Email: email@ioer.edu.vn | vncsp@hnue.edu.vn
Bàn tròn giáo dục

TÂM LÝ HỌC AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG

 PGS.TS Đào Thị Oanh        

                                                    Viện Nghiên cứu Sư phạm, Đại học Sư phạm Hà Nội

 

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

      Ngày 18 tháng 10 năm 2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 233/2006/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Quốc gia về bảo hộ lao động, an toàn vệ sinh lao động với mục tiêu tổng quát là: Chăm lo cải thiện điều kiện làm việc, giảm ô nhiễm môi trường lao động; Ngăn chặn tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, chăm sóc sức khoẻ người lao động; Nâng cao nhận thức và sự tuân thủ pháp luật về bảo hộ lao động, bảo đảm an toàn tính mạng và hạnh phúc cho người lao động, tài sản của Nhà nước, của công dân, góp phần vào sự phát triển bền vững của quốc gia.

Bộ luật Lao động của nước ta có quy định về quyền của người lao động, trong đó có quyền được làm việc trong điều kiện đảm bảo về an toàn lao động, vệ sinh lao động. Hàng năm từ ngày 16 đến ngày 23 tháng 3, Nhà Nước có tổ chức Tuần lễ Quốc gia An toàn - Vệ sinh lao động và cho đến nay hoạt động này đó là lần thứ 17. Việc hiện thực hóa những quyền lợi nêu trên của người lao động đòi hỏi sự vào cuộc của nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau, trong đó có Tâm lí học, mà cụ thể là Tâm lí học An toàn lao động.

2. TÂM LÍ HỌC AN TOÀN LAO ĐỘNG NGHIÊN CỨU CÁI GÌ?

     Việc khai thác kỹ thuật và công nghệ ở những nước phát triển trong những năm 60-70 của thế kỷ XX đã kéo theo sự tăng lên một cách đột ngột và thường xuyên số lượng các chấn thương trong sản xuất. Trong nhiều lĩnh vực sản xuất, trước hết là trong lĩnh vực năng lượng, vận tải, đặc biệt vận tải hàng không, số lượng các sự cố rất nhiều, còn cái giá phải trả cho các sự cố đó thì thường xuyên tăng lên. Việc thừa nhận ý nghĩa của yếu tố người trong hệ thống “Người – Máy – Môi trường” đã dẫn đến việc hình thành những phương pháp tiếp cận mới trong thiết kế và khai thác kỹ thuật. Những bộ môn khoa học mới về lao động mang tính tích hợp cao đã ra đời như: Tâm lý học Lao động, Ecgônômi, Tâm lý học An toàn lao động...

Tâm lý học an toàn lao động là một phân ngành của Tâm lý học và là một lĩnh vực của Ecgônômi. Nhiệm vụ của nó là nghiên cứu các nguyên nhân tâm lý, tâm-sinh lý, tâm lý-xã hội của các trường hợp tai nạn trong sản xuất, xảy ra ở các loại hình lao động và các hoạt động nghề nghiệp khác nhau, đồng thời nghiên cứu tìm kiếm những con đường khác nhau nhằm nâng cao an toàn lao động. Các vấn đề nghiên cứu của Tâm lý học An toàn lao động rất phong phú và đa dạng. Đó là các quá trình tâm lý, các trạng thái tâm lý, các đặc điểm tâm lý của con người với tư cách là chủ thể của quá trình lao động, có liên quan hoặc đi kèm với hoạt động lao động, có ảnh hưởng đến an toàn lao động. Tâm lý học An toàn lao động tham gia giải quyết trực tiếp các nhiệm vụ nhằm tối ưu hóa hoạt động lao động, thiết kế kỹ thuật an toàn hơn, hoàn thiện các điều kiện lao động và các phương tiện bảo hộ lao động để nâng cao an toàn lao động bằng cách đưa các yếu tố tâm lý vào trong quá trình sản xuất.

3. MỘT SỐ YẾU TỐ TÂM-SINH LÝ CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN AN TOÀN VÀ NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG    

Trong một hệ thống sản xuất, mặc dù con người được xem là một tiểu hệ thống khép kín (có khả năng tự điều chỉnh), song về bản chất đó vẫn là một hệ thống mở với nhiều đầu vào và nhiều đầu ra. Điều này làm cho yếu tố người mang tính chất của một nguồn tin cậy hay không tin cậy trong toàn bộ hệ thống. Trong bất cứ một kiểu hệ thống sản xuất nào (chân tay, cơ giới hoá, bán tự động, tự động hoá), con người luôn luôn thực hiện những chức năng thao tác khác nhau bằng những khả năng của mình. Tính chất của một hệ thống mở cho phép con người có thể thoát ra khỏi những tình huống khó khăn. Nhưng các khả năng của con người không phải là không có giới hạn. Các nghiên cứu về thành tích hoạt động cho thấy: Con người không bao giờ luôn luôn làm việc theo một nhịp độ đều đặn như nhau ở mọi thời điểm. Ngay cả một người công nhân lành nghề, giàu kinh nghiệm thì tại một thời điểm nhất định nào đó, nhịp độ làm việc của người đó cũng có thể dao động từ 10% đến 30% so với nhịp độ trung bình. Tuy con người có thể bao quát một phổ khá rộng các kích thước vật lý, nhưng khả năng phân biệt tín hiệu của con người còn hạn chế và nằm trong khoảng 7 ± 2 tín hiệu. Chúng ta cũng biết rằng, ở những thời kì lịch sử khác nhau, khả năng của con người có khác nhau. Nhưng, dù tiến bộ đến thế nào đi nữa thì thành tích của con người vẫn nằm trong chính thứ tự một giá trị độ lớn. Chẳng hạn, từ rất lâu rồi, tốc độ chạy bộ vẫn nằm ở giá trị đo là m/s. Rõ ràng là, về bản chất, con người có một mức độ tự do nào đó mà trong những điều kiện bình thường cần được lưu ý.

     Như vậy, thành tích lao động và sự an toàn lao động chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: Tính chất của bản thân hoạt động lao động ( đơn điệu, nguy hiểm... ); Điều kiện lao động (máy móc, môi trường vật lý, môi trường xã hội của lao động); Các đặc điểm tâm lý, tâm-sinh lý, tâm lý - xã hội của bản thân người lao động (Trình độ các kỹ năng/kỹ xảo lao động, khả năng tư duy, tri giác, trí nhớ, sự tập trung/di chuyển/phân phối chú ý, vận động, tình trạng sức khoẻ, sức làm việc, động cơ/hứng thú/sự thoả mãn lao động...).

     Bắt đầu từ những năm 30 của thế kỷ trước, rất nhiều công trình nghiên cứu (nước ngoài) đã khẳng định chắc chắn mối liên hệ giữa các đặc điểm tâm – sinh lý của cá nhân với tình trạng chấn thương. Đó là: Tình trạng sức khoẻ kém, cảm giác vận động kém; Khả năng chú ý (phân phối, tập trung, di chuyển) kém; Tính dễ bị kích động; Tự tin quá mức đến chủ quan; Thiếu nhạy cảm trong quan hệ với người khác; Thái độ thiếu tích cực đối với công việc lao động; Không hài lòng với không khí tâm lý của tập thể lao động nơi cá nhân đang làm việc...

     Một số nghiên cứu cũng tìm ra những đặc điểm xã hội có liên quan trực tiếp đến tần suất các trường hợp bất hạnh trong lĩnh vực giao thông đường sắt. Đó là: Thiếu sự giám sát lẫn nhau giữa các công nhân do quá tin tưởng nhau vì đã làm việc lâu năm cùng với nhau; Sự ảnh hưởng hành vi của một thành viên trong đội tàu tới những thành viên khác; Nhận được các mệnh lệnh khác nhau cùng một lúc...

     Như trên đã nói, khả năng của con người là có giới hạn và có thể thấy rõ điều này khi xem xét khái niệm “Sức làm việc”.

     Sức làm việc là một khái niệm sinh lý học, nói lên khả năng làm việc dẻo dai, lâu bền, không biết mệt mỏi sớm. Sức làm việc của con người phụ thuộc vào nhiều nhân tố: bên ngoài (những yêu cầu của sản xuất: Tính chất của các động tác/sự phức tạp của chúng, độ chính xác, cường độ...; Những điều kiện của môi trường sản xuất, như điều kiện vệ sinh, không khí tâm lý; Trình độ chuyên môn của công nhân; Tuổi tác...) và bên trong (tính chất phản ứng của công nhân, tình trạng của hệ thống chức năng, trạng thái thần kinh – tâm lý, trạng thái mệt mỏi...). Thông thường, người ta lấy năng suất lao động làm chỉ số của sức làm việc.

     Trong một ngày lao động (hay một ca sản xuất), sức làm việc có những biến đổi xác định, mang tính quy luật, không phụ thuộc vào công việc hay môi trường lao động. Sự biến đổi đó được thể hiện dưới dạng một đồ thị, được gọi là “Đường cong của sức làm việc”. Đồ thì này có ý nghĩa to lớn đối với thực tiễn lao động sản xuất của con người.


Trong trường hợp điển hình, với nhịp độ tối ưu của hoạt động sản xuất, sức làm việc được biến đổi theo một đường cong hai pha: Tăng ở lúc đầu và giảm ở cuối ca sản xuất. Trong một nửa ngày làm việc có ba giai đoạn rõ rệt là: Giai đoạn “đi vào công việc” (a); Giai đoạn “sức làm việc tối đa” hay “sức làm việc ổn định” (b); Giai đoạn “sức làm việc giảm sút” hay “ sự mệt mỏi phát triển” (c).

     Tuỳ theo loại hình lao động và các điều kiện lao động cụ thể mà thời gian diễn ra từng giai đoạn có thể dao động từ vài phút đến hàng giờ.

     Ở nửa sau của ngày làm việc, ba giai đoạn trên lặp lại kế tiếp nhau song có sự khác biệt, thể hiện ở chỗ: Giai đoạn 1 ngắn hơn; Giai đoạn 2 cũng ngắn hơn, tuy nhiên sức làm việc tối đa thấp hơn; Giai đoạn 3 sự mệt mỏi xảy ra sớm hơn. Trong một số trường hợp, có sự nâng cao sức làm việc ở cuối ngày (d). Đó là do tác động của cảm xúc khi người lao động nhìn thấy trước sự kết thúc ngày làm việc (xem hình 1). Nhìn chung, các nghiên cứu cho thấy, sức làm việc của nửa ngày đầu cao hơn nửa ngày sau khoảng 30%.

     Cần nói thêm rằng, đường cong điển hình của sức làm việc không chỉ thể hiện sự biến đổi của sức làm việc trong một ngày làm việc, mà cả trong một tuần làm việc, một tháng làm việc, một năm làm việc. Nó không giống với khái niệm “nhịp sinh học”.

     Như trên đã nói, đồ thị có ý nghĩa thực tiễn to lớn vì căn cứ vào đó có thể tổ chức các giờ giải  lao một cách hợp lý, khoa học trong một ca sản xuất nhằm tránh sự mệt mỏi đến sớm, góp phần đảm bảo an toàn lao động cho người lao động. Bởi vì nhiều nghiên cứu (ở Anh, Mỹ,...) cho thấy tỷ lệ các trường hợp bất hạnh trong sản xuất tăng lên khi độ mệt mỏi tăng và hạ thấp rõ rệt khi công nhân được nghỉ ngơi. Ở cuối nửa ca đầu và cuối nửa ca sau, tỷ lệ đó chiếm những “đỉnh” cực cao, bởi đó là những lúc người công nhân mệt mỏi nhất. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, sự mệt mỏi thúc đẩy việc nảy sinh trường hợp bất hạnh chứ không gây ra sự bất hạnh. Đó là một nhân tố có tính chất tạm thời, theo nghĩa, nó là một hiện tượng khách quan không thể tránh khỏi vì có lao động là có mệt mỏi, nhưng không phải ai mệt mỏi cũng gây tai nạn, vì thế có thể khắc phục bằng cách xây dựng chế độ làm việc và nghỉ ngơi hợp lý. Ngày nay, khi nghiên cứu về nguyên nhân gây ra các trường hợp tai nạn trong sản xuất, các công trình càng chú ý nhiều hơn tới vai trò của các trạng thái tâm lý, tâm trạng người lao động, thái độ của họ đối với lao động. Các nghiên cứu cũng cho thấy nguyên nhân chủ yếu là do người lao động chưa tuân thủ nghiêm ngặt các quy định an toàn lao động, chưa tự giác chấp hành quy trình quy phạm vận hành máy móc, khai thác thiết bị một cách an toàn. Bên cạnh đó, các nhà quản lý lao động chưa quan tâm đúng mức đến việc cải thiện điều kiện làm việc vệ sinh hơn, an toàn hơn cho người lao động, trong đó có an toàn về mặt tâm lý.

 4. LÀM THẾ NÀO ĐỂ NGĂN NGỪA CÁC TAI NẠN LAO ĐỘNG

 Bất cứ một cơ sở sản xuất nào cũng được xem là một hệ thống. Vì vậy vấn đề an toàn lao động cần được bao quát trong toàn bộ hệ thống bởi vì sự tác động qua lại giữa các thành tố sẽ làm cho bất cứ một thay đổi nào trong phạm vi của một thành tố cũng sẽ gây ra những thay đổi trong toàn bộ hệ thống.

     Vấn đề an toàn lao động đề cập tới nhiều khía cạnh khác nhau cho nên luôn đòi hỏi sự cộng tác của các nhà chuyên môn thuộc những lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên, như đã nói ở trên, yếu tố quan trọng nhất là người lao động, người tham gia một cách hữu hiệu, tích cực vào an toàn lao động và tự bảo vệ bản thân. Với mục đích hoàn thiện tình trạng an toàn cho hệ thống, hành động ngăn ngừa được thể hiện thông qua một loạt biện pháp có liên quan với nhau và hỗ trợ cho nhau. Từ góc độ tâm lí học, có thể vận dụng các yếu tố tâm lí vào xây dựng môi trường lao động trở nên hợp lí, thuận tiện, vệ sinh, gúp phần làm giảm thiểu các nguy cơ mất an toàn trong quá trình sản xuất, đồng thời làm tăng năng suất lao động (ánh sỏng, màu sắc trong cụng nghiệp,…).


     a/ Tuyên truyền giáo dục về an toàn lao động. Đây là một biện pháp ngăn ngừa nhằm hình thành cho người công nhân một hành vi phù hợp thông qua thái độ thực của họ để nâng cao hiệu quả và sự an toàn lao động. Thay đổi hành vi của con người là việc làm không dễ dàng, nhất là việc thay đổi các thói quen và kỹ xảo lao động, vì thế, nếu được quan tâm sớm (ví dụ, ngay trong giai đoạn đào tạo nghề) thì sẽ thuận lợi hơn nhiều.

     b/ Đào tạo nghề nghiệp. Để có thể góp phần làm thay đổi hành vi nhằm nâng cao an toàn lao động cho công nhân, việc đào tạo nghề cần phải được tiến hành có kế hoạch và phải được kiểm tra cẩn thận. Ở đây  không chỉ lưu ý hình thành tay nghề mà còn hình thành cả thái độ đối với nghề nghiệp. Để ngăn ngừa các tai nạn lao động có thể xảy ra, có một số điểm cần được lưu ý là:

     - Thống nhất các mã thông tin, thông báo.

     - Dạy thực hiện các thao tác phụ và các thao tác chính tốt như nhau (trên thực tế, các thao tác phụ dễ gây ra tai nạn. Ngoài ra, con người thường có khuynh hướng xem nhẹ sự nguy hiểm của tai nạn lao động).

     - “Học đón trước” giúp người lao động có khả năng đoán trước (nhìn thấy trước) các tình huống nguy hiểm để có thể giải quyết chúng nhanh chóng, hiệu quả và điều đó giúp nâng cao an toàn lao động.

     - Xây dựng các nhóm lao động dựa trên các đặc điểm về chuẩn mực của nhóm.

     - Hình thành thái độ trách nhiệm đối với an toàn lao động...

     c/ Tổ chức lao động sẽ giúp xác định được các điều kiện tối ưu để hệ thống vận hành tốt. Liên quan đến vấn đề này có nhiều công việc cụ thể như:

     - Hoàn thiện sự hợp tác giữa các đơn vị dịch vụ.

     - Hoàn thiện chương trình thông tin về an toàn lao động.

     - Bố trí các vị trí làm việc phù hợp.

     - Đối với những loại hình công việc trong đó các thao tác lao động mang tính đơn điệu cao cần tổ chức luân phiên công nhân làm việc ở những vị trí khác  nhau để tránh cảm giác nhàm chán (là cái làm cho mệt mỏi đến sớm) từ đó làm tăng năng suất lao động, tăng chất lượng sản phẩm và giảm tai nạn lao động.

     - Thay đổi nhịp độ của các động tác trong băng chuyền theo quy luật của sức làm việc. Sự thay đổi có điều chỉnh nhịp độ trong thời gian một ca sản xuất sẽ hạ thấp tính đơn điệu, do đó sẽ làm giảm sự mệt mỏi và giảm tai nạn lao động.

     - Xây dựng chế độ lao động và nghỉ ngơi hợp lý, khoa học, đặc biệt quan tâm các giờ giải lao ngắn của công nhân (nhằm đón trước sự mệt mỏi) và sử dụng thể dục sản xuất.

     - Sử dụng hợp lý, khoa học các phương pháp tác động thẩm mỹ khác nhau trong sản xuất, nhất là màu sắc và âm nhạc.

     - Xây dựng và sử dụng hệ thống thưởng – phạt hợp lý. Theo các nhà Tâm lý học An toàn lao động, việc khiển trách, áp dụng các hình phạt (ví dụ, đe doạ thu hồi hoặc thu hồi các khoản đã chi trả) đối với người lao động, trong nhiều trường hợp không giải quyết được vấn đề mà chỉ khiến họ giấu giếm việc họ đã phạm sai sót. Thay vì tra vấn họ hãy xem xét hoặc điều chỉnh lại các quy định, quy trình an toàn lao động.  

d/ Áp dụng các nguyên tắc của Ecgônômi (thiết kế hoặc sửa chữa) nhằm điều chỉnh một số khiếm khuyết hoặc thiết lập các nhiệm vụ an toàn lao động cho máy ngay trong giai đoạn thiết kế (lắp đặt các thiết bị an toàn, làm cho thiết bị phù hợp với các đặc điểm nhân trắc của người lao động); Hoàn thiện môi trường lao động; Hoàn thiện việc bảo dưỡng máy móc và nơi làm việc của người lao động. Các nguyên tắc của Ecgônômi phải luôn luôn lưu ý tới những khả năng cũng như giới hạn về mặt tâm - sinh lý của người lao động.


     Chẳng hạn, các nhà Tâm lý học thuộc hãng Hàng không Boeing đã sử dụng các kiến thức tâm lý học của mình tham gia vào việc thiết kế máy bay (thiết kế lắp đặt bảng điều khiển, thiết kế chỗ ngồi của phi công, thiết kế màn hình máy tính trong khoang lái, hoàn thiện các thông tin cảnh báo, chỉ báo...), xây dựng quy trình bảo dưỡng bảo trì máy bay (rất quan trọng), tuyển chọn nhân sự, xây dựng các quy tắc an toàn lao động... nhằm nâng cao hiệu quả và an toàn cho các chuyến bay thương mại. Một chương trình bảo dưỡng đã trở nên khá nổi tiếng trong ngành hàng không là Maintenance Error Decision Aid (viết tắt là MEDA) đã được xây dựng và ứng dụng từ những năm 90 của thế kỷ trước. Các nguyên tắc chính của MEDA là:

     - Yếu tố cơ học không có xu hướng tạo ra các sai sót.

     - Các sai sót là kết quả của các yếu tố như: Tài liệu hướng dẫn viết không rõ ràng, thiếu giao tiếp giữa các nhân viên khi họ giao ca, hoặc công nhân bị thiếu những công cụ lao động cần thiết.

     - Các nhà quản lý có thể xác định các nhân tố tạo ra sai sót (chẳng hạn, họ có thể mua các thiết bị hoặc làm rõ những chỉ dẫn về bảo dưỡng...).

     Nhìn chung, chương trình này nhấn mạnh đến những yếu tố tâm lý nằm sau các sai sót (quá trình giao tiếp bị gián đoạn, việc đào tạo không đúng...).

     e/ Hoàn thiện các mối quan hệ sản xuất nói riêng và các mối quan hệ người – người nói chung. Hoạt động lao động sản xuất công nghiệp đặt cá nhân vào một hệ thống các mối quan hệ phức tạp cả về phương diện kỹ thuật lẫn về phương diện xã hội. Cùng một lúc, lao động công nghiệp vừa đòi hỏi vừa giáo dục những khả năng kỹ thuật nghề nghiệp và khả năng phối hợp, khả năng thích nghi, sự trưởng thành xã hội cho cá nhân.        Lao động công nghiệp ngày nay yêu cầu và tạo ra những đặc điểm mới của nhân cách người lao động. Ngoài những thay đổi mà nó mang đến cho mối quan hệ trực tiếp Người - Máy, nền sản xuất hiện đại còn tác động đến cả quan hệ Người-Người trong mỗi hệ thống sản xuất. Vì vậy, các mối quan hệ sản xuất phải được thường xuyên hoàn thiện.

     f/ Hiểu, đánh giá đúng đắn, khoa học các yếu tố Tâm - sinh lý của người lao động có liên quan trực tiếp đến công việc mà họ đang đảm nhận. Công việc đánh giá cần phải được làm thường xuyên để kịp thời có những can thiệp phù hợp nhằm tránh tai nạn có thể xảy ra cho người lao động (phân công bố trí công việc khác phù hợp; điều chỉnh chế độ làm việc, nghỉ ngơi cho hợp lý...). Việc các nhà quản lí lao động và người sử dụng lao động nhận thức được tầm quan trọng của yếu tố người, quan tâm trước hết đến bản thân người lao động, hiểu các đặc điểm tâm – sinh lí của người lao động sẽ góp phần đáng kể vào nâng cao hiệu quả sản xuất, chất lượng sản phẩm, đảm bảo an toàn và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động.

     Tuy nhiên, khi đề cập đến vấn đề an toàn lao động không có nghĩa là chỉ nói đến lĩnh vực lao động sản xuất công nghiệp. Trong lĩnh vực văn phũng, vấn đề này cũng cần được quan tâm, nhất là hiện nay, công cụ lao động của các nhân viên văn phòng chủ yếu là các loại máy móc thiết bị điện tử. Ở đây cũng có những lời khuyên từ các nhà tâm lý học về vệ sinh an toàn lao động của viên chức – một mảng nghiên cứu khác về an toàn lao động của người lao động. 


5. CẦN LÀM GÌ ĐỂ VĂN PHÒNG LÀM VIỆC ĐẢM BẢO AN TOÀN, VỆ SINH?

     Nhiều người có quan niệm sai lầm rằng, so với môi trường lao động sản xuất thì văn phòng làm việc có ít yếu tố nguy cơ gây hại cho sức khỏe hay tính mạng của người lao động. Nhưng theo các chuyên gia tư vấn về sức khỏe nghề nghiệp, nhân viên văn phòng thường phải làm việc với máy tính trong khoảng thời gian kéo dài, khiến gây ra đau mỏi do các cử động lặp đi lặp lại và các tổn thương cơ xương khác. Hội chứng rãnh xương cổ tay, lún đĩa đệm là những ví dụ tổn thương điển hình thực sự làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người lao động. Các tổn thương này sẽ không bao giờ được phục hồi và do vậy, chúng thực sự đáng phải được quan tâm từ phía các nhà quản lí sử dụng lao động.

     Ken Buchkowski – chuyên gia tư vấn về nguồn nhân lực, tại văn phòng lao động và nguồn nhân lực Alberta (Canada) cho rằng, có khoảng 70% các trường hợp tổn thương của nhân viên văn phòng là có liên quan trực tiếp tới công việc của họ. Theo ông, chúng ta không nên chỉ chú ý làm thế nào để tránh các tổn thương, mà còn phải chú ý tới cả các yếu tố có thể gây ra các tổn thương như các yếu tố về công thái học, bố trí vị trí làm việc của người lao động và các yếu tố nguy hiểm có thể gây trơn, trượt, vấp ngã…Còn Denis Malayko đó nói một cách chắc chắn rằng, nhân viên văn phòng sẽ tránh được các tổn thương do các thao tác lặp đi lặp lại (hội chứng “Bàn tay già cỗi” thể hiện rõ ở những người là thư kí tòa án và nhân viên nhập số liệu) nếu họ thực hiện một số lần giải lao hợp lý, bởi “nghỉ giải lao là vấn đề mấu chốt của chúng ta”.

     Andy Smith và Denis Malayko đều đang làm việc cho Chương trình An toàn và Sức khỏe nơi làm việc của chính phủ Alberta. Đây là chương trình thường cung cấp các nguồn thông tin rất bổ ích về an toàn văn phòng làm việc, ví dụ như mô hình huấn luyện mới về cụng thỏi học cho nhõn viờn văn phũng. Buchkowski cho biết, tại văn phũng Lao động và Nguồn nhân lực Alberta, nhân viên được lựa chọn cho mỡnh 1 trong 4 kiểu ghế phự hợp về công thái học. Một ví dụ khác về việc sử dụng các biện pháp phòng ngừa tổn thương là sử dụng màn hình phẳng và bàn phím không dây để làm giảm các tổn thương do động tác lặp đi lặp lại. Các chuyên gia hướng dẫn cho nhân viên văn phòng biết cách phát hiện các dấu hiệu sớm của tổn thương như tê, ngứa, nóng đầu ngón tay và huấn luyện nâng cao nhận thức cho họ để họ hiểu rằng, họ không nên chấp nhận các loại tổn thương như vậy, đồng thời giúp họ biết phải làm như thế nào để hạn chế, ngăn ngừa các loại tổn thương đó.

     Chất lượng không khí cũng là yếu tố cần được xem xét dựa vào những hướng dẫn liên quan đến tiêu chuẩn chất lượng không khí tại văn phòng làm việc mà các chuyên gia nghiên cứu đề xuất. Trước đây, sau khi công đoàn viên chức Alberta nhận thấy rằng có rất nhiều đoàn viên của mình bị mệt mỏi do không khí trong phòng làm việc không được lưu thông tốt, họ đó đề nghị chính phủ cho ban hành hướng dẫn về nồng độ cácbon dioxide và nồng độ ô nhiễm không khí cho phép tại văn phòng nơi làm việc. Hiện tại, quy định nồng độ carbon dioxide là 800ppm (phần nghìn). Đây là ngưỡng có thể chấp nhận được (hàm lượng carbon dioxide ngoài trời trung bình là 380ppm). Nghề làm việc trong văn phòng cũng có rất nhiều yếu tố nguy hiểm có hại và nó hoàn toàn không như người ta vẫn nghĩ rằng đây là nghề ngồi bàn giấy.

     Để phòng ngừa một số yếu tố nguy cơ có hại thường gặp tại văn phòng làm việc, các chuyên gia đưa ra một số lưu ý sau:

     a/ Tránh các tổn thương ở lưng khi nâng nhấc:

     - Khi nâng một vật dưới sàn nhà, hãy ngồi gập gối sát với vật cần nâng, lưng thẳng (không được gập lưng), nâng vật lên bằng lực đứng thẳng người lên của chân.

     - Không được ngồi trên ghế để nâng nhấc vật, hãy đứng dậy, di chuyển ghế ra chỗ khác trước khi nhấc.

     - Nếu phải chuyển một vật nặng ở khoảng cách xa, hãy sử dụng các thiết bị và dụng cụ hỗ trợ nâng nhấc bằng tay.

     -  Sử dụng các dụng cụ trợ giúp vận chuyển để vận chuyển thiết bị, vật dụng cồng kềnh, nặng.

     - Trước khi di chuyển vật hãy chú ý dọn dẹp các vật cản trên đoạn đường di chuyển.

     - Khi di chuyển vật, không được để vật che mất tầm nhìn.

     - Cất gọn các dụng cụ trợ giúp vận chuyển ngay sau khi kết thúc công việc.

     - Khi làm việc với các thiết bị văn phòng hãy tập trung vào công việc đang làm. Chú ý vị trí đặt các ngón tay, chú ý tóc và quần áo gọn gàng để không bị vướng.

     - Luôn sử dụng thang gấp để lấy các vật trên cao, không được sử dụng ghế thay cho thang.

     - Hãy thông báo về những hư hỏng của sàn nhà.

     - Khi bị ngã lao người về phía trước, hãy thả lỏng cuốn người ra trước, không được cố cưỡng lại. Nếu cưỡng lại có thể bị gãy tay.

     b/ Cất giữ tài liệu:

     - Không được chất tài liệu thành chồng quá cao.

     - Để các tài liệu nặng ở tầng dưới của gía, nhưng không được đặt dưới nền nhà để hạn chế các tổn thương ở lưng khi nâng nhấc.

     - Cất giữ tài liệu trong các hộc tủ có cánh mở, nên xếp thứ tự và có khóa hộc tủ.

     - Không để tài liệu giữa các dãy ghế, góc phòng hay cản trở lối đi lại.

     - Không để tài liệu ở các vị trí gây cản trở cửa thoát hiểm hoặc che khuất các thiết bị, họng nước cứu hỏa.

     c/ Chất lượng không khí trong văn phòng làm việc:

     - Lau chùi và bảo dưỡng các thiết bị văn phũng theo đúng hướng dẫn của nhà sản xuất (các thiết bị này nếu không được chỳ ý làm vệ sinh sẽ cú thể sinh ra các chất gây ô nhiễm).

     - Thay đổi công việc để hạn chế việc sử dụng một loại thiết bị quá lâu.

     - Để máy photocopy cách xa vị trí bàn làm việc.

     - Đảm bảo thông gió hợp lí vì trong quá trình làm việc có thể sinh ra các chất gây ô nhiễm như sơn, chất diệt côn trùng, chất tẩy rửa…

     d/ Chiếu sáng và thiết bị điện:

     - Sử dụng chiếu sáng đồng đều để giảm bóng gây giảm thị lực.

     - Sử dụng ánh sáng tự nhiên bổ sung cho chiếu sáng chung tại văn phòng.

     - Chú ý không để dây dẫn điện, ổ cắm vắt ngang qua lối đi.

6. KẾT LUẬN

     Việc các nhà quản lí lao động và người sử dụng lao động nhận thức được tầm quan trọng của yếu tố người, quan tâm trước hết đến bản thân người lao động, hiểu các đặc điểm tâm – sinh lí của người lao động sẽ góp phần đáng kể vào nâng cao hiệu quả sản xuất, chất lượng sản phẩm, đảm bảo an toàn – vệ sinh và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Y tế (2003). Tiêu chuẩn vệ sinh lao động. NXB Y học, Hà Nội.

2. Nguyễn Thế Công (Chủ biên) (2003). Điều kiện làm việc và sức khỏe nghề nghiệp của lao động nữ. NXB Lao Động, Hà Nội.

3. Trần Như Nguyên, Nguyễn Thị Quỳnh Hương (2004). Môi trường và thiết bị phòng máy vi tính các trường chuyên Hà Nội. Tạp chí Nghiên cứu Y học. Số 32, tháng 06/2004.

4. Đào Thị Oanh (1999). Tâm lí học lao động. NXB Đại học Quốc gia. Hà Nội.

5. Thúy Hằng (2006). Làm gì để văn phòng làm việc của bạn đảm bảo an toàn và sức khỏe. Tạp chí Bảo hộ lao động, số 7/2006.

6. Văn bản pháp quy cập nhật của Nhà Nước, của các Bộ/Ngành có liên quan đến tiêu chuẩn, quy định về an toàn - vệ sinh lao động cho người lao động Việt Nam.

Publish: 5/28/2015 - Views: 2864 - Lastest update: 5/28/2015 11:51:36 AM
Tin cùng chuyên mục