Email: email@ioer.edu.vn | vncsp@hnue.edu.vn
Bàn tròn giáo dục

BIỆN PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG TỰ QUẢN LÍ QUÁ TRÌNH DẠY HỌC CỦA GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ

       PGS.TS.Đào Thị Oanh, trường ĐHSP Hà Nội 

ThS. Phạm Thị Bảo Đức, trường THCS Nguyễn Du-Hà Nội

 

1.Đặt vấn đề

- “Tự quản lý” là một trong những năng lực cơ bản của người lao động hiện đại. Đây cũng là năng lực cần được trang bị cho học sinh (HS) từ trong nhà trường. Muốn thế, trước hết GV phải là người biết tự quản lí quá trình dạy học của bản thân để có thể hướng dẫn, rèn luyện phát triển năng lực này ở HS.

- Có một thực tế là, vào thời điểm cuối học kỳ hoặc cuối năm học, GV thường bị quá tải với các công việc liên quan đến quá trình giảng dạy của mình. Đó là những công việc được quy định trong các văn bản của Ngành, của Nhà trường, của tổ nhóm chuyên môn, của chính GV để phát triển cá nhân.Với quỹ thời gian khoảng 40 giờ làm việcmỗi tuần và khối lượng công việc lớn, vừa chuyên môn, vừa sự vụ, người GV phải sắp xếp thực hiện công việc sao cho vừa đáp ứng yêu cầu của nhà Quản lý, vừa làm hài lòng phụ huynh HS về chất lượng giáo dục, vừa đáp ứng nhu cầu học tập của HS, song vẫn có thời gian để sáng tạo và làm mới bản thân.Việc thường xuyên bị áp lực bởi một “núi” công việc trên đầu khiến phần lớn GV luôn cảm thấy bị áp lực, thiếu thời gian và tâm sức để sáng tạo, thậm chí bị động, làm ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả đào tạo của nhà trường, tinh thần làm việc của GV.

- Tuy nhiên, đó không phải là tình trạng của tất cả GV.Trên thực tế vẫn có những GV tỏ ra chủ động và hoàn thành tốt các nhiệm vụ của mình đúng theo kế hoạch chung. Những GV đó thường sắp xếp công việckhoa học dựa theo tính chất ưu tiên của từng loại hoạt động….Họ bình tĩnh, chủ động đón nhận những thay đổi (bao gồm cả những thay đổi đột xuất), chủ động điều chỉnh kế hoạch, cách thức thực hiện để vẫn hoàn thành công việc đúng hạn, chất lượng tốt và không cảm thấy mệt mỏi.Việc giúp GV rèn luyện nâng cao khả năng tự quản lí quá trình dạy học là hết sức cần thiết bởinhiều GV chưa được đào tạo, bồi dưỡng về vấn đề này mà chủ yếu làm theo kinh nghiệm, khiến ít nhiều làm ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo trong nhà trường phổ thông hiện nay.

2. Tự quản lí quá trình dạy học của giáo viên Trung học cơ sở

2.1. Khái niệm chung

* Xuất phát từ cách hiểu về “Quản lí”, “Tự quản lý” được hiểu là những nỗ lực kiểm soát hành vi của cá nhân, liên quan đến cách đánh giá vấn đề, mục tiêu thiết lập, giám sát thời gian và các vấn đề môi trường có thể cản trở việc hoàn thành mục tiêu, đồng thời sử dụng hệ thống “Thưởng-Phạt” điều chỉnh tiến độ nhằm đạt mục tiêu. Cá nhân là người đánh giá, giám sát, tự điều chỉnh, có trách nhiệm và chịu trách nhiệm về tiến độ và chất lượng công việc của bản thân, như vậy, về cơ bản, họ trở thành người “Tự quản lí”.

* Tự quản lý quá trình dạy họccó thể được hiểu là quản lý quá trình dạy học trong đó chủ thể và khách thể quản lý chính là bản thân GV. Trong quá trình đó, GV là người tự chủ và tự chịu trách nhiệm hoàn thànhnhững yêu cầudạy học được giao.

