Email: email@ioer.edu.vn | vncsp@hnue.edu.vn
Bàn tròn giáo dục

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI VIỆT NAM (VNEN)

Trương Thị Bích

Viện Nghiên cứu Sư phạm -  Đại học Sư phạm Hà Nội

1. Mở đầu

Dạy học hướng vào người học là luận điểm then chốt của lý luận dạy học hiện đại, là bản chất của đổi mới phương pháp dạy - học. Mô hình trường học mới tại Việt Nam (VNEN) đã quán triệt quan điểm này với một loạt hoạt động đổi mới : đổi mới về tổ chức lớp học, về tài liệu dạy – học, về phương pháp dạy – học, về đánh giá học sinh, về quan hệ với cha mẹ học sinh và cộng đồng. Được bắt đầu triển khai thí điểm từ năm 2012, cho đến nay, mô hình trường học mới này đã nhận được những phản hồi cả tích cực và chưa tích cực. Ưu điểm nổi bật của mô hình dạy học này là rèn luyện cho học sinh (HS) sự tự tin, tích cực, bản lĩnh chủ động xử lý các tình huống trong cuộc sống. Sau một thời gian triển khai thử nghiệm, tổng kết, rút kinh nghiệm, rất nhiều tác giả, với những công trình khoa học của mình, đã công bố những kết luận, những bài học kinh nghiệm về bản chất cũng như thực trạng của quan điểm dạy học mới này. Đặng Tự Ân trong Mô hình trường học mới Việt Nam. Hỏi – Đáp [1] đã có những trình bày, kiến giải tường minh, khúc chiết, giản dị các vấn đề xoay quanh mô hình dạy học VNEN, rất phù hợp với số đông GV chưa có điều kiện tiếp cận với mô hình dạy học này. Bên cạnh đó, để bắt đầu cho quá trình chuẩn bị và song song thực hiện dạy học mô hình này trên một số địa bàn, Bộ Giáo dục & Đào tạo đã tập hợp lực lượng chuyên gia xây dựng một bộ tài liệu tập huấn đủ các chủ đề, các môn học bậc Tiểu học [3], [4], [5], [6], [7], [8]. Bộ Tài liệu này bước đầu là những cẩm nang cho GV trong viêc dạy học theo mô hình tại địa phương. Tuy nhiên, thời gian chuẩn bị biên soạn chưa nhiều nên tài liệu không tránh khỏi những bất cập, hạn chế (về mức độ khó, dễ của bài tập, về sự dài, ngắn của dung lượng, về sự không phù hợp của phần ngữ liệu ,…). Trên cơ sở thực trạng này, bài viết bước đầu đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học của mô hình mới này tại các trường Tiểu học.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Sơ lược về mô hình trường học mới Việt Nam (VNEN)

2.1.1. Một vài nét về mô hình trường học kiểu mới (EN)

Mô hình trường học kiểu mới (Escuela Nueva) được hình thành và phát triển ở khu vực Caldas – một trong 32 thực thể hành chính của Colombia (nơi mà mô hình này được Ngân hàng thế giới giới thiệu điển hình). Vai trò phát triển giáo dục ở đây có sự tham gia của nhà nước gắn bó với Hiệp hội cà phê và các tổ chức xã hội khác.

Hiệp hội các nhà trồng cà phê Caldas (CGC) đã được thành lập vào năm 1927. Để giải quyết vấn đề nhân lực, vốn chủ sở hữu, tình trạng học sinh bỏ học và chất lượng giáo dục thấp trong các trường học nông thôn ở Caldas, các CGC bắt đầu đầu tư vào giáo dục Tiểu học từ năm 1981 thông qua phương pháp học mới tại các trường học nông thôn [1]. 

Mục tiêu của sáng kiến trường học mới ở Caldas của CGC năm 1981 là tăng cường giáo dục nông thôn (từ lớp 1 đến lớp 5) và cung cấp một nền giáo dục năng động hơn. Theo dữ liệu có sẵn từ CGC, chương trình đạt trực tiếp 1.113 trường học trong khu vực Caldas, phục vụ bình quân 50.000 học sinh hàng năm, đào tạo được khoảng 3.200 giáo viên để cải thiện cách tiếp cận kiến tạo của họ.

Các nguyên tắc dạy học kiến tạo của mô hình trường học mới :

- Học sinh là trung tâm của quá trình học tập.

- Học sinh thiết lập nhịp điệu và tốc độ của riêng họ cho việc học, với một chương trình đào tạo đó là tự học và khuyến khích làm việc theo nhóm.

- Phương pháp giảng dạy thúc đẩy tự học, khuyến khích sáng kiến của học sinh và sự sáng tạo.

- Mỗi trường thiết lập mối quan hệ chặt chẽ giữa các cộng đồng và trường học trong đó các thành viên trong gia đình tham gia vào quá trình giáo dục.

- Hội đồng tự quản học sinh sử dụng các chiến lược để đảm bảo sự tham gia tích cực của thành viên trong đời sống dân chủ của trường, trong đó tăng cường các giá trị như hợp tác, tôn trọng và làm việc nhóm.

Mô hình trường học mới là xương sống của tất cả các chương trình hỗ trợ đổi mới giáo dục của Hiệp hội cà phê. Các CGC đã mở rộng mô hình này và tạo ra các chương trình mới sau giáo dục Tiểu học cho THCS (lớp 6-9) và THPT (lớp 10, 11). Tất cả đều sử dụng phương pháp tiếp cận kiến tạo.

 2.1.2. Một vài nét về mô hình trường học mới Việt Nam (VNEN)

Mô hình trường học mới Việt Nam là dự án do Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Quỹ hỗ trợ phát triển giáo dục toàn cầu (GPE – Global Partnership for Education) triển khai ở các trường Tiểu học trên toàn quốc từ 6/2012 đến 6/2015. Mô hình này vừa kế thừa những mặt tích cực của mô hình trường học truyền thống, vừa có sự đổi mới căn bản về mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình, tài liệu học tập, phương pháp dạy học, cách đánh giá, cách tổ chức quản lí lớp học, cơ sở vật chất phục vụ cho dạy – học.

Mô hình VNEN là một trong những mô hình nhà trường phát triển theo xu hướng hiện đại, với định hướng tiếp cận là giáo dục năng lực của người học. Dựa trên cơ sở mô hình dạy học truyền thống, Dự án GPE-VNEN đã tiến hành nghiên cứu, chuyển đổi các thành tố trong Chương trình dạy học, đặc biệt các nội dung về mặt sư phạm theo định hướng tiếp cận giáo dục của mô hình.

Mô hình VNEN là một quá trình chuyển đổi từ mô hình dạy học chủ yếu truyền thụ kiến thức sang mô hình dạy học, giáo dục hình thành nhân cách và phát triển năng lực của học sinh.

Nhìn chung, theo tư tưởng đổi mới của mô hình VNEN, quá trình dạy học và giáo dục, được hiểu là :

• Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động của học sinh. Tổ chức các hoạt động học tập của học sinh cần phải trở thành trung tâm của quá trình giáo dục.

• Chú trọng rèn luyện phương pháp tự học, phương pháp tư duy và phương pháp giải quyết vấn đề. Đây là những phẩm chất và điều kiện tốt nhất để có thể duy trì thói quen học tập thường xuyên và học tập suốt đời.

• Tăng cường học tập của mỗi cá nhân, phối hợp với học hợp tác và học nhóm. Học sinh là chủ thể của quá trình học, tự mình chủ động chiếm lĩnh kiến thức. Tạo ra môi trường học tập tương tác, thày - trò, trò - trò vì thế nó có tác dụng rất tốt để phát huy năng lực của mỗi cá nhân học sinh.

• Dạy và học chú trọng tới sự quan tâm và hứng thú của học sinh, nhu cầu và lợi ích của xã hội. Dạy học sinh trên những gì các em đã có, tạo hứng thú, óc tò mò, sáng tạo cho học sinh. Học sinh phải biết cách làm việc độc lập, sáng tạo, biết tổ chức công việc để giải quyết các đòi hỏi của xã hội và nhu cầu đa dạng, phức tạp của công việc sau này.

• Dạy và học coi trọng hướng dẫn tìm tòi, học qua trải nghiệm. Giáo viên hướng dẫn mang tính định hướng mà không có ý áp đặt trong quá trình học của học sinh.

• Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò, của gia đình, cộng đồng. Ngoài đánh giá kết quả học (đánh giá kết thúc) rất coi trọng đánh giá bằng nhận xét qua quá trình học của học sinh (đánh giá theo tiến trình, đánh giá theo từng phần).

2.2. Những ưu điểm và hạn chế trong dạy học của mô hình VNEN

2.2.1. Ưu điểm

Mô hình VNEN là mô hình giáo dục được cải tiến nhằm khắc phục những hạn chế của giáo dục truyền thống; là quá trình tổ chức cho học sinh hoạt động để khám phá và chiếm lĩnh các kiến thức và kỹ thức mới. Bản chất quá trình học tập của VNEN được diễn ra thông qua đối thoại và tương tác lẫn nhau giữa học sinh với học sinh, giữa học sinh với giáo viên. Trong quá trình triển khai, mô hình này đã thể hiện rõ những ưu điểm sau:

Thứ nhất, học sinh được học theo mô hình này chắc chắn sẽ phát triển toàn diện hơn, các em có năng lực ứng xử với thực tế cuộc sống tốt hơn. Học sinh đã tỏ rõ sự mạnh dạn, tự tin hơn trong giao tiếp, kĩ năng sống của các em theo đó được phát triển. Điều này, HS học theo mô hình hiện hành không có.

Thứ hai, cán bộ, giáo viên đã có thay đổi sâu sắc quan niệm về nhà trường. Nhà trường không chỉ là nơi dạy chữ mà còn là nơi dạy, chăm sóc toàn diện cho học sinh. Đây thực sự là môi trường học tập, vui chơi thân thiện, nơi gắn kết các mối quan hệ: quan hệ giữa học sinh với học sinh, giữa nhà trường với học sinh, giữa nhà trường và cha mẹ học sinh, giữa giáo viên với học sinh. Trong môi trường này, các hoạt động giáo dục được thực hiện rất dân chủ, thân thiện, tạo cảm giác tin cậy, ấm áp đối với học sinh.

Thứ ba, mô hình dạy học đã làm thay đổi quá trình sư phạm của giáo viên. Giáo viên đã từ chỗ một mình, tự mình quyết định cung cấp cho học sinh những kiến thức gì trong môn học với cách dạy hiện hành thì ở mô hình này, “quyền năng” đó đã được san sẻ cho học sinh với sự gợi ý của tài liệu Hướng dẫn học. Học sinh đã thực sự làm chủ cách học, làm chủ kiến thức.

Thứ tư, với mô hình này, học sinh được phát triển các năng lực (năng lực tự quản, năng lực hợp tác, năng lực quản lí, năng lực thuyết trình,...), đáp ứng yêu cầu của đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục nước nhà, đào tạo con người theo định hướng phát triển năng lực.

Với cách thức tổ chức hoạt động nhