Email: email@ioer.edu.vn | vncsp@hnue.edu.vn
Bàn tròn giáo dục

NĂNG LỰC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC CỦA GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

                                                   PGS.TS. Đào Thị Oanh

                                                        TS. Lê Mỹ Dung

                                      Viện Nghiên cứu Sư phạm-Trường ĐHSP Hà Nội

 

Tóm tắt: Nội dung bài báo đề cập đến thực trạng năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên đại học sư phạm được thể hiện ở 3 mặt gồm: “Kỹ năng nghiên cứu khoa học giáo dục”, “Kinh nghiệm thực tiễn về giáo dục, về nghiên cứu khoa họcKĩ năng phổ biến/ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học giáo dục vào giảng dạy/thực tiễn. Trên cơ sở thực trạng này, nhóm nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị về giải pháp nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học giáo dục cho giảng viên nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của trường đại học sư phạm. Đây là một trong những nội dung nghiên cứu thuộc Chương trình Khoa học Giáo dục cấp Bộ “Đổi mới đào tạo giáo viên trong trường Đại học Sư phạm đáp ứng yêu cầu giáo dục phổ thông thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”.

 1. Mở đầu

- Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển của một quốc gia đã ngày càng được khẳng định khiến cho nhiều nước trên thế giới đang nỗ lực thực hiện các cuộc cải cách sâu rộng trong lĩnh vực giáo dục dựa trên kết quả những nghiên cứu nghiêm túc, quy mô về khoa học giáo dục (KHGD). Nghiên cứu khoa học giáo dục (NCKHGD) là một nhu cầu khẩn thiết để xây dựng cơ sở lý luận dẫn đường cho cải cách giáo dục, cho những quyết sách về giáo dục. Thiếu NCKHGD sẽ không tránh khỏi cách làm “thử và sai” mà nhiều khi cái giá phải trả không thể tính bằng tiền. Tri thức về khoa học giáo dục không chỉ cần cho các nhà lãnh đạo và các nhà hoạch định chính sách, mà còn cần cho tất cả những người làm công tác quản lý giáo dục, cần cho từng giảng viên (GV) trong trường đại học sư phạm (ĐHSP), vì chính họ là những người trong thực tế sẽ xây dựng nên hệ thống giáo dục nước nhà.

- Nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục của nước ta, các trường ĐHSP trong cả nước hiện nay đang đứng trước đòi hỏi phải đổi mới về nhiều mặt, nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục phổ thông trong bối cảnh mới. Kết quả nghiên cứu của nước ngoài cho thấy, để nâng cao chất lượng đào tạo trong trường ĐHSP, công tác NCKHGD có vai trò đặc biệt quan trọng.

     Trong thực tiễn các trường ĐHSP của Việt Nam nói chung, mặc dù NCKHGD được xác định là một nhiệm vụ quan trọng của GV, nhưng không phải GV nào cũng hứng thú, nhiệt tình với hoạt động này, trong đó có các GV trẻ bởi NCKHGD là một lĩnh vực đặc thù, đòi hỏi ở người nghiên cứu những kiến thức, kĩ năng chuyên biệt.  

    Vì thế, nghiên cứu làm rõ thực trạng năng lực NCKHGD ở GV ĐHSP là việc làm cần thiết với mục tiêu đầu tiên là nhằm đảm bảo lợi ích cho SV, đồng thời kích thích sự nỗ lực và nâng cao tính chịu trách nhiệm ở đội ngũ GV. Các nghiên cứu tập trung vào 3 mặt biểu hiện chủ yếu của năng lực NCKHGD ở GV, là: “Kĩ năng NCKHGD”, “Kinh nghiệm thực tiễn về giáo dục, về NCKH”, “Phổ biến, ứng dụng kết quả nghiên cứu vào giảng dạy và thực tiễn”. Kết quả thu được gợi ý rất nhiều cho việc đề xuất biện pháp bồi dưỡng nâng cao năng lực NCKHGD cho GV ĐHSP, nhất là các GV trẻ.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Phương pháp, mẫu khách thể nghiên cứu

     - Để làm rõ thực trạng năng lực NCKHGD của GV, các phương pháp được sử dụng gồm: Điều tra viết; Phỏng vấn sâu; Tọa đàm nhóm; Thống kê toán học. Trong đó phương pháp chính là điều tra viết với công cụ là Phiếu trưng cầu ý kiến dành cho SV và Thang đo năng lực NCKHGD dành cho GV. Thang đo dành cho GV được thiết kế dựa trên kết quả nghiên cứu lí luận về cấu trúc của năng lực NCKHGD ở GV ĐHSP. Về mặt định lượng, các biểu hiện của năng lực NCKHGD  được đánh giá ở 5 mức độ, từ mức “Thấp” nhất (“Chưa làm được”) đến mức “Cao” nhất (“Làm tốt/thành thạo”), với điểm quy ước tương ứng là 1 điểm và 5 điểm. Các mức khác nằm ở khoảng giữa các mức này có điểm tương ứng là 2, 3, 4. Kết quả phân tích thống kê mô tả và thống kê suy luận dựa trên phần mềm SPSS 16.0 gồm giá trị trung bình cộng đạt được ở mỗi biểu hiện trên toàn bộ mẫu khách thể, độ lệch chuẩn, hệ số khác biệt và hệ số tương quan giữa các các kết quả thu được bằng các phương pháp nêu trên sẽ cung cấp bức tranh sơ bộ về một số khía cạnh trong năng lực NCKHGD của GV ĐHSP hiện nay.

     - Mẫu khách thể nghiên cứu gồm: 416 GV độ tuổi chủ yếu từ 30-50; 600 sinh viên của các khoa: Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí (Sử - Địa), Toán, Vật lí, Hóa học, Sinh học (Sinh - Hóa), Tâm lí giáo dục thuộc các trường: ĐHSP Hà Nội, ĐHSP Thái Nguyên, ĐHSP Tây Bắc, ĐHSP - ĐH Đà Nẵng, ĐHSP t/p Hồ Chí Minh, Khoa sư phạm – ĐH Cần Thơ. Tham gia vào mẫu nghiên cứu còn có cán bộ quản lí cấp Trường, cấp Khoa và Bộ môn.

2.2. Kết quả nghiên cứu

2.2.1. Cơ sở lí luận về năng lực nghiên cứu khoa học giáo dục của giảng viên đại học sư phạm

     “Khoa học giáo dục” là một thuật ngữ được nhắc đến khá nhiều trong thời gian gần đây trong các tài liệu chuyên môn, các văn bản của Ngành, trên các phương tiện thông tin đại chúng, song việc định nghĩa nó dường như lại quá ít ỏi. Phần lớn các bài viết chỉ nêu ra những khía cạnh/nội dung nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học này. Vì vậy, đề tài sẽ xây dựng cho mình một “khái niệm để làm việc” để từ đó có thể thao tác hóa, triển khai đánh giá thực tiễn.

     Là một lĩnh vực khoa học, giống như các lĩnh vực khoa học khác, KHGD cũng có đối tượng nghiên cứu; hệ thống phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu cụ thể; các kĩ thuật, phương tiện, thủ thuật…nghiên cứu mang tính đặc thù của mình. Do đó, để nghiên cứu KHGD, nhất định người nghiên cứu phải có được những kiến thức, kĩ năng nền tảng của KHGD, bên cạnh những kiến thức, kĩ năng thuộc lĩnh vực chuyên ngành sâu với tư cách là một cấu phần của KHGD. Có thể đưa ra một cách hiểu như sau về nghiên cứu KHGD:

     “Nghiên cứu KHGD” là một hoạt động nghiên cứu khoa học đặc thù trong lĩnh vực giáo dục. Đó là một hoạt động có tính hệ thống,  xuất phát từ những bất cập cần được giải quyết trong hoạt động giáo dục, hay nhu cầu tìm  hiểu  nhằm giải thích sâu sắc về cấu trúc và cơ chế phát triển của một hệ thống giáo dục nào đó, hay nhằm phát hiện ra những khái niệm, những qui luật mới của thực tiễn giáo dục mà trước đó chưa ai biết.

     Xuất phát từ cơ sở lí luận nêu trên, đề tài đưa ra cách hiểu về năng lực nghiên cứu KHGD của giảng viên ĐHSP như sau: Năng lực nghiên cứu KHGD của giảng viên ĐHSP là khả năng thực hiện có kết quả một công trình nghiên cứu khoa học của giảng viên ĐHSP trong lĩnh vực giáo dục, thể hiện ở sự vận dụng các kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm thực tiễn vào quá trình tổ chức triển khai và sử dụng kết quả nghiên cứu nhằm cải thiện thực tiễn giáo dục và xã hội.

     Cách hiểu trên đây được cụ thể hóa thành các mặt biểu hiện chủ yếu sau: “Kĩ năng NCKHGD”, “Kinh nghiệm thực tiễn về giáo dục, về NCKHGD”, “Phổ biến, ứng dụng kết quả NCKHGD vào giảng dạy và thực tiễn”.

2.2.2. Thực trạng năng lực nghiên cứu khoa học giáo dục của giảng viên đại học sư phạm

     Ở nội dung này, đề tài tổ chức tìm hiểu nhận thức của GV về ý nghĩa của NCKHGD, năng lực NCKHGD đối với hoạt động nghề nghiệp của GV ĐHSP và biểu hiện hành động của GV trong lĩnh vực này.

a/ Nhận thức của GV ĐHSP về vai trò của năng lực NCKHGD đối với hoạt động nghề nghiệp bản thân

     Kết quả trả lời phiếu trưng cầu ý kiến cho thấy, 78% GV nhận thức được tầm quan trọng và lợi ích của NCKHGD trong giảng dạy và trong sự thăng tiến nghề nghiệp của bản thân. Tương tự, qua phỏng vấn, tọa đàm nhóm, những lợi ích từ NCKHGD được GV đưa ra khá đa dạng như dưới đây:

- Là một trong những con đường tốt nhất để nâng cao trình độ giảng dạy và phát triển nghề nghiệp của GV;

- Giúp phát hiện ra những vấn đề ở tầm vĩ mô và vi mô trong thực tiễn giáo dục nói chung, thực tiễn dạy học của bản thân GV nói riêng để có hướng suy nghĩ, cải tiến thực tiễn;

- Giúp cập nhật kết quả nghiên cứu của bản thân và của đồng nghiệp vào làm mới bài giảng, từ đó làm tăng chất lượng bài giảng;

- Rèn luyện ở bản thân GV về phương pháp đánh giá những vấn đề từ thực tiễn giáo dục được toàn diện hơn;

- Đảm bảo để GV tự tin hơn khi hướng dẫn SV trong nghiên cứu các vấn đề về giáo dục;

- Biết cách thúc đẩy SV tìm tòi khám phá cái mới, khơi dậy tiềm năng sáng tạo trong SV;

- Biết cách hướng dẫn SV tự học, tập sự làm NCKHGD;

- Rèn luyện năng lực tư duy khoa học cho SV, đưa dần SV vào môi trường khoa học, nắm bắt kịp thời những tiến bộ của nghề nghiệp;

- Giúp GV có cơ hội thăng tiến nhanh hơn trong nghề nghiệp như tham gia vào các vị trí lãnh đạo, hoặc nâng cao trình độ học vấn;

- Góp phần nâng cao uy tín của nhà trường, của khoa/bộ môn;

- Góp phần đưa ra những kiến nghị đối với Bộ GD&ĐT nhằm đổi mới những vấn đề liên quan đến giảng dạy trong trường ĐHSP;

- Góp phần đề xuất với Nhà Nước những chính sách phù hợp đối với giáo dục của đất nước…

     Có thể thấy, nhận thức về lợi ích của năng lực NCKHGD không chỉ gắn với cá nhân GV mà rộng hơn, còn gắn với sự phát triển của nhà trường, của ngành  và của xã hội. Đây là biểu hiện của nhận thức khá đầy đủ, toàn diện, sâu sắc, là nền tảng tốt để bồi dưỡng nâng cao năng lực này cho GV. Tuy nhiên, con số gần 1/3 GV trong mẫu nghiên cứu chưa nhận thức được đầy đủ, đúng đắn về tầm quan trọng của NCKHGD đối với công tác đào tạo giáo viên trong trường ĐHSP đáng để nhà quản lí phải suy nghĩ.          

b/ Biểu hiện hành động của GV trong năng lực NCKHGD

     Kết quả đánh giá chung về năng lực NCKHGD của GV được thể hiện trong biểu đồ sau:

                Biểu đồ 1: Tự đánh giá của GV về năng lực NCKHGD (N = 416)

        Kết quả cho thấy GV tự đánh giá chủ yếu ở mức độ “Trung bình” và “Dưới trung bình”, có sự phân hóa khá rõ. Trong đó, mức thấp nhất là ở nội dung “Phổ biến, ứng dụng kết quả NCKHGD vào giảng dạy, thực tiễn” (dưới trung bình: 2,52đ; SD = 1,02) và “Kinh nghiệm thực tiễn về giáo dục, về NCKHGD” (dưới trung bình: 2,80đ; SD = 1,00đ); điểm cao nhất ở “Kỹ năng NCKHGD”, song cũng chỉ đạt mức “Trung bình” (3,28 đ +/- 0,92đ).

     Khi xem xét cụ thể các biểu hiện ở từng mặt, thấy rất rõ khuynh hướng phân hóa nêu trên. Số liệu được trình bày ở bảng 1, 2, 3.

* Về “kỹ năng nghiên cứu khoa học giáo dục” của GV:

     Bảng 1: Tự đánh giá của GV về “Kỹ năng nghiên cứu khoa học giáo dục” (N = 416)

TT

Kỹ năng nghiên cứu khoa học giáo dục

Điểm

TB cộng

Độ

lệch chuẩn

1

Phát hiện vấn đề nghiên cứu xuất phát từ thực tiễn giảng dạy

3,61

1,113

2

Xây dựng đề cương nghiên cứu có sức thuyết phục

3,56

1,155

3

Tập hợp lực lượng nghiên cứu phù hợp

3,37

1,198

4

Sưu tầm, hệ thống hóa tư liệu phục vụ nghiên cứu đề tài

3,80

1,128

5

Khai thác tư liệu từ các trang web có liên quan đến đề tài NC

3,80

1,102

6

Lựa chọn phương pháp nghiên cứu phù hợp nội dung đề tài

3,83

1,092

7

Thiết kế được các phép đo để thu thập tư liệu thực tiễn

3,35

1,159

8

Sử dụng được các phần mềm phân tích định lượng

3,18

1,248

9

Sử dụng được các kỹ thuật phân tích định lượng và định tính

3,30

1,209

10

Viết dự án xin tài trợ có sức thuyết phục

2,46

1,283

11

Viết được báo cáo khoa học tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài

3,38

1,251

12

Hướng dẫn phương pháp NCKH cho SV

2,92

1,575

13

Hướng dẫn PPNC KHGD cho học viên cao học, NCS

3,06

1,368

14

Tổ chức, phối hợp cùng đồng nghiệp trong NCKHGD

3,04

1,293

15

Tổ chức, phối hợp các lực lượng giáo dục khác nhau trong NCKHGD

3,09

1,271

16

Tổ chức nhóm nghiên cứu hiệu quả

3,10

1,190

17

Tổ chức triển khai NCKHGD phù hợp điều kiện, hoàn cảnh

3,27

1,167

18

Vận dụng được các tri thức về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu cụ thể của KHGD vào triển khai đề tài

3,57

1,250

19

Xác định đúng phạm vi, giới của đề tài nghiên cứu

3,16

1,296

20

Vận dụng được các tri thức về Tâm lí học Sư phạm vào giải thích kết quả NCKHGD

3,04

1,276

21

Vận dụng được các tri thức về Giáo dục học vào tổ chức triển khai nghiên cứu thực nghiệm KHGD

3,14

1,194

22

Vận dụng được các kiến thức về Lí luận dạy học vào tổ chức nghiên cứu thực nghiệm KHGD

3,06

1,335

23

Vận dụng được các kiến thức về quản lí đào tạo vào tổ chức triển khai quá trình NCKHGD

3,35

1,240

24

Thực hiện đề tài NCKH theo quy trình

3,26

1,318

25

Tổ chức đề tài NCKHGD gắn kết với điều kiện thực tiễn

3,33

1,224

                                          (Điểm trung bình thấp nhất là 1, cao nhất là 5)

*Về “Kinh nghiệm thực tiễn về giáo dục, về NCKH” của GV:

         Bảng 2: Tự đánh giá của GV về Kinh nghiệm thực tiễn về giáo dục, về NCKH”

TT

Kinh nghiệm thực tiễn về giáo dục,

về nghiên cứu khoa học

Điểm

TB cộng

Độ

lệch chuẩn

1

Có đề tài nghiên cứu về khoa học cơ bản thuộc chuyên ngành đang giảng dạy

3,65

1,240

2

Hướng dẫn SV làm đề tài NCKH

3,67

1,306

3

Hướng dẫn giáo viên phổ thông viết sáng kiến kinh nghiệm

2,30

1,469

4

Tham gia các đề tài NCKH cấp Nhà Nước

1,77

1,407

5

Tham gia các đề tài NCKH cấp Bộ, cấp Trường

2,46

1,687

6

Tham gia các hoạt động NCKH của các tổ chức phi chính phủ, các đoàn thể xã hội

3,01

1,678

                               

*Về “Kĩ năng phổ biến, ứng dụng kết quả NCKHGD” của GV:

                                          Bảng 3: Tự đánh giá của GV  về

        “Kĩ năng phổ biến/ứng dụng kết quả NCKHGD vào giảng dạy và thực tiễn”

TT

Kĩ năng phổ biến, ứng dụng kết quả NCKHGD

vào giảng dạy và thực tiễn

Điểm

TB cộng

Độ

lệch chuẩn

1

Có bài đăng ở tạp chí chuyên ngành KHGD nước ngoài

2,13

1,561

2

Có bài đăng ở tạp chí chuyên ngành KHGD trong nước

2,82

1,642

3

Có báo cáo hội thảo khoa học ở nước ngoài về KHGD

1,77

1,346

4

Có báo cáo hội thảo khoa học trong nước về KHGD

2,83

1,657

5

Cập nhật kết quả NCKHGD vào bài giảng

1,78

1,307

6

Đưa kết quả NCKHGD làm tài liệu phục vụ giảng dạy

2,67

1,593

7

Cập nhật kết quả NCHGD vào giáo trình môn học

2,92

1,442

8

Cải tiến phương pháp dạy học dựa trên kết quả NCKHGD

2,84

1,490

9

Sử dụng kết quả NCKHGD vào GD nghề nghiệp cho SV

2,87

1,394

10

Chuyển kết quả NCKHGD thành tài liệu phục vụ học tập cho SV, học viên cao học, NCS

3,12

1,337

11

Chuyển kết quả nghiên cứu KHGD của bản thân thành tài liệu bồi dưỡng/tập huấn nâng cao năng lực dạy học cho giáo viên phổ thông

2,82

1,368

12

Chuyển kết quả NCKHGD của bản thân thành tài liệu phổ biến khoa họcdành cho giáo viên phổ thông

2,62

1,436

13

Chuyển kết quả NCKHGD của bản thân thành sách phổ biến khoa học dành cho SV/học sinh phổ thông/cha mẹ học sinh

2,18

1,369

14

Tham gia tư vấn trên các phương tiện thông tin đại chúng về các vấn đề có liên quan đến kết quả NCKHGD của bản thân và của đồng nghiệp

1,93

1,282

 

Các kết quả trên đây cho phép rút ra một số nhận xét sau:

     - GV tự đánh giá tốt nhất các nội dung: “Sưu tầm, hệ thống hóa tư liệu phục vụ nghiên cứu từ nhiều nguồn khác nhau”; “Khai thác được tư liệu từ các trang web có liên quan đến đề tài nghiên cứu”, “Lựa chọn phương pháp NCKH phù hợp nội dung đề tài”, “Hướng dẫn SV làm đề tài NCKH”. Tuy nhiên, điểm đạt được chỉ nằm ở mức trên Trung bình và có độ phân tán khá cao. Không có nội dung nào đạt điểm 4 (tương đương mức “Khá”).

     - GV tự đánh giá thấp nhất ở các nội dung liên quan đến phổ biến kết quả nghiên cứu ra nước ngoài và trên phương tiện thông tin đại chúng ở trong nước. Điểm số đạt được ở mức dưới Trung bình và độ phân tán cao (xấp xỉ 2 đ).

     - Đối với các nội dung còn lại, GV tự đánh giá thực hiện chưa tốt và chưa hiệu quả, với mức điểm đạt được nằm ở mức từ trên 2đ đến trên 3đ.

     Nhìn chung, GV ĐHSP tự đánh giá còn có ít “kinh nghiệm thực tiễn về giáo dục, về NCKHGD”. Số GV “tham gia các đề tài NCKH cấp Nhà nước, cấp Bộ/ Bộ trọng điểm, hướng dẫn giáo viên phổ thông viết sáng kiến kinh nghiệm” còn khiêm tốn. Trong số các GV được nghiên cứu, chỉ có 11,7% GV tham gia nghiên cứu đề tài cấp Nhà nước, 22,4% GV có nghiên cứu đề tài cấp Bộ và cấp Trường. Thực tế này có nguyên nhân chủ quan và khách quan. Về phía chủ quan có thể nhận thấy là năng lực NCKHGD của GV còn nhiều hạn chế; còn về khách quan là cơ chế đối với NCKH nói chung và NCKHGD nói riêng ở các trường ĐHSP còn nhiều bất cập, làm hạn chế sự tiếp cận của các GV đối với các đề tài cấp Bộ, cấp Nhà nước. Ngay cả những đề tài nghiên cứu cấp Trường nay cũng bị hạn chế về số lượng nên hằng năm không có nhiều GV được tham gia NCKH. Điều này cũng phần nào đúng với vấn đề xuất bản các kết quả NCKHGD. Số liệu thu được cho thấy, số lượng GV có kết quả NCKHGD công bố ở các hình thức khác nhau còn rất ít, đặc biệt là số lượng GV có các ấn phẩm xuất bản ở nước ngoài. Trong khi 19,5% GV có bài báo khoa học cơ bản thì chỉ có 5,7% GV có bài báo KHGD đăng ở tạp chí nước ngoài. Số lượng GV là tác giả và đồng tác giả của ấn phẩm sách và giáo trình ở Việt Nam chiếm khoảng 2,3%-8,0% đối với khoa học cơ bản và khoảng 2,3%-8,0%  đối với KHGD. Hãy xem kết quả ở bảng dưới đây:

                  Bảng 4: Số lượng GV có kết quả NCKH công bố ở các hình thức

TT

Hình thức công bố

KH cơ bản

(%)

KH giáo dục

(%)

1

Là tác giả sách xuất bản ở nước ngoài

0,0

1,1

2

Là đồng tác giả sách xuất bản ở nước ngoài

0,0

0,0

3

Bài báo đăng tạp chí chuyên ngành nước ngoài

19,5

5,7

4

Bài báo đăng tạp chí chuyên ngành trong nước

33,3

16,1

5

Báo cáo khoa học trình bày tại hội nghị quốc tế

20,7

10,3

6

Là tác giả sách chuyên khảo xuất bản tại Việt Nam

6,9

4,6

7

Là đồng tác giả sách chuyên khảo xuất bản tại VN

8,0

2,3

8

Là tác giả giáo trình xuất bản tại Việt Nam

4,6

5,7

9

Là đồng tác giả giáo trình xuất bản tại Việt Nam

2,3

6,9

10

Báo cáo khoa học đăng kỉ yếu hội thảo ở Việt Nam

28,7

32,2

11

Sách đã được chấp nhận in nhưng chưa xuất bản

5,7

6,9

     Nhìn chung, số lượng GV kết hợp nghiên cứu đề tài khoa học của mình với họat động hướng dẫn SV, học viên cao học, NCS làm khóa luận tốt nghiệp, luận văn, luận án ở lĩnh vực khoa học cơ bản cao hơn so với ở lĩnh vực KHGD. Tuy nhiên, số lượng GV kết hợp nghiên cứu đề tài khoa học còn khá khiêm tốn, đặc biệt với “hướng dẫn NCS làm luận án tiến sĩ” (chỉ chiếm 5,7%), “Hướng dẫn học viên cao học làm luận văn thạc sĩ” (12,6% và 8,0%) và với các hình thức khác có số lượng GV ở mức cao hơn nhưng đều chiếm dưới 50% như dưới đây:

Bảng 5: Kết quả GV  kết hợp NCKH  với  hướng dẫn, cố vấn cho SV, học viên cao học, NCS

TT

Loại hình hoạt động

KH cơ bản

(%)

KH giáo dục

(%)

1

Hướng dẫn NCS làm luận án TS

5,7

0,0

2

Hướng dẫn học viên cao học làm luận văn thạc sĩ

12,6

8,0

3

Hướng dẫn SV làm khoá luận tốt nghiệp

47,1

25,3

4

Cố vấn đề tài NCKH độc lập của SV/học viên cao học

35,6

33,3

5

Hướng dẫn SV làm tiểu luận môn học

43,7

46,0

     Một vài kết quả hồi cứu tư liệu và khảo sát thực tiễn gần đây ở một số trường ĐHSP khác trong nước cũng cho thấy bức tranh tương tự. Tuy nhiên, có sự khác nhau đáng kể trong kết quả thu được giữa các trường, trong đó, kết quả ở những trường ĐHSP có lịch sử lâu dài trong đào tạo giáo viên là khả quan hơn. Trong đó có những trường có tỉ lệ các đề tài nghiên cứu về KHGD chiếm tới 50% trong tổng số các đề tài trong vòng 3 năm trở lại đây. Nghiên cứu ở nước ngoài cho thấy, việc quan tâm triển khai các nghiên cứu về KHGD giúp GV tự tin, bản lĩnh hơn trong việc xác định giá trị của bản thân trước yêu cầu ngày càng cao đối với nghề dạy học. Những NCKHGD trong trường ĐHSP sẽ trực tiếp góp phần quan trọng vào việc đào tạo giáo viên chất lượng cao.

     Số liệu thu được về năng lực NCKHGD của GV đã được xem xét, so sánh với kết quả thu được của chính họ ở năng lực NVSP và quản lí đào tạo nhằm đánh giá đầy đủ hơn về hoạt động nghề nghiệp của GV ĐHSP. Nhìn chung, về NCKHGD, nhận thức của GV là khá toàn diện và đầy đủ, nhưng thực tế triển khai hoạt động NCKHGD cho thấy còn nhiều vấn đề cần được tiếp tục cải thiện để có thể đáp ứng yêu cầu phát triển nghề nghiệp trong thời gian tới. Những điểm yếu của GV thể hiện qua kết quả nghiên cứu thực trạng sẽ là cơ sở thực tiễn quan trọng để đề xuất các nội dung bồi dưỡng cho GV ĐHSP.

3. Kết luận và kiến nghị:

3.1. Kết luận

     Kết quả nghiên cứu thực trạng năng lực NCKHGD của GV ĐHSP cho phép rút ra một số nhận xét sau:

- Phần lớn GV và cán bộ quản lí ở các trường trong mẫu nghiên cứu đã nhận thức được tầm quan trọng và lợi ích của NCKHGD đối với công tác giảng dạy và thăng tiến nghề nghiệp.

- Năng lực NCKHGD của GV nhìn chung chưa được như mong muốn. Mức độ đạt được chủ yếu là “Trung bình” và dưới trung bình, trong đó, kĩ năng “Phổ biến, ứng dụng kết quả nghiên cứu vào giảng dạy, thực tiễn” đạt mức thấp nhất.

- Có sự phân hóa khá cao ở phần lớn kết quả tự đánh giá của GV đối với cả 3 mặt biểu hiện chứng tỏ còn có những GV tự đánh giá thấp hơn nhiều so với mức điểm trung bình hiện có của toàn mẫu nghiên cứu.

- Có sự khác biệt về năng lực NCKHGD của GV giữa các trường tham gia vào mẫu nghiên cứu, song sự khác biệt có ý nghĩa thống kê thì chỉ tìm thấy ở một số biểu hiện chứ không phải tất cả.

3.2. Một số kiến nghị

* Về phía cơ quan quản lí Nhà Nước:

- Đầu tư ngân sách thỏa đáng cho công tác NCKHGD ở các trường ĐHSP. Đổi mới cơ chế, quy định, thủ tục cấp phát, thanh toán kinh phí đối với các  nghiên cứu về KHGD.

- Thực hiện chuẩn hóa GV, trong đó có GV ĐHSP. Theo đó cần đặc biệt lưu ý các yêu cầu về NCKHGD đối với GV ĐHSP. Hoàn thiện tiêu chí đánh giá kết quả đối với một nghiên cứu về KHGD.

- Hoàn thiện cơ chế chính sách đối với vấn đề NCKHGD của GV ĐHSP theo hướng khích lệ, tạo động lực để GV nâng cao năng lực NCKHGD.

* Về phía Trường ĐHSP/Khoa sư phạm:

- Có cơ chế, chính sách cụ thể để động viên, khuyến khích hỗ trợ GV đi học cao học, tiến sĩ theo lĩnh vực KHGD, tạo môi trường thuận lợi để GV phát huy tiềm năng nghiên cứu về KHGD. Tổ chức xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh về KHGD, làm nòng cốt để phát triển năng lực NCKHGD trong GV của trường mình.

- Thường xuyên tổ chức đánh giá chất lượng GV để sàng lọc những người không đủ tiêu chuẩn, đồng thời khen thưởng xứng đáng và kịp thời đối với những GV có nhiều công trình nghiên cứu về KHGD. Ràng buộc chế độ trách nhiệm trong giảng dạy và hướng dẫn sinh viên nghiên cứu khoa học đối với giảng viên.

- Mở rộng giao lưu khoa học giữa GV các trường ĐHSP dưới nhiều hình thức khác nhau: hội thảo khoa học, phối hợp tham gia các đề tài nghiên cứu,... để GV có thể trao đổi ý tưởng khoa học, học hỏi kinh nghiệm nghiên cứu, cùng nhau đề xuất kiến nghị khoa học, tăng cường công bố kết quả NCKHGD ở trong nước và nước ngoài. Các hội nghị khoa học, các đề tài nghiên cứu phải được tiến hành nghiêm túc, có chất lượng cao, bảo đảm tính khoa học và ý nghĩa thực tiễn.

- Cải tiến việc tuyển chọn sinh viên tốt nghiệp khá giỏi, có công trình nghiên cứu khoa học giữ lại trường.

- Tăng cường trao đổi chuyên gia có trình độ NCKHGD giữa các trường ĐHSP với tư cách là GV thỉnh giảng.

* Về phía giảng viên:

- Quan tâm cập nhật kết quả những công trình NCKHGD có liên quan vào nội dung nghiên cứu, giảng dạy của bản thân hòng làm cho bài giảng trở nên phong phú, sinh động, mới mẻ hơn.

- Tích cực tham gia vào các đề tài nghiên cứu về KHGD thuộc các cấp (Trường/Khoa/Bộ/Nhà nước) để được rèn luyện nâng cao kiến thức, kĩ năng NCKHGD của bản thân, đồng thời thu hút SV vào các đề tài nghiên cứu của GV.

- Tích cực học hỏi kinh nghiệm và dành thời gian thích đáng cho việc viết bài, viết sách công bố kết quả NCKHGD nhằm góp phần phổ biến về KHGD, làm phong phú thêm nguồn tài liệu tham khảo cho SV, NCS, học viên cao học.

- Tích cực tham gia các lớp bồi dưỡng, dự các buổi sinh hoạt khoa học nghiệm thu các đề tài về NCKHGD của đồng nghiệp để học tập kinh nghiệm, tự nâng cao kiến thức, kĩ năng về NCKHGD cho bản thân, khắc phục những điểm còn yếu kém trong NCKHGD.

 (Bài đã đăng tải trên tạp chí Khoa học, Trường ĐHSP Hà Nội,

Volum 59, Number 6A, 2014)

Tài liệu tham khảo chính:

[1]. Bộ Giáo dục-Đào tạo (2010). Tổng kết hoạt động khoa học và công nghệ giai đoạn 2006-2010 và định hướng phát triển 5 năm 2011-2015 khối Khoa học giáo dục. Kỷ yếu Hội nghị. Hà Nội, tháng 10/2010.

[2]. Bộ GD-ĐT & Trường ĐHSP Hà Nội (2011). Khoa học sư phạm trong chiến lược phát triển giáo viên.yếu tố căn bản đổi mới giáo dục Việt Nam. Kỉ yếu HTKH. Tháng 12/2011. ĐHSPHN.

[3]. Nguyễn Công Khanh và cộng sự (2009). Đánh giá chất lượng giảng viên trường ĐHSP Hà Nội. Báo cáo khoa học tại trường ĐHSPHN.

[4]. Nguyễn Lộc (2011). Khái niệm, cấu phần và xu thế của Khoa học Giáo dục. Kỉ yếu Hội thảo Quốc gia về Khoa học Giáo dục Việt Nam. Hải Phòng, tháng 02/2011.

[5]. Phạm Hồng Quang (2000). Về hoạt động nghiên cứu khoa học giáo dục trong các trường sư phạm; Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số 3/2000.

[6]. Đào Thị Oanh (2013), Giải pháp nâng cao năng lực nghiệp vụ sư phạm, nghiên cứu khoa học giáo dục và quản lý đào tạo của giảng viên đại học sư phạm, Đề tài cấp Bộ B2011-17-CT07.

[7]. Văn bản của Bộ GD-ĐT.


Publish: 8/31/2015 - Views: 4393 - Lastest update: 8/31/2015 8:53:13 AM
Tin cùng chuyên mục