứu khoa học và VNCSP – như tên gọi - chuyên trách về nghiên cứu khoa học sư phạm. Như vậy, VNCSP tuy  không phải là đơn vị duy nhất nghiên cứu khoa học trong trường nhưng là đơn vị duy nhất có đủ điều kiện và cơ sở pháp lý để có thể là đầu mối triển khai các dự án, các nhiệm vụ khoa học mà Bộ Giáo dục & Đào tạo giao cho Trường.

Ở các khoa đào tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học cũng là một yêu cầu bắt buộc. Tuy nhiên, nhiệm vụ giảng dạy luôn được đặt lên hàng đầu. Vì vậy mà đây chưa phải là tập thể nghiên cứu với đúng nghĩa đồng bộ và đều tay. Hoạt động nghiên cứu nghiêng về cá nhân. Ở VNCSP thì ngược lại, với chức năng chính là nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai các kết quả nghiên cứu về khoa học giáo dục ; tổng kết kinh nghiệm và xây dựng các mô hình giáo dục ; tổ chức bồi dưỡng GV, đào tạo đại học và sau đại học ; thực hiện các dịch vụ khoa học, tư vấn chuyển giao công nghệ giáo dục ; hợp tác nghiên cứu khoa học và đào tạo với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước([1]),… Viện có ưu thế nổi bật về tiềm năng triển khai các hoạt động nghiên cứu khoa học : đội ngũ cán bộ giàu kinh nghiệm nghiên cứu, cơ sở vật chất,…và sự chuyên tâm về hoạt động này.

Tại sao phải và cần có đơn vị đầu mối trong hoạt động nghiên cứu khoa học trong trường ?

Như đã đề cập, việc nghiên cứu khoa học của các Khoa đào tạo với thế mạnh nghiêng về cá nhân nên hệ thống đề tài có sự manh mún, chưa chụm, chưa tạo nên được các vấn đề nghiên cứu khoa học có ý nghĩa lớn. Để có tầm nhìn tổng thể, bao quát, cần có một đơn vị làm cầu nối giữa các Khoa, tập hợp các nhà khoa học, phát triển các đề tài nhỏ, lẻ thành hệ thống đề tài có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao ; Tạo ra mối liên hệ tích cực, sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các nhà khoa học trong toàn trường ; Phát huy thế mạnh về nghiên cứu khoa học giữa các Khoa khi triển khai dự án hay chương trình khoa học lớn. Đây cũng chính là cách để phát triển hoạt động nghiên cứu khoa học và cũng chính là để nâng cao vị thế khoa học của trường ĐHSP trọng điểm.      

2. Đầu mối cho sự chuyển giao ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học

Thực tế, các kết quả nghiên cứu khoa học của trường (từ đề tài cấp trường, cấp Bộ, cấp Bộ trọng điểm) tính ứng dụng chưa cao. Có thể do nghiên cứu lí thuyết chưa thực sự gắn với thực tiễn giáo dục. Cũng có thể khâu quảng bá sản phẩm nghiên cứu chưa tốt (xuất bản sách, giới thiệu sản phẩm, chủ động triển khai tập huấn cho GV PT). Thực tế này cho thấy rất cần thiết phải có một đơn vị đầu mối để triển khai chuyển giao ứng dụng giữa nhà nghiên cứu và người thụ hưởng kết quả nghiên cứu.

Trong trường ĐHSP, VNCSP nếu đã là đầu mối của việc triển khai hoạt động nghiên cứu khoa học thì sẽ rất thuận lợi cho việc triển khai hoạt động ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học. Hiện tại, Viện đang xây dựng đề án cho việc hình thành Trung tâm chuyển giao ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học. Trung tâm này có nhiệm vụ giới thiệu, quảng bá, xuất bản sách, đưa sản phẩm nghiên cứu của Viện tới địa chỉ ứng dụng cần thiết. Có thể nói, đây là một đường hướng đúng đắn và là một sự nỗ lực của Viện bởi nếu chỉ đầu tư kinh phí, trí tuệ, công sức vào việc nghiên cứu mà không đưa được sản phẩm tới địa chỉ ứng dụng thì kết quả nghiên cứu ấy thật sự lãng phí. Và nghiên cứu ấy chỉ là lí thuyết suông.

Tại sao nói nếu đã là đầu mối triển khai hoạt động nghiên cứu khoa học lại thuận lợi hơn cho việc chuyển giao ứng dụng kết quả nghiên cứu ? Đó bởi vì khi là đầu mối cho việc triển khai hoạt động nghiên cứu khoa học, đơn vị có trách nhiệm “tiêu thụ sản phẩm” sẽ biết điều chỉnh định hướng nghiên cứu để đáp ứng với nhu cầu của thực tiễn giáo dục. Biết lắng nghe nhu cầu, yêu cầu của thị trường giáo dục để “làm ra” các sản phẩm được thị trường giáo dục chấp nhận. Đó cũng bởi một khi đã là đơn vị nắm vững được các sản phẩm khoa học của các Khoa trong trường mà chính các Khoa với hoạt động dạy – học cũng là một địa chỉ ứng dụng tin cậy trong tiêu thụ sản phẩm thì việc chuyển giao ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học càng có ý nghĩa và thuận lợi. Như vậy, VNCSP đã thực hiện được chức năng gắn kết giữa đào tạo và nghiên cứu khoa học trong trường ; từng bước phát triển hoạt động nghiên cứu khoa học và từ nền tảng căn cốt của nghiên cứu khoa học để từng bước nâng cao chất lượng đào tạo và bồi dưỡng GV.

III – ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN

1. Viện Nghiên cứu Sư phạm –Điều kiện quan trọng cho việc phát triển mô hình trường đại học nghiên cứu

“Một trường đại học hiện đại, chất lượng cao phải là nơi giao thoa của 3 chức năng : đào tạo, nghiên cứu khoa học (NCKH) và phục vụ xã hội (PVXH). Trong đó, NCKH có tác động quyết định tới chất lượng của hai chức năng kia và tới chất lượng chung của nhà trường. Nếu trường đại học không có NCKH thì chỉ nên xem là “trường phổ thông cấp ba rưỡi”([2]).

Thực ra, hiện nay ở các trường đại học, nghiên cứu khoa học là một hoạt động bắt buộc đối với cán bộ giảng viên. Tuy nhiên, hoạt động này chưa được đầu tư thích đáng và hiệu quả chưa cao, chưa tạo ra được ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo của trường. Vì vậy, để hoạt động nghiên cứu khoa học có tác động quyết định tới chất lượng của hoạt động đào tạo đang còn là cái đích quá lí tưởng đối với các nhà khoa học cũng như đối với sự phát triển của nhà trường đại học. Định hướng phát triển mô hình trường đại học nghiên cứu của Bộ Giáo dục và Đào tạo là một định hướng đúng đắn, phù hợp với xu thế phát triển giáo dục đại học thế giới.

Đôi nét về trường đại học nghiên cứu

Khái niệm ĐHNC xuất hiện đầu tiên ở Đức. Từ đó, ĐHNC được phát triển ở nhiều nước, đặc biệt là ở Mĩ và trở thành mô hình đại học đa ngành chất lượng cao ở mỗi nước. ĐHNC mang một số đặc trưng : quy mô lớn, tính liên ngành cao. Hoạt động chủ yếu của đội ngũ cán bộ là nghiên cứu khoa học và giảng dạy. Đội ngũ cán bộ có chất lượng cao và có quyền tự chủ cao trong hoạt động, đặc biệt trong nghiên cứu khoa học. Kinh phí nghiên cứu khoa học lớn. Các điều kiện nghiên cứu đầy đủ về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị và thông tin.

Công tác nghiên cứu khoa học trong các trường đại học có vai trò rất quan trọng trong hoạt động nghiên cứu khoa học của đất nước. Bởi lẽ hoạt động này ở trường đại học có ba thế mạnh : a) Tiềm năng chất xám của đội ngũ cán bộ cao ; b) Lực lượng triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học thường xuyên và hùng hậu ; c) Tạo ra hiệu quả kép (sản phẩm khoa học công nghệ và sản phẩm đào tạo).

Định hướng phát triển ĐHNC ở Việt Nam

Việc phát triển mô hình các trường ĐHNC ở Việt Nam đang nằm trong định hướng chiến lược. Khả năng thực hiện sớm hay muộn, hiệu quả như thế nào phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trước mắt chắc chắn sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Tác giả bài viết xin được trích dẫn nhận định của GS. TSKH – Thứ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo Bùi Văn Ga : “Ở nước ta, trong giai đoạn từ nay đến năm 2020, sự phân biệt rạch ròi đâu là các trường đại học nghiên cứu, đâu là các trường đại học đa ngành ứng dụng rất khó khả thi. Một số trường đại học hàng đầu ở nước ta có đào tạo sau đại học, phát triển nghiên cứu khoa học nhưng các hoạt động này chiếm tỉ trọng chưa cao… Vì vậy trong giai đoạn từ nay đến 2020, bên cạnh các đại học theo hướng ứng dụng, chúng ta tiếp tục xây dựng các đại học phát triển theo định hướng nghiên cứu để trở thành các đại học nghiên cứu thực sự trong tương lai… Việc phát triển các trường đại học theo định hướng nghiên cứu là một thử thách rất lớn. Để đưa các trường này vào quỹ đạo phát triển đại học nghiên cứu thì việc đầu tư phát triển nghiên cứu khoa học trong trường là yêu cầu không thể thiếu”.

Viện Nghiên cứu Sư phạm trong trường Đại học Sư phạm – điều kiện quan trọng để phát triển mô hình trường đại học nghiên cứu

  Theo như phân tích có tính chất chỉ đạo chiến lược của một nhà khoa học đồng thời cũng là một nhà lãnh đạo cấp cao của ngành giáo dục trên thì việc phát triển mô hình trường ĐHNC ở Việt Nam không phải dễ dàng thực hiện. Định hướng “tiếp tục xây dựng các đại học phát triển theo định hướng nghiên cứu để trở thành các đại học nghiên cứu thực sự trong tương lai” cho thời gian từ nay đến 2020 và “Để đưa các trường này vào quỹ đạo phát triển đại học nghiên cứu thì việc đầu tư phát triển nghiên cứu khoa học trong trường là không thể thiếu” đã là một gợi ý chỉ đạo có tính chất chiến lược cho các trường đại học phát triển nói chung và trường ĐHSP Hà Nội nói riêng. Đầu tư thực sự và có chất lượng cho nghiên cứu khoa học trong thời điểm hiện tại và những năm tới là một điều kiện quan trọng, không thể thiếu trong định hướng chiến lược phát triển trường ĐHNC.

Theo định hướng trên, với Trường ĐHSP Hà Nội trọng điểm, một trong những “kênh” đầu tư quan trọng cho nghiên cứu khoa học chính là đầu tư cho sự phát triển của VNCSP. Đầu tư ở đây là đầu tư về nhân lực, tức về nguồn cán bộ nghiên cứu ; đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị, thông tin ; đầu tư về kinh phí triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học. Với sự đầu tư này, trước mắt, VNCSP sẽ tập trung nghiên cứu về các vấn đề của khoa học sư phạm, về đào tạo và bồi dưỡng GV. Lâu dài, cùng với chức năng đầu mối nghiên cứu khoa học trong trường và chức năng chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học,VNCSP sẽ là điểm tựa nghiên cứu khoa học góp phần xây dựng trường ĐHSP Hà Nội trọng điểm thành một trong những trường đại học nghiên cứu hàng đầu của đất nước.

2. Xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh

Một giải pháp phù hợp cho sự phát triển khoa học và công nghệ trong giai đoạn tới là triển khai xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh để nuôi dưỡng các nhà khoa học xuất sắc và triển khai nghiên cứu phát triển công nghệ cốt lõi. Xây dựng và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh được xác định vừa là phương thức vừa là mục tiêu để Viện NCSP phát triển tiềm lực KH và CN, nâng cao khả năng triển khai các nghiên cứu đỉnh cao và hình thành các trường phái khoa học, các trung tâm nghiên cứu xuất sắc, tạo động lực gia tăng các giá trị khoa học và công nghệ, các yếu tố cạnh tranh cả trên phương diện quốc gia và quốc tế, thúc đẩy sự phát triển của Viện và các trung tâm theo định hướng nghiên cứu.

