Email: email@ioer.edu.vn | vncsp@hnue.edu.vn
Bàn tròn giáo dục

ẢNH HƯỚNG CỦA NHÀ TRƯỜNG ĐẾN GIÁO DỤC CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA CÔNG NGHIỆP CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG

TS Nguyễn Thị Kim Dung

Viện NCSP- Trường ĐHSP Hà Nội

(Bài báo này là kết quả nghiên cứu của đề tài “Giáo dục văn hóa công nghiệp cho học sinh trong nhà trường phổ thông” với sự tài trợ kinh phí của Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia)

1. Đặt vấn đề

1.1 Chiến lược Phát triển Nhân lực Việt Nam thời kì 2011 – 2020 có mục tiêu là: “Nhân lực Việt Nam hội đủ các yếu tố cần thiết về thái độ nghề nghiệp, có năng lực ứng xử (đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, tác phong làm việc, kỷ luật lao động, tinh thần hợp tác, tinh thần trách nhiệm, ý thức công dân…) và tính năng động, thực lực cao, đáp ứng những yêu cầu đặt ra đối với người lao động trong xã hội công nghiệp”. Từ đó, Chiến lược Phát triển Giáo dục Việt Nam giai đoạn 2011- 2020 đặt mục tiêu: “…Đào tạo ra những con người có năng lực sáng tạo, tư duy độc lập, trách nhiệm công dân, đạo đức và kỹ năng nghề nghiệp…, kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp…khả năng thích ứng…”. Bởi nguồn nhân lực bước sang thế kỷ XXI của Việt Nam phải là “con người khoa học và công nghệ, có đủ trí tuệ, đầu óc duy lý khoa học của thời đại và kỹ năng lao động lành nghề, biết làm ăn có hiệu quả cho bản thân và cho xã hội, có tác phong công nghiệp và lối sống nền nếp, văn hóa công nghiệp” [4] . Do đó, giáo dục các giá trị văn hóa công nghiệp (VHCN) cho học sinh (HS) trong nhà trường vừa là nội dung, vừa là mục tiêu hướng đến, vừa là điều kiện để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của nước ta, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế bởi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, đồng thời vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.

Kết quả nghiên cứu của đề tài “Giáo dục văn hóa công nghiệp cho học sinh trong nhà trường phổ thông”, đã xác định hệ thống 10 giá trị VHCN cơ bản cần giáo dục cho HS phổ thông Việt Nam đáp ứng những yêu cầu của công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Đó là: Tôn trọng tri thức và tự học hỏi; Tư duy phản biện; Thích ứng với sự thay đổi; Tự chịu trách nhiệm; Tôn trọng kỷ cương;Tôn trọng sự cam kết; Kế hoạch và chuyên nghiệp; Coi trọng chất lượng và Hiệu quả;Trung thực và Hợp tác.

 1.2 Giáo dục các giá trị VNCN cho HS là một quá trình phức tạp và lâu dài, đòi hỏi sự tác động liên tục về thời gian và không gian, từ mọi lực lượng giáo dục. Chính vì thế, trong phạm vi nhà trường (NT), quá trình giáo dục các giá trị VHCN cho HS cũng cần phải được thấm sâu ở mọi nơi, mọi lúc, mọi người trong NT, đòi hỏi không chỉ thông qua các môn học, mà qua toàn bộ cuộc sống NT với sự tham gia của tất cả mọi người, từ cán bộ quản lí đến giáo viên (GV) và nhân viên của NT. Việc giáo dục các giá trị VHCN được thực hiện thông qua nhiều con đường khác nhau, như tổ chức các hoạt động giáo dục, thực hiện nội qui HS, điều lệ Đội, Đoàn, qua các môn học... Việc thực hiện giáo dục các giá trị VHCN có chủ đích thông qua những con đường trên được gọi là chương trình chính thức.

Tuy nhiên, bên cạnh chương trình chính thức đó, còn có chương trình không chính thức cũng ảnh hưởng rất mạnh đến giáo dục các giá trị VHCN cho HS. Đó có thể là cuộc sống của NT, bầu không khí lớp học, môi trường vật chất và môi trường tâm lí –xã hội của NT, hành vi của GV và các nhân viên khác trong trường, các phương pháp dạy và học phổ biến.... Việc giảng dạy các giá trị VHCN sẽ không mang lại hiệu quả nếu thực tế những gì diễn ra trong trường, trong hành động của GV hoàn toàn trái ngược lại với những gì HS được dạy. Trong giờ học, HS được giảng dạy và thảo luận về giá trị của sự tôn trọng người khác, về sự quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau giữa mọi người, về giá trị của sự tôn trọng kỷ cương, sống có trách nhiệm … nhưng HS lại nhận thấy những gì diễn ra trong trường hoàn toàn theo các chuẩn mực khác thì chúng sẽ có xu hướng chấp nhận cái đang tồn tại trong NT mới là những qui tắc thật của cuộc sống, còn cái chúng được dạy chỉ là một thứ tồn tại trong lý thuyết mà thôi.

Vậy vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào để những cái gọi là “chương trình không chính thức” có ảnh hướng tốt đến giáo dục các giá trị VHCN cho HS. Có 3 khía cạnh quan trọng có liên quan đến nhau cần được xem xét: (1) Môi trường vật chất và tâm lí- xã hội của NT; (2) Đội ngũ GV và nhân viên trong NT; (3) Các phương pháp dạy học trong NT.

 2. Những yếu tố ảnh hưởng của nhà trường đến giáo dục các giá trị văn hóa công nghiệp cho HS phổ thông

2.1. Môi trường nhà trường

Ảnh hưởng của môi trường đến sự phát triển nhân cách con người nói chung đã được các nhà giáo dục quan tâm từ lâu. Điển hình đầu tiên có nghiên cứu của Kenloc - Mỹ (1923) , Pavlov, I.V, Skinnơ B. F… Các tác giả đều đi đến nhận định: yếu tố môi trường trong giáo dục không chỉ góp phần quyết định sự hình thành và phát triển nhân cách con người mà quan trọng hơn là yếu tố môi trường thực tế đã kích thích con người hoạt động năng động và sáng tạo hơn [7].

            Jean Marc Denomme và Madeleine Roy coi môi trường nhà trường là yếu tố tham gia trực tiếp vào quá trình dạy học - giáo dục chứ không đơn thuần chỉ là nơi diễn ra hoạt động học. Nó có ảnh hưởng đến người dạy và người học. Chính vì thế tác giả cho rằng mô hình quen thuộc: Người dạy - Người học - Tri thức được chuyển thành: Người dạy - Người học - Môi trường. Bài báo này đi sâu phân tích những ảnh hưởng của môi trường nhà trường đến giáo dục các giá trị văn hóa công nghiệp (VHCN) cho học sinh phổ thông [1].

Môi trường nhà trường được dùng để chỉ nơi mà các hoạt động học tập diễn ra. Nghĩa là môi trường học tập là cái bên ngoài, là điều kiện cho việc tiến hành các thao tác, hành động học tập. Ngoài ra, môi trường học tập của HS cần được hiểu với ý nghĩa đầy đủ hơn, như là một bộ phận mang nội dung giáo dục. Hàng loạt những kinh nghiệm về các lĩnh vực khác nhau có liên quan đến dạy và học sẽ xảy ra trong môi trường học tập và sẽ có tác động nhiều hay ít đến các em, có thể tự giác và có thể tự phát. Điều đó có nghĩa là môi trường học tập của HS không chỉ đơn giản là cơ sở, điều kiện để các em hoạt động chiếm lĩnh những kiến thức, kinh nghiệm và giá trị giáo dục, mà còn là thành phần mang giá trị và kinh nghiệm giáo dục [7, 8]. Do đó, môi trường nhà trường không chỉ là yếu tố tác động đến giáo dục học sinh mà bản thân nó cũng chứa đựng những nội dung giáo dục quan trọng. Thông qua môi trường nhà trường, HS có thể học được những giá trị văn hóa nói chung và văn hóa công nghiệp quan trọng như tôn trọng tri thức, tôn trọng kỉ cương, sống có trách nhiệm, tôn trọng sự cam kết, trung thực, công bằng, hợp tác…

Môi trường nhà trường bao gồm môi trường vật chất (vật lí) và môi trường tâm lí – xã hội. Các yếu tố của môi trường vật chất bao gồm không gian phòng học, kích cỡ lớp (số HS/trên lớp), cách trang trí lớp học, quang cảnh nhà trường, sân chơi, bãi tập, sắp xếp bàn ghế và các vật dụng, phương tiện vật chất – kĩ thuật trong lớp, trường…. Môi trường tâm lí – xã hội (môi trường tinh thần) bao gồm các mối quan hệ trong lớp học, trong nhà trường – quan hệ GV – HS, HS với HS và GV – GV; phương pháp dạy học – giáo dục HS; các chuẩn mực, các giá trị, niềm tin, dư luận tập thể…

(i) Môi trường vật chất

Môi trường vật chất bao gồm tổng thể những yếu tố vật chất về nơi hoạt động dạy học diễn ra, như cấu trúc không gian, sự sắp xếp, bố trí các đồ dùng, trang thiết bị, phương tiện, tài liệu phục vụ dạy học và nơi làm việc của GV và HS trong phòng học, có thể gọi chung là môi trường lớp học. Những đặc điểm ánh sáng, tiếng ồn, mức độ rộng hẹp của nơi làm việc, các khoảng không gian trong phòng… Tính tiện dụng, khoa học và hấp dẫn của các trang thiết bị và học liệu… trong lớp học có tác động đến tâm lí học tập cũng như hành vi của các thành viên trong đó. Kyriacou (1991) đã viết: "Hình thức bao quát bên ngoài của một lớp học sẽ thể hiện cho HS thấy được sự quan tâm đến việc tạo ra môi trường khuyến khích học tập của các em" [1] .

            Môi trường vật chất bao gồm cả phần tĩnh và phần động. Phần tĩnh (hay phần ổn định tương đối) tạo nên không khí của một lớp học chung và tạo nên sắc thái riêng của một lớp học cụ thể. Phần tĩnh trong không gian lớp học có đặc điểm và ý nghĩa khác nhau đối với HS ở các lứa tuổi khác nhau. Môi trường lớp học thường có tác động đến tâm lí của HS nhỏ mạnh hơn là đối với HS lớn, trong khi đó tính tiện dụng của môi trường vật chất được HS lớn coi trọng hơn HS bé. Phần động (phần thay đổi của môi trường lớp học) chiếm một phần đáng kể trong cấu trúc chung của lớp học, vì cần phải đáp ứng những yêu cầu khác nhau của các môn học và các hoạt động khác nhau trong lớp. Phương tiện, đồ cùng DH và cách sắp xếp, bố trí trang thiết bị, chỗ ngồi của GV, HS hay sự di chuyển, đi lại của mọi thành viên trong quá trình hoạt động sẽ rất khác nhau với những hoạt động khác nhau. Điều đó có nghĩa là môi trường vật chất của lớp học này khác với lớp học kia, ở mỗi thời điểm khác nhau là không giống nhau [1,3].

Các nghiên cứu trước đây về môi trường vật chất thường tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi và kết quả học tập như cách thiết kế phòng học, cách bố trí sắp xếp không gian phòng học, âm thanh, ánh sáng, nhiệt độ …. Còn hiện nay sự quan tâm của các nhà nghiên cứu về nhiều vấn đề khác như thành phần, kích cỡ lớp học (số lượng HS/lớp) và quản lí lớp học.

Các nghiên cứu về thành phần lớp học đã xem xét các phương pháp nhóm HS bao gồm khả năng tạo nhóm HS, lớp học chỉ một giới và các nhóm học tập hợp tác. Nghiên cứu cho thấy những lớp học với các nhóm hợp tác cao thì HS có những nhận định tích cực về sự công bằng trong việc cho điểm, sự đoàn kết mạnh trong lớp và sự ủng hộ, hỗ trợ lẫn nhau cao cũng như kết quả học tập cao. Nghiên cứu về kích cỡ lớp học chỉ ra rằng nhìn chung ở những lớp học có ít HS thì các em ít bị stress, luôn luôn ở trạng thái làm việc trong giờ học, ít có vấn đề về hành vi so với những lớp đông HS. Ngoài ra, đối với lớp đông thì GV phải dành nhiều thời gian cho những nhiệm vụ hành chính (quản lí) và ít thời gian hơn cho giảng dạy. Có một vài nghiên cứu cho thấy sự khác nhau giữa lớp học nhỏ với lớp học đông HS chủ yếu ở khía cạnh hành vi của HS [3].

Với lớp học có quá nhiều các phương tiện vật chất, đông HS và không có GV trợ giúp khác là ba yếu tố chính dẫn đến nhiều vấn đề về hành vi của HS và sự căng thẳng tâm lí. Và sự gia tăng căng thẳng tâm lí, các vấn đề về hành vi có liên quan đến kết quả học tập thấp.Tỉ lệ GV/HS cũng là sự quan tâm của một số nhà nghiên cứu. Nhiều nghiên cứu cho thấy với những lớp học đông trên 30 HS có xu hướng là nhiều HS không tập trung vào giờ học trên lớp so với lớp học ít HS. Tuy nhiên, việc thu hút HS vào giờ dạy còn có liên quan đến phương pháp giảng dạy và nghệ thuật lôi cuốn của GV. Ngoài ra, các yếu tố vật lí khác cũng có tác động đáng kể đến kết quả học tập và tác phong, hành vi của HS như cách sắp xếp bàn ghế, nhiệt độ, ánh sáng của phòng học, cây xanh trong phòng học….[3].

Sự phân tích trên cho thấy, môi trường vật chất trong lớp học có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi, tác phong và kết quả học tập của học sinh. Một lớp học được sắp xếp gọn gàng, tiện ích, hấp dẫn…với nhiệt độ, ánh sáng phù hợp sẽ tạo ra cho HS không khí thỏa mái, tác phong làm việc nhanh nhẹn, ngăn nắp, tôn trọng nề nếp, kỉ cương…

(ii) Môi trường tâm lí - xã hội:

Môi trường tâm lí - xã hội của lớp học là nói đến những mối quan hệ, những tương tác xảy ra giữa các chủ thể hoạt động trong quá trình thực hiện nhiệm vụ học tập. Môi trường tâm lí - xã hội tạo nên bầu không khí tâm lí trong tập thể lớp học và tạo điều kiện hỗ trợ cho các tương tác giữa người học với nhiệm vụ học tập. Ý nghĩa của môi trường xã hội đối với quá trình học tập có thể giải thích từ lí thuyết tương tác của L.S Vygotsky. Quan điểm cơ bản của lý thuyết này là thông qua tác động qua lại với nhau mỗi người đều học được một cái gì đó từ người khác ở mức độ tư duy cấp cao bằng những cách khác nhau và trong các hoàn cảnh khác nhau [7].       

Môi trường tâm lí - xã hội của lớp học bao gồm những mối quan hệ tương hỗ giữa GV và HS, giữa HS với các bạn cùng học và những người khác như cha mẹ HS, các cán bộ chuyên môn, các nhà khoa học… tham gia vào quá trình dạy học. Tương tác giữa người dạy với người học và tương tác qua lại giữa người học với nhau là hai thành phần chủ yếu trong môi trường tâm lí - xã hội của lớp học. L.S Vygotsky khẳng định: Học tập đánh thức rất nhiều quá trình phát triển bên trong mà chúng chỉ có thể thực hiện được khi đứa trẻ đang tương tác với mọi người trong môi trường của nó và trong sự hợp tác với bạn bè của nó" [8]. Điều đó có nghĩa là thông qua tương tác với bạn, với thầy cô, HS học được cách tư duy phản biện, cách tự học, cách thức làm việc chuyên nghiệp, có kế hoạch, cách hợp tác với nhau để hoàn thành nhiệm vụ… Đây là những giá trị VHCN quan trọng cần có ở học sinh mọi lứa tuổi.

            Nghiên cứu của Helen Patrick và cộng sự (Patrichk, Ryan & Kaplan, 2007) đã cho thấy ở những lớp học có sự tôn trọng lẫn nhau thì học sinh có các phương pháp học tập hiệu quả và có sự tự tin cao về khả năng học tập, hoàn thành bài tập của mình. Bên cạnh đó với những lớp học, HS nhận được những hỗ trợ tinh thần và sự khích lệ từ GV, sự ủng hộ, hỗ trợ từ các bạn thì chúng tập trung vào các nhiệm vụ học tập trên lớp hơn và sử dụng các biện pháp tự điều chỉnh hành vi của mình. Ngoài ra, chính thông qua quan hệ với bạn, mà năng lực hiểu người khác, hiểu bạn của mỗi HS được xây dựng và do đó năng lực hiểu bản thân mình được hình thành và năng lực tự ý thức, cơ sở của tự giáo dục được phát triển. Chính trong quá trình tương tác, giao lưu với bạn, các em trao đổi với nhau những quan điểm, tư tưởng, hứng thú, tâm trạng, niềm tin, giá trị... và từ đó có tác động lẫn nhau [9]. Như vậy, HS với tư cách vừa là chủ thể, vừa là khách thể của quá trình học tập trong nhà trường, sẽ là người vừa chịu sự tác động của VHCN, vừa là người xây dựng, làm thay đổi và phát triển các giá trị VHCN thông qua "kênh" quan trọng là mối quan hệ giữa chúng với nhau.

            Hay nói cách khác, quan hệ giữa HS với nhau như là "kênh" để qua đó HS tiếp thu các giá trị VHCN bằng cơ chế "nhiễm" hay "bắt chước"; "thực hành" hay "trải nghiệm" những giá trị, niềm tin, các chuẩn mực đang tồn tại trong nhóm. Bên cạnh đó, thông qua quan hệ, HS còn là người chuyển tải những giá trị, chuẩn mực mới ... góp phần làm phong phú đời sống văn hóa của nhà trường [3].

Bên cạnh đó,  nghiên cứu còn cho thấy thời gian GV dành cho tổ chức và quản lí lớp học với những qui định thống nhất ngay từ đầu năm học và được thực hiện ổn định là một biện pháp tạo ra môi trường lớp học tích cực, có hiệu quả trong việc giáo dục HS. Ngoài ra, ở những lớp học, GV luôn tạo ra sự công bằng, một tập thể lớp tôn trọng lẫn nhau thì lớp học đó cũng có ít vấn đề về hành vi và chất lượng học tập được nâng cao [9].

 2.2. Đội ngũ giáo viên, nhân viên nhà trường

Đây là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình giáo dục nói chung đã được nhiều nhà nghiên cứu và thực tiễn chỉ ra. Hiệu quả của quá trình xây dựng VNCN trong nhà trường phụ thuộc nhiều vào tính chất của mối quan hệ giữa GV và HS, vào nhân cách người GV. Các nghiên cứu về Tâm lí học đã chỉ ra rằng quan hệ GV - HS tạo nên cái nền cảm xúc, nó có thể làm tăng hay giảm sự căng thẳng tâm lí của HS. Những tâm trạng, cảm xúc mà HS thể nghiệm trong quan hệ với GV có ảnh hưởng mạnh mẽ đến kết quả giáo dục. Mối quan hệ đó hoặc là hình thành nên những xu hướng đúng đắn, chân chính của nhân cách HS, hoặc gây khó khăn cho quá trình GD, làm trở ngại cho việc đạt tới mục đích giáo dục. Chính vì vậy, M. Balson khi nghiên cứu về hành vi của những HS “khó bảo” đã cho rằng điều quan trọng trước tiên mà GV cần làm là phải thay đổi chính mối quan hệ của mình với những HS đó trên cơ sở của sự tôn trọng và bình đẳng. Ông viết: “Sẽ không có gì đạt được hiệu quả nếu GV không thay đổi quan hệ với HS” [2].

             Quá trình xây dựng VHCN trong nhà trường cũng không nằm ngoài qui luật trên. GV bằng mỗi lời nói, bằng mỗi hành vi của mình, đặc biệt là bằng thái độ của mình với mọi người, với HS để giáo dục các em. Muốn dạy các em các giá trị như tôn trọng tri thức, tôn trọng người khác, tôn trọng kỉ cương, sống có kỉ luật, công bằng, thân thiện và hợp tác…  thì trước tiên GV phải là tấm gương về sự tôn trọng người khác, trong đó có tôn trọng HS, là tấm gương về tinh thần trách nhiệm, sống có kỉ luật, đam mê khoa học, luôn tự học hỏi để nâng cao trình độ, sự hiểu biết … để các em noi theo. Mối quan hệ giữa GV và HS phải được xây dựng trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng và tin tưởng lẫn nhau.

            Ngoài ra, mối quan hệ giữa GV-GV, giữa GV với ban giám hiệu và với các nhân viên khác trong nhà trường cũng có ảnh hưởng nhiều đến giáo dục các giá trị VHCN ở HS. Sự tôn trọng, quan tâm, chia sẻ lẫn nhau cũng như sự hợp tác, công bằng, dân chủ trong ứng xử giữa họ có tác động đáng kể đến HS.  Vì vậy điều quan trọng ở đây là những người lớn ở trong trường cần phải thực hành những gì mà họ khuyên răn, giảng dạy cho HS.

 

2.3. Phương pháp dạy và học trong nhà trường

Phương pháp dạy và học trong nhà trường hiện nay có ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức, tác phong, hành vi của HS. Nhiều chuyên gia về văn hóa và giáo dục trăn trở về vấn đề đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập trong nhà trường phổ thông. “Một trong những điểm yếu hiện nay là phương pháp dạy học (PPDH) vẫn còn lạc hậu, nặng về truyền thụ một chiều, thầy đọc, trò ghi, ít phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh. PPDH theo lối truyền thống đó đã làm HS ngày nay thiếu sự tìm tòi sáng tạo” – đó là nhận định của Thứ trưởng Bộ Giáo dục – Đào tạo tại hội thảo về đổi mới PPDH. Chính điều này đã dẫn đến những hạn chế ở HS là thụ động, thiếu linh hoạt, học vẹt, tác phong chậm chạp, ỷ lại… Đây là những khía cạnh tiêu cực, cản trở việc giáo dục các giá trị VHCN cho HS.

            Nghiên cứu kinh nghiệm giáo dục của các nước cho thấy, chính PPDH là yếu tố tác động mạnh đến việc giáo dục các giá trị VNCN cho HS. Ví dụ, ở Mỹ để phát triển tư duy sáng tạo – giá trị VNCN quan trọng cần hình thành cho HS Mỹ ngay từ lứa tuổi tiểu học, trong giờ dạy, GV sử dụng các PPDH tích cực, phát huy tối đa vai trò tự chủ của HS như GV có thể chỉ nêu chủ đề để các em tự do tưởng tượng và sáng tạo rồi kể những câu chuyện của chính mình cho cô và các bạn cùng nghe. Ví dụ có những câu hỏi cho học sinh lớp 2 như sau: “Nếu em là hiệu trưởng thì em sẽ làm gì hôm thứ hai?” hay “Em thức dậy buổi sáng thấy mình bé như cái kẹo thì em sẽ thế nào?”. Câu chuyện đọc lên, các câu hỏi được đặt ra, cô giáo không phải nói nhiều, dành hầu như toàn quyền tự học cho học sinh, chúng tự tranh cãi và tự cho điểm. Cả lớp ngồi xung quanh một cái bàn tròn và tha hồ được tranh luận. Hoặc, hệ thống giáo dục Singapore đề cao việc phát triển phẩm chất tích cực của con người trong xã hội công nghiệp. Bộ Giáo dục Singapore đưa ra chính sách “Giáo dục tích cực”, khuyến khích giáo viên xây dựng các chiến lược giảng dạy hiệu quả để kích thích tinh thần học tập của HS ngay từ khi các em mới bước chân vào trường học. Ngoài ra, Singapore còn khuyến khích sử dụng mô hình “Dạy ít, học nhiều” [6].

            Ví dụ khác là giáo dục của Thái Lan: Để giáo dục các giá trị của xã hội Thái Lan được bắt đầu bằng hai giá trị cao nhất là sự kính yêu nhà vua, tôn sùng đạo và các giá trị khác như siêng năng, tinh thần trách nhiệm, tiết kiệm, tuân thủ pháp luật, yêu nước…, giáo dục Thái Lan chú trọng sử dụng các phương tiện kỹ thuật, nhất là phương tiện nghe nhìn và các tình huống ứng dụng có sử dụng các phương pháp như trò chơi, kể chuyện, đóng kịch….

Nói tóm lại, giáo dục văn hóa nói chung và văn hóa công nghiệp cho HS là quá trình lâu dài, khó khăn, chịu sự tác động của nhiều yếu tố. Chính vì vậy để việc GD các giá trị VHCN cho HS trong nhà trường thành công, cần có sự tác động đồng bộ đến toàn bộ đời sống nhà trường từ nội dung chương trình đến phương pháp giảng dạy, từ môi trường vật chất đến môi trường tâm lí – xã hội, các mối quan hệ tương tác giữa GV với GV, GV với HS, giữa HS với nhau, GV với Ban giám hiệu nhà trường.

 

Tài liệu tham khảo

1.     Angela Miller, Kathryn Cunningham, Classroom environment, 18/4/2011 , www.education.com, 8/7/2013

2.     Nguyễn Thị Kim Dung (2002), Biện pháp xây dựng quan hệ nhân ái giữa HS trong tập thể lớp ở trường THCS, Luận án tiến sĩ

3.      Dorman, J.P (2001), Associations between classroom environment and academic efficacy, Learning Environment research, 4, 243-257

4.      Phạm Minh Hạc (Chủ biên)(1998). Văn hóa và giáo dục. Giáo dục và văn hóa. NXB Giáo dục. Hà Nội.

5.     Lickona, T. (1991). Educating for character: How our schools can teach respect and responsibility. New York: Bantam

6.      Thanh Trà – Huyền Trang (2009), Singapore cải cách giáo dục theo hướng dạy ít, học nhiều!, http://tuanvietnam.net/2009-09-18-singapore-cai-cach-giao-duc-theo-huong-day-it-hoc-nhieu-p-1-

7.     Vũ Thị Sơn (2004), Về môi trường học tập trong lớp, Tạp chí Giáo dục, số chuyên đề 102, quí IV, 2004, tr. 14- 15

8.     Phạm Hồng Quang (2006), Môi trường giáo dục, NXB Giáo dục, Hà Nội,

9.     Robert J.Marzano, Debra J.Pickering (Người dịch: Phạm Trần Long), Quản lí lớp học hiệu quả; NXB Giáo dục, 2011

Publish: 4/15/2015 - Views: 3272 - Lastest update: 4/15/2015 10:07:32 AM
Tin cùng chuyên mục