Email: email@ioer.edu.vn | vncsp@hnue.edu.vn
Bàn tròn giáo dục

VẤN ĐỀ NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CỦA GIÁO VIÊN TRONG CÁC BÀI KIỂM TRA TỪ GÓC NHÌN THỰC TIỄN Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

TS Phạm Thị Kim Anh

                                   Viện NCSP-Trường ĐHSP Hà Nội

                             

Tóm tắt nội dung

Việc nhận xét, đánh giá HS của GV trong các bài kiểm tra  có vai trò, ý nghĩa rất quan trọng, giúp HS thấy được điểm mạnh, điểm yếu cũng như những sai sót cần khắc phục. Tuy  nhiên, thực tiễn cho thấy rằng, việc nhận xét HS trong các bài kiểm tra/thi của GV đang có những dấu hiệu rất tùy tiện, thiếu mô phạm. Nhiều lời nhận xét của GV mang tính hài hước, gây cười. Từ việc phân tích và đưa ra  một số ví dụ điển hình của việc ghi nhận xét trong các bài kiểm tra HS, bài báo  đưa ra những yêu cầu cơ bản để giúp GV có được những kỹ năng cần thiết trong khi nhận xét, đánh giá HS.

I.ĐẶT VẤN ĐỀ

Việc nhận xét, đánh giá HS trong quá trình dạy học nói chung, trong các bài kiểm tra nói riêng có vai trò, ý nghĩa rất quan trọng, giúp HS thấy được điểm mạnh, điểm yếu cũng như những sai sót cần khắc phục. Tác động của nó vừa có ý nghĩa tích cực thúc đẩy sự tiến bộ của HS qua những lời khen ngợi nhưng lại vừa có tác động tiêu cực nếu làm cho HS sợ hãi, tự ti, xấu hổ hoặc bị tổn thương bởi  những lời nhận xét, phê bình quá nặng nề của GV. Thực tiễn ở trường phổ thông từ bậc tiểu học cho đến trung học nhiều năm qua cho thấy rằng, việc nhận xét HS trong quá trình dạy học hay bằng lời phê trong các bài kiểm tra/thi của HS có rất nhiều điều đáng quan tâm bởi sự tùy tiện, thiếu mô phạm của GV. Nhiều lời nhận xét của GV mang tính hài hước, gây cười mà cư dân mạng cho là “Bá đạo”. Trong báo cáo này, chúng tôi xin nêu  ra một số ví dụ điển hình của việc ghi nhận xét trong các bài kiểm tra HS, từ đó đưa ra những yêu cầu cơ bản giúp GV có được những kỹ năng cần thiết trong khi nhận xét, đánh giá HS.

II.NỘI DUNG

1.      Thấy gì từ cách ghi nhận xét của GV qua một số ví dụ điển hình?

     a).Ở bậc tiểu học

  Bên cạnh những lời phê, lời nhận xét mang tính góp ý, sửa lỗi và động viên, khích lệ HS, còn có rất nhiều lời phê của GV chỉ như một lời khuyên hoặc yêu cầu HS, VD khi cho HS làm bài tập đặt câu với từ “Liên tiếp”, HS đó viết:  “Một đoàn tàu lửa chạy qua, cứ liên tiếp liên tiếp liên tiếp liên tiếp liên tiếp liên tiếp liên tiếp liên tiếp chạy.”. GV nhận xét:  "Làm ơn dừng lại dùm Thầy nào!" mà không chỉ cho HS thấy cái sai, cái chưa được trong câu.

            Hoặc khi  HS đặt câu với từ “giàu có”, có em viết: “Giàu có là phải khoe”. GV ghi nhận xét: “Đừng thế, đừng làm giống trong phim truyền hình nhé.”

            Có những lời nhận xét của GV chỉ mang ý nghĩa như một câu hỏi. Điển hình như  VD dưới đây:

            -Trong một bài kiểm tra yêu cầu HS đặt câu với từ “Vừa”. Có HS viết: “Mẹ con vừa béo vừa gầy lại vừa cao vừa lùn.”

            -Giáo viên nhận xét: "Mẹ con bị biến dạng rồi sao!?"

            Có những lời nhận xét của thầy giáo mang tính hài hước xen lẫn cảm xúc nhưng không chỉ rõ cái sai của chúng mà chỉ gợi cho HS phải suy ngẫm. Đề bài ra là: “Viết nhật kí của em trong một ngày”. Có HS viết “Ngày 30 tháng 2 – Thứ 2 – Trời nắng. Hôm nay cả ngày, con không thấy mặt trời đâu, thiệt là chán. Ba con có mua về hai con cá vàng, bỏ trong vại nước nhưng bị chết đuối một con. Con đau lòng lắm”.  Bài kiểm tra này được nhận xét như sau: “Thầy cũng đau lòng quá, có lẽ thầy đã quá già nên không biết tháng 2 có 30 ngày, trời nắng không cần đến mặt trời và cá có thể chết đuối.!”.

            Lại có  những  nhận xét kèm theo cả lời hứa của cô giáo. Điển hình là trong bài kiểm tra với yêu cầu miêu tả cô giáo của mình, một học sinh  đã viết: “Cô của em tên là Cẩm. Sở thích của Cô là dạy Học trò nghiêm túc. Cô thích nhất món thịt bò khô- thịt bò nướng và Cô thích thời trang. Con không thích cái kiểu Cô bắt con ở lại. Chán quá!”. Bài viết này đã được  cô giáo nhận xét: “Cô đồng ý với đoạn văn của con. Nhưng con viết đúng chính tả, chữ sạch đẹp, viết nhanh thì cô sẽ không bắt con nữa. Cô hứa!". Điều đáng chú ý trong nhận xét này chính là những lời hứa của cô.

 

            Chưa xét tới tính mô phạm và chuẩn mực của những lời nhận xét trên đây, nếu chỉ đứng ở góc độ tâm lý lứa tuổi thì ở một khía cạnh nào đó những lời nhận xét của thầy cô  gần gũi, thân thiện với HS nhỏ tuổi, không xúc phạm hoặc làm tổn thương trẻ em và gây được tiếng cười bởi sự hài hước, dí dỏm. Tuy nhiên, với HS tiểu học rất cần những nhận xét mang tính chỉ dẫn cụ thể giúp HS sửa chữa những  sai sót cả về kiến thức, kỹ năng và thái độ.

b) Ở bậc trung học

 Khác với bậc tiểu học, nhiều bài kiểm tra ghi phần nhận xét của thầy cô mang tính chỉ trích, phê phán, mỉa mai nhiều hơn là góp ý sửa sai một cách cụ thể. Một số bài kiểm tra dưới đây thể hiện rõ điều này:

 

       

   

 

 


Nặng nề hơn, một số thày cô phê lời nhận xét rất phũ phàng, khiến HS bị tổn thương một cách nghiêm trọng:

 

Trái lại với cách nhận xét phũ phàng, có một số GV ghi lời nhận xét khá hài hước. Vẫn thể hiện sự thẳng thắn, nghiêm khắc nhưng HS thấy vui vẻ và không bị nặng nề. Điển hình là lời nhận xét của một GV khi HS xin cô chấm nhẹ tay:

 


      

Điều đáng quan tâm là có những nhận xét, đánh giá không đi vào chi tiết nội dung bài kiểm tra đã đạt được điều gì, còn hạn chế ở chỗ nào và điều gì cần khắc phục mà chỉ nghiêng về  đánh giá phẩm chất, thái độ  HS đó bằng cách so sánh với vài HS khác. Với cách nhận xét, đánh giá như thế đã không đạt tới yêu cầu của việc nhận xét nội dung bài kiểm tra.

 

            Có những bài kiểm tra đạt điểm tối đa về kiến thức, nhưng vì viết chữ xấu nên GV nhận xét bằng một câu rất ẩn ý (nói kháy): “Nên mở cửa hàng thư pháp vào mùa xuân!”

           

Đặc biệt, có những lời phê của GV còn cẩu thả, sai lỗi chính tả hơn cả HS. Điển hình là  lời phê ở bài kiểm tra của em học sinh lớp 7 nhập vai Cám kể chuyện Tấm Cám với nội dung: “ - Chữ nghĩa cẩu thả; - K biết cách làm bài NLXH; -NV cám của em đáng sợ quá !”.

 

Ngay ở dòng thứ nhất của lời phê đã xuất hiện mâu thuẫn: cô đánh giá HS chữ nghĩa cẩu thả nhưng chính cô lại viết tắt bừa bãi, không theo nguyên tắc nào (K, NV, NLXH) Tệ hại hơn nữa, cô còn không viết hoa tên riêng của nhân vật (Cám). Lỗi chính tả này nếu học sinh mắc phải cũng không thể chấp nhận, huống gì người mắc lỗi lại là cô giáo....

Còn có rất nhiều ví dụ khác trong cách ghi lời nhận xét của GV trong các bài kiểm tra mà trong khuôn khổ bài báo này không thể  phản ánh hết được. Chúng tôi chỉ đưa ra vài VD điển hình để thấy rằng việc nhận xét, đánh giá của GV hiện nay còn khá nhiều điều đáng bàn, nhất là về mặt sư phạm của những lời nhận xét.

2.Những yêu cầu đặt ra đối với giáo viên trong việc  nhận xét, đánh giá HS

            Mỗi lời nhận xét, đánh giá của GV như  là việc đặt vết tích của thày cô vào sự phát triển của HS. Lời nhận xét tốt có khả năng tác động đến tâm hồn, tình cảm, ý chí và động lực học tập của HS rất mạnh mẽ. Lời nhận xét, đánh giá không tốt, thiếu chuẩn mực sư phạm sẽ để lại trong tâm trí HS những tổn thương vô cùng tệ hại. Vì vậy khi nhận xét, đánh giá HS cần rất thận trọng và phải nắm vững những yêu cầu về mặt sư phạm. Gần đây khi thực hiện Thông tư 30 về đánh giá HS tiểu học bằng nhận xét đã đưa ra những yêu cầu chung về cách ghi nhận xét. Tuy nhiên vẫn là chưa đủ đối với GV khi phải thực hiện công việc này và rất nhiều GV còn lúng túng, thiếu kỹ năng cơ bản để nhận xét bằng lời hay ghi trên bài kiểm tra của HS. Để giúp GV có được những kỹ năng cần thiết khi nhận xét, đánh giá, chúng tôi xin đưa ra một số yêu cầu sau:

            + Nhận xét phải cụ thể, chính xác, chỉ rõ những sai sót, khiếm khuyết, hạn chế về mặt kiến thức, kỹ năng và đưa ra biện pháp, hướng khắc phục cho HS ở trong từng bài, từng trường hợp cụ thể để giúp HS sửa lỗi; tránh nhận xét một cách chung chung như: có tiến bộ, cần cố gắng phát huy, tương đối tốt, tạm được hoặc bài làm quá kém, quá tệ hại, lạc đề, không chịu học bài…vv..

+ Cho điểm kém cùng những lời nhận xét có tính chê bai, trách móc, phê phán, chỉ trích… sẽ làm tổn thương và thui chột sự tự tin của HS. Hãy cố gắng phát hiện những điểm mạnh và khơi dậy, khích lệ sự tiến bộ trong mỗi em học sinh. Điều đó sẽ giúp HS đạt tới nhiều đỉnh cao trong học tập.

+ Thẳng thắn chỉ ra những lỗi sai sót, yếu kém, sai lầm của HS, nhưng không quá nặng nề một cách phũ phàng và phải nhìn thấy những ưu điểm ẩn sâu trong mỗi em và hãy giúp các em nhận ra, phát triển chúng thêm.

+Nếu phải cân nhắc  giữa lời chê và khen học sinh thì GV hãy chọn những từ phù hợp, nhẹ nhàng . Cần chắp cho đứa trẻ đôi cánh, hãy tin ở HS và cho các em hy vọng. Tuy nhiên không nên lạm dụng quá nhiều lời khen hoặc khen một cách quá mức: “em quá tuyệt vời”; “không có gì tuyệt vời hơn như em”; “Em quá xuất sắc” …   Những lời khen quá mức sẽ tạo ra những  HS quá tự tin và không giúp HS nhận thức đúng khả năng của mình.

+ Hài hước, dí dỏm trong các lời nhận xét HS là điều cần và có ý nghĩa trong dạy học đối với mỗi thày cô giáo, nhưng nên tránh dùng những từ gây cười quá mức, ví như: “xem lại ý thức học ngay nếu muốn làm con rể của cô”…

+ Tránh so sánh giữa HS này với HS khác hoặc dùng các từ ngữ mang ẩn ý (nói kháy, nói bóng gió xa xôi…) và không dùng những từ “Mong em thông cảm” ; “cô hứa” trong lời nhận xét

+ Tuyệt đối tránh những lời nhận xét cụt lủn, lạnh lùng như: Tạm được, bình thường, ...

+ Mọi lời nhận xét, đánh giá đều dựa trên quan điểm vì sự tiến bộ của HS.  

III.KẾT LUẬN

            Việc nhận xét, đánh giá của GV bằng lời hay trong các bài kiểm tra có tác động nhiều mặt đến động cơ, thái độ, kết quả học tập của HS. Nó không chỉ thể hiện quan điểm, thái độ nhìn nhận của GV đối với HS mà còn thể hiện rõ trách nhiệm, lương tâm và tình cảm của người thày đối với trò. Mỗi lời nhận xét của GV là vết tích ghi dấu ấn rất sâu đậm trong ký ức học trò. Người GV có truyền được động lực và ham muốn học tập cho HS hay không là chính bởi những nhận xét mang tính nâng đỡ, dìu dắt của GV. Tuy nhiên, trong thực tế có quá nhiều nhận xét, đánh giá của GV quá cay nghiệt, phũ phàng, thiếu tính sư phạm. Những ví dụ minh họa trên đây không còn là câu chuyện nhỏ của việc dạy và học trong nhà trường  mà thực sự đã trở thành vấn đề được dư luận quan tâm. Điều này đặt ra cho ngành giáo dục cũng như các trường Đại học sư phạm phải xem xét lại vấn đề đào tạo và bồi dưỡng GV về lĩnh vực kiểm tra, đánh giá trong giáo dục. Để nâng cao nhận thức và kỹ năng nhận xét, đánh giá cho GV, trước mắt trong chương trình bồi dưỡng thường xuyên cần chú trọng tới bồi dưỡng cho GV những kỹ năng này. Khi đổi mới chương trình đào tạo GV, các trường sư phạm cần bổ sung kỹ năng nhận xét, đánh giá trong học phần về kiểm tra, đánh giá và tăng cường rèn luyện cho SV những kỹ năng cần thiết. Chỉ có như thế việc đánh giá, nhận xét của GV mới đảm bảo sự chuẩn mực sư phạm và vì sự tiến bộ của HS.

(Bài viết tham dự Hội thảo Quốc tế tại Đại học Tân Trào, 22/5/2015)

Tài liệu tham khảo  

1.      Thông tư quy định đánh giá học sinh tiểu học số 30/2014/TT-BGDĐT.

2.      Chết cười những màn đối đáp "bá đạo" giữa thầy và trò trong bài thi. http://www.yan.vn

3.      Phan Thị Thanh Vân: Lời phê và chấm điểm bài làm văn ở trường phổ thụng-Thực trạng và một số đề xuất. Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia về dạy học ngữ văn ở trường phổ thông Việt Nam, Huế, tháng 1/2013.


Publish: 5/19/2015 - Views: 12621 - Lastest update: 5/19/2015 10:29:38 AM
Tin cùng chuyên mục