Yếu tố hàng đầu để có thể hình thành được các nhóm nghiên cứu mạnh trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, thực hiện đồng thời cả hai nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu đạt chất lượng cao trước hết phải có mô hình tổ chức phù hợp, đầu tư trang thiết bị hiện đại, hợp lí và thực thi chính sách dân chủ, khuyến khích tài năng. Việc triển khai các mô hình tích hợp đào tạo và nghiên cứu được tiến hành đồng thời với việc xây dựng các nhóm nghiên cứu bao gồm các nhà khoa học đam mê nghiên cứu, có khả năng hợp tác. Ngoài ra, cần có cơ chế tuyển chọn, giao nhiệm vụ khoa học công nghệ cho các nhà khoa học đầu ngành. Từ các nhóm nghiên cứu, cần hướng tới xây dựng các trung tâm nghiên cứu. Các trung tâm này không nhất thiết phải được hình thành trên cơ sở các đơn vị hành chính mà là tập hợp nhiều nhà khoa học ở nhiều đơn vị khác nhau.

3. Một số biện pháp phát triển KHCN tại Viện NCSP

- Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực trình độ cao đáp ứng yêu cầu nghiên cứu khoa học. Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho hoạt động của trí thức phát huy trình độ năng lực sang tạo.

- Hình thành và phát triển khoa học dịch vụ ; đẩy mạnh công tác phổ biến, chuyển giao và ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tế ; xây dựng các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ phù hợp.

- Tăng cường sự liên kết hợp tác giữa các trường đại học, Viện nghiên cứu và các cơ sở hưởng thụ kết quả nghiên cứu.

- Phát triển nhóm nghiên cứu trẻ có tiềm năng.

- Chú trọng xây dựng mô hình quản lí gắn kết nghiên cứu khoa học với đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ.

Tóm lại,mười lăm năm phát triển, Viện NCSP đã không ít lần vượt qua những khó khăn để đạt được những thành tựu không nhỏ cả về nghiên cứu khoa học và đào tạo bồi dưỡng. Trong thời gian tới, với những tiềm lực đã có, cùng với nhận thức đúng đắn về chiến lược phát triển của Lãnh đạo Trường ĐHSP Hà Nội, VNCSP chắc chắn sẽ là một đơn vị nghiên cứu khoa học hoạt động hiệu quả, góp phần vào nhiệm vụ đào tạo và bồi dưỡng GV nói riêng của nhà trường cũng như các vấn đề về khoa học giáo dục của ngành nói chung. 


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nghiêm Đình Vì, Vai trò nghiên cứu khoa học sư phạm với đào tạo giáo viên thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam, Kỉ yếu Hội thảo khoa học Khoa học sư phạm trong chiến lược phát triển giáo viên, yếu tố căn bản đổi mới giáo dục Việt Nam, 12/2011.

2. Vũ Văn Dụ, Một trường đại học đặt nền móng cho ngành sư phạm nước nhà, Kỉ yếu Hội thảo khoa học Khoa học sư phạm trong chiến lược phát triển giáo viên, yếu tố căn bản đổi mới giáo dục Việt Nam, 12/2011.

3. Bạch Văn Hợp, Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học ở trường đại học sư phạm trọng điểm đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam,Kỉ yếu Hội thảo khoa học Khoa học sư phạm trong chiến lược phát triển giáo viên, yếu tố căn bản đổi mới giáo dục Việt Nam, 12/2011.

4. Lê Quang Sơn, Dạy học theo phương pháp nghiên cứu khoa học – phương pháp tích hợp với đào tạo ở đại học, Kỉ yếu Hội thảo khoa học Khoa học sư phạm trong chiến lược phát triển giáo viên, yếu tố căn bản đổi mới giáo dục Việt Nam, 12/2011.


Chú thích:

 

([1]) Quy chế tổ chức và hoạt động của Viện Nghiên cứu Sư phạm, Hà Nội, 2007.

([2])Bản tin ĐHQG Hà Nội, GS. TSKH Trương Quang Học, số 217, năm 2009.

 

Publish: 3/31/2015 - Views: 1131 - Lastest update: 3/31/2015 8:32:33 AM
Tin cùng chuyên mục