*Nội dung tự quản lý quá trình dạy học của giáo viên THCS

     Phân tích 4 chức năng quản lí cơ bản, các khâu trong quá trình dạy học, kết hợp với các tiêu chí cơ bản của năng lực dạy học được quy định trong Chuẩn nghề nghiệp GV,có thể đưa ra và cụ thể hóa 5 nội dung tự quản lý quá trình dạy học của GV THCS, gồm:

1) Lập kế hoạch tổng thể cho quá trình dạy học của bản thân. Đó là việc lập kế hoạch thực hiện cho tất cả các công việc diễn ra trong quá trình dạy họclập kế hoạch chi tiết cho từng nhiệm vụ cụ thể của quá trình dạy: Lập kế hoạch cho một năm học; Lập kế hoạch cho một tuần; Lập kế hoạch cho một ngày, Lập kế hoạch cho một tiết học.

     - Lập kế hoạch cho một năm học: Mục đích chính là xác lập mục tiêu dạy học của cá nhân thông qua việc đề ra các quy chuẩn, chuẩn mực về hiệu quả chất lượng hoạt động dạy học của  mình trong cả năm học, phù hợp các quy định chung của Ngành, Nhà trường, tổ nhóm chuyên môn và năng lực của cá nhân.

     - Lập kế hoạch cho một tuần, một ngày: Xác định khối lượng công việc giảng dạy phải thực hiện, phân loại và sắp xếp vào các khoảng thời gian hợp lý trong ngày. Nếu đúng cách, một ngày làm việc của GV sẽ đạt kết quả cao hơn và không bị xâm phạm vào các khoảng thời gian khác (gia đình,  nghỉ ngơi, thư giãn...).

     - Lập kế hoạch cho một tiết dạy là yêu cầu bắt buộc về chuyên môn đối với một GV còn được gọi là Soạn giáo án.Giáo án chỉ ra nội dung của bài học và giúp đảm bảo trật tự khoa học của thông tin, đưa ra kĩ năng học tập được sử dụng trong giờ và các phương tiện hỗ trợ cần thiết theo yêu cầu.

2) Tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học đã xây dựngvới các biểu hiện cụ thể:Dạy học theo đúng tiến độ trong Phân phối chương trình(thực hiện đúng các nội dung được quy định trong phân phối chương trình bộ môn theo từng tiết, từng tuần);Dạy bù khi bị chậm chương trình (tự điều chỉnh cho kịp với tiến độ đã đề ra); Tổ chức phụ đạo cho HS có kết quả yếu (điều chỉnh kết quả dạy hướng tới mục tiêu đề ra trong kế hoạch năm); Vào lớp đúng giờ và kết thúc bài giảng đúng giờ(tự giám sát, tuân thủ thời gian biểu); Thực hiện tiết dạy theo đúng kế hoạch đã soạn(thực hiện các bước lên lớp, hoàn thành nội dung đã soạn, sử dụngphương tiện dạy học như dự kiến); Nộp báo cáo giảng dạy đúng hạn (tự quản lý công việc theo lịch trình); Làm thêm giờ nếu chưa thực hiện xong công việc đã dự định trong ngày ( tự điều chỉnh kế hoạch); Sắp xếp thời gian chấm và trả bài kiểm tra cho HS đúng hạn.

3) Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch dạy họcvới GV phổ thông được thể hiện ở: Lấy ý kiến phản hồi của HS về nội dung, phương pháp và cách thức tổ chức dạy học; Thống kê tỉ lệ HS có điểm kiểm tra dưới Trung bình; Ghi chép lại sự tiến bộ của HS;Ghi chép lại các lỗi hay mắc phải của HS; Lựa chọn, ứng dụng các phầm mềm phục vụ việc xây dựng các đề kiểm tra/thi/trắc nghiệm đạt chuẩn để đánh giá kết quả giảng dạy;Đánh giá mức độ hài lòng của bản thân đối với công việc.

4) Quản lý nguồn lực ảnh hưởng đến quá trình dạy học. Đối với GV THCS, có: Quản límôi trường học tập của HSvề cảnh quan lớp học (khung cảnh của lớp, vệ sinh, bố trí bàn ghế, trang trí…), về không khí của lớp học, các trang thiết bị phục vụ dạy học (máy chiếu, máy tính, các nguồn thông tin phục vụ quá trình dạy học). Muốn thế, GV cầnthể hiện sự nhiệt tình khi giảng dạy,sử dụng ngôn ngữ cử chỉ đúng mực,quan tâm đến đầu tóc và trang phục,nhớ và gọi đúng tên HS.

     5) Quản lý sự phát triển của bản thân liên quan đến quá trình dạy họcbao gồm việc chuẩn bị, tập hợp, khai thác các điều kiện (tài chính, nhân lực...) phục vụ cho các hoạt động dạy học để đạt được mục tiêu dạy học do mình đề ra:Có kế hoạch học tập, tự bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, Tin  học, ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp và phát triển bản thân;Tham gia các hoạt động thể dục thể thao để tăng cường sức khỏe; Dành thời gian nghỉ ngơi, giải trí phù hợp để nâng cao sức khỏe tinh thần; Kiểm tra sức khỏe định kỳ.

2.2. Vài nét vềthực trạng tự quản lý quá trình dạy học của giáo viên THCS

     Các nội dung xác định ở trên đã được cụ thể hóa bằng các biểu hiện cụ thể và được đánh giá bước đầu trên292 GV và HS THCS tại một số trường THCS của Hà Nội và Quảng Ninh thông qua phương pháp Điều tra viết,Phỏng vấn và Thống kê toán học. Kết quả cho thấy nội dung tự quản lí thứ 4 (“Quản lí nguồn lực ảnh hưởng đến quá trình dạy học của bản thân”)và thứ 5  (“Quản lí sự phát triển bản thân liên quan đến quá trình dạy học”) được đánh giá cao hơn cả trong 5 nội dung, với điểm trung bình cộng thuộc mức “Khá”(3,15 và 3,16/4 điểm), đồng thời có độ phân tán nhỏ (dao động từ 2,56đ đến 3,68đ). Trong khi đó, 3 nội dung còn lại được đánh giá chủ yếu ở mức “Trung bình”, với điểm định lượng tương ứng là: 2,48đ/4 điểm ở nội dung 1 (“Lập kế hoạch dạy học tổng thể cho quá trình dạy học của bản thân”); 2,04đ/4 điểm ở nội dung 2 (“Tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học của bản thân”) và 2,25đ/4 điểmở nội dung 3 (“Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch dạy học đã xây dựng”). Nhìn tổng quát, thực tế tự quản lí quá trình dạy học của GV còn yếu nhất ở khía cạnh“thực hiện kế hoạch” do chính bản thân mình đặt ra, tiếp đến là “đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch”, rồi đến “lập kế hoạch dạy học”.

     Khi phân tích biểu hiện cụ thể ở từng nội dung, có thể thấy được những điểm mạnh, điểm yếu của GV, đồng thời chỉ ra những công việc cụ thể mà GV còn gặp khó khăn trong tự quản lí quá trình dạy học của bản thân, thể hiện ở kết quả định lượng và định tính. Ví dụ, một số công việc được đánh giá khá tốt là “Có kế hoạch phát triển bản thân về chuyên môn và nghiệp vụ” (3,68đ/4đ), “Nhớ được tên và đặc điểm chính của tất cả HS trong lớp được phân công giảng dạy” (3,60đ/4đ), “Tự đánh giá, suy ngẫm về việc làm của bản thân” (3,60đ/4đ), “Dành thời gian nghỉ ngơi, giải trí phù hợp điều kiện bản thân để nâng cao sức khỏe tinh thần” (3,56đ/4đ).Bên cạnh đó, còn có những công việc được thực hiện ở mức “Yếu” là: “Ghi chép lại các lỗi hay mắc phải của HS” (1,48đ/4đ), “Thu thập phản hồi từ HS về nội dung, phương pháp và cách thức tổ chức dạy học” (1,60đ/4đ), “Tổ chức phụ đạo cho HS có kết quả yếu” (1,72đ/4đ), “Ghi chép lại sự tiến bộ của các HS” (1,80đ/4đ). Tương tự, ở nội dung 1 có việc “Xác định mục tiêu dạy học cho một năm học, bao gồm các chỉ số cụ thể cần đạt được” (1,72đ/4đ); hay ở nội dung 2 có việc “Kết thúc bài giảng đúng giờ” (1,92đ/4đ). Trong các công việc được đề cập đến, có một số việc hiện nay GVđang làm theo kinh nghiệm mà chưa được hướng dẫn để làm một cách khoa học, hoặc chưa phải là yêu cầu bắt buộc đối với tất cả GV, song nếu được thực hiện tốt sẽ dần giúp GV giảm bớt căng thẳng trong quá trình dạy học, do đó rất được khuyến khích để thực hiện. Kết quả nghiên cứu thực tiễn trên đây cung cấp nhữnggợi ý về đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao năng lực tự quản lí quá trình dạy học, qua đó góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và hoạt động nghề nghiệp cho GV THCS.

3. Một số biện pháp nâng cao năng lực tự quản lí quá trình dạy học ở giáo viên THCS

Biện pháp 1- Nâng cao nhận thức của bản thân giáo viên về vai trò của việc tự quản lý đối với chất lượng dạy và học trong nhà trường phổ thông nói chung, trường THCS nói riêng.Biện pháp này hướng tới làm cho giáo viên nhận thức sâu sắc về vai trò của tự quản lý quá trình giảng dạy đối với việc đáp ứng Chuẩn Giáo viên vừa là nghĩa vụ, vừa là quyền lợi của chính bản thân họ.Đồng thời tác động tích cực trong việc nâng cao ý thức tự học, tự bồi dưỡng rèn luyện năng lực nghiệp vụ sư phạmđểcó thể tự quản lý tốt công việc giảng dạy của mình. Từ đó góp phần xây dựng đội ngũ GV phổ thông ngày càng chất lượng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.

      - Đối với GV: Chủ động trao đổi học hỏi từ những GVgiàu nhiều kinh nghiệm, thường xuyên đạt kết quả tốt trong giảng dạy, rút tỉa cho bản thân những điều có thể làm theo; Tìm hiểu các yêu cầu về chất lượng công việc, từ đó nhận thức được vai trò của từng cá nhân trong việc tạo nên chất lượng của Nhà trường; Tìm hiểu kỹ Chuẩn nghề nghiệp GV và quy trình  đánh giá theo chuẩn để hình dung tổng thể về quá trình mình sẽ được đánh giá như thế nào, từ đó giúp nâng cao ý thức trong tự quản lý dạy học của bản thân;Tìm hiểu về các yêu cầu đối với HS sau khi tốt nghiệp trường phổ thông để nhận thức rõ hơn một trong các yêu cầu đối với “sản phẩm” trong quá trình dạy học của mình là năng lực tự quản lý.

     - Đối với Ban Giám hiệu: Tổ chức trao đổi giữa lãnh đạo nhà trường với GV về vai trò của mỗi cá nhân trong tổ chức nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của GV với công việc của mình, từ đó nâng cao ý thức tự quản lý công việc của GV; Tổ chức các buổi seminar, trao đổi kinh nghiệm giữa các GV có cách thức tổ chức quản lý công việc tốt, qua đó chia sẻ những phương pháp quản lý công việc hiệu quả, đặc biệt là các công việc liên quan đến giảng dạy; Tặng thưởng cho những GV có kết quả thực hiện công việc tốt để họ được khuyến khích và được công nhận về các thành quả đem lại từ tự quản lý, từ đó tạo động lực cho các GV khác nâng cao ý thức tự quản lý tốt công việc dạy học của mình.

Biện pháp 2 –Tổ chức rèn luyện nâng cao khả năng lập kế hoạch dạy học của giáo viên THCSthông qua việc trang bị cho GV một số kĩ năng lập kế hoạch (cho năm học, tuần, ngày, bài dạy) với những hướng dẫn cụ thể. Biện pháp này có ý nghĩa đối với GV trong việc làm chủ thời gian, nguồn nội lực của mình, tự giác, tích cực, độc lập và chủ động thực hiện tốt nhiệm vụ giảng dạy với thời gian, công sức ít nhất. Đồng thời, có cơ sở nắm chắc tình trạng giảng dạy của mình để điều khiển, kiểm tra, giám sát, điều chỉnh quá trình giảng dạy một cách chặt chẽ, khoa học vàchủ động trong việc tổ chức, triển khai và đánh giá kết quả học tập của HS.

   - Đối với GV : Xác định rõ nội dung và yêu cầu công việc cần phải hoàn thành trong quá trình dạy học và các tiêu chí đánh giá các công việc đó; Tự đánh giá khả năng giảng dạy trong việc đáp ứng các yêu cầu được quy định trong Chuẩn nghề nghiệp, các yêu cầu của Nhà trường và các yêu cầu của thực tế xã hội, từ đó xác lập mục tiêu dạy học cho  mình được chuẩn xác hơn; Xác định quỹ thời gian mà mình có, chia nhỏ các công việc đưa vào các khung thời gian thích hợp; Xác định chu kỳ sinh học của bản thân để có sự sắp xếp công việc hợp lý, tăng hiệu quả của các công việc; Tìm hiểu các thành phần cần có của một bản kế hoạch cho năm học, hình thành và hoàn thiện các nội dung của bản Kế hoạch năm học; Tham khảo Kế hoạch năm học của nhà trường để có được số liệu và định hướng phát triển chung của nhà trường, từ đó xác định mục tiêu dạy học cho phù hợp; Xác định mục tiêu cho giảng dạy chuyên môn phải được cân nhắc kỹ lưỡng để đảm bảo tính cụ thể, đo lường được, khả thi, phù hợp, có thời hạn rõ rệt (ví dụ, gợi ý của S.M.A.R.T); Nghiên cứu các phương pháp lập kế hoạch hiệu quả qua internet, sách báo…để chọn cho mình một phương pháp phù hợp nhất; Rèn luyện khả năng ước lượng công việc có thể hoàn thành thông qua nhận diện sở trường, sở đoản của bản thân ; Sử dụng đa dạng công cụ Kế hoạch thời gian có sẵn để nâng cao hiệu quả lập kế hoạch công việc như công cụ điện tử…

     - Đối với Ban Giám hiệu :Công khai bản “Kế hoạch năm học” của Nhà trường đến với toàn bộ GV vào đầu năm học để GV có căn cứ làm kế hoạch cá nhân;Nêu rõ các yêu cầu và các tiêu chí đánh giá vào đầu năm học để GV có hình dung cụ thể trong công việc và yêu cầu về chất lượng ;Tổ chức cho GVbồi dưỡng lẫn nhau về các phương pháp lập kế hoạch hiệu quả thông qua sinh hoạt chuyên môn, chuyên đề, hội nghị chia sẻ kinh nghiệm ;Ban hành mẫu biểu về bản kế hoạch cá nhân để giáo viên lấy đó làm chuẩn, từ đó điền các nội dung theo yêu cầu;Khi xem xét xếp loại thi đua cuối năm, có xem xét đến việc đạt các tiêu chí trong bản kế hoạch cá nhân của GV ; Tiến hành kiếm tra giáo án của GV thường xuyên,đặc biệt là giáo án nên in ra giấy để theo dõi.

Biện pháp 3 –Tổ chức rèn luyện nâng cao khả năng tổ chức thực hiện kế hoạch dạy họccho giáo viên. Biện pháp này hướng đến việc đảm bảo để mọi kế hoạch giảng dạy đều được triển khai thực hiện đúng thời gian, tiến độ, đáp ứng yêu cầu đề ra, không bị bỏ sót nội dung, không chồng chéo. Đồng thời để mọi hoạt động trong nhà trường diễn ra một cách nhịp nhàng, có thể kịp thời phát hiện những sai sót trong quá trình xây dựng kế hoạch, cũng như rủi ro khi tổ chức thực hiện để điều chỉnh kế hoạch giảng dạy cho phù hợp.Ý nghĩa của nó là nâng cao khả năng làm việc theo kế hoạch, đảm bảo được chất lượng công việc, kiểm soát được những rủi ro do những công việc mới phát sinh mang lại.

- Đối với GV :Sử dụng các phương tiện nhắc việc, nhắc giờ để đảm bảo không bị bỏ sót các công việc đã được lên kế hoạch như giấy nhắc việc, hẹn giờ báo… ; Sử dụng sổ “Báo giảng” để ghi lại tiến độ giảng dạy ; Thực hiện nguyên tắc 30s để không trì hoãn ; Rèn luyện khả năng điều khiển và tổ chức lớp học đểtránh tình trạng hết giờ rồi mà chưa kết thúc được bài giảng ; Lập nội quy của lớp học để tránh mất thời gian giải quyết các vấn đề nảy sinh trong lớp học không liên quan đến việc học tập...

     - Đối với BanGiám hiệu : Ban hành mẫu Sổ báo giảng, làm phương tiện để giáo viên có thể theo dõi và quản lý tốt tiến độ giảng dạy của mình ; Phổ biến đến toàn GV Lịch trình năm học và Phân phối chương trình chi tiết đến từng GV ngay từ những ngày đầu năm học để họ nắm được lịch trình chung ; Tổ chức các buổi chia sẻ về kỹ năng quản lý thời gian và khoa học tổ chức lao động để GV có cơ hội được tiếp xúc với các khái niệm mới này giúp họ vận dụng vào công việc của mình; Tổ chức kiểm tra định kì tiến độ giảng dạy của GVđể GV có một áp lực từ phía Quản lý để họ luôn có trách nhiệm tự điều chỉnh hoạt động dạy học của mình theo đúng kế hoạch đề ra ; Ban hành quy chế quy định về thời gian chấm và trả bài kiểm tra. Phổ biến quy chế này cho toàn bộ HS để GV có một áp lực về thời gian trong việc chấm chữa bài.

Biện pháp 4 – Tổ chức rèn luyệnnâng cao khả năng tự đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch dạy học và tự điều chỉnh quá trình dạy học một cách phù hợp.Mục đích là giúp GV tự điều chỉnh quá trình dạy học một cách phù hợp, đồng thời đảm bảo tính khách quan, công bằng, chính xác, thúc đẩy tinh thần thi đua dạy tốt, phát huy tính sáng tạo không ngừng vươn lên của đội ngũ thầy cô giáo.Trên cơ sở đó tạo động lực tốt thúc đẩy hoạt động dạy và học của GV nhằm đưa chất lượng của nhà trường ngày càng tốt hơn.

- Đối với GV: Thực hiện tự kiểm tra giờ dạy trên lớp để rút kinh nghiệm cho các giờ học sau; Tự tiến hành tổng kết và rút kinh nghiệm qua mỗi lần kiểm tra, đánh giá về chuyên môn, phát hiện kịp thời những thiếu sót, lệch lạc, qua đó tự khắc phục sửa chữa; Thường xuyên thống kê tỉ lệ HS có điểm kiểm tra dưới trung bình  để có kế hoạch bồi dưỡng,giảng dạy phù hợp với khả năng, trình độ nhận thức của HS; Ghi chép lại sự tiến bộ của HS  để có những động viên kịp thời đến HS; Sử dụng sổ “Chấm chữa” để ghi chép lại các lỗi hay mắc phải của HS, từ đó có những điều chỉnh kịp thời trong dạy học; Lựa chọn, ứng dụng các phầm mềm phục vụ việc xây dựng các đề kiểm tra/thi/trắc nghiệm đạt chuẩn để đánh giá kết quả giảng dạy; Sau khi đã thực hiện xong một tiết dạy, luôn tự đặt cho mình các câu hỏi:  Bài học giảng đã đạt mục tiêu chưa? Các phương pháp đã phù hợp với học sinh chưa? Các phương tiện sử dụng trong lớp đã hiệu quả chưa? Mình có hài lòng với bài dạy đó không?...

     - Đối với Ban Giám hiệu nhà trường: Ban hành mẫu “Sổ chấm chữa” giúp GV có phương tiện để ghi lại các lỗi sai của học sinh; Tổ chức tập huấn cho GV sử dụng các phần mềm thống kê để tiết kiệm thời gian cho việc tính toán; Ban hành quy chế yêu cầu GV thống kê tỉ lệ điểm kiểm tra trên trung bình đối với tất cả các bài kiểm tra…

(Bài đã đăng trên tạp chí Khoa học Giáo dục, số tháng 4/2015)

 

Tài liệu tham khảo chính

1.      Crawford, L. E. D. & Shutler, P. (1999) Total Quality Management in education: problems and issues for the classroom teacher. The International Journal of Educational Management 13, 2, 67-72.

2.      David P.Baker & Gerald K. LeTendre (2010). Khác biệt quốc gia, đồng dạng toàn cầu.Văn hóa thế giới và tương lai của giáo dục học đường.  NXB Văn hóa Sài Gòn và Đại học Hoa Sen, TP Hồ Chí Minh.

3.      Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo (2008). Quản lý giáo dục. NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.

4.      Trần Kiểm (2008). Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lý giáo dục. NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.

Publish: 10/5/2015 - Views: 2477 - Lastest update: 10/5/2015 9:51:58 AM
Tin cùng chuyên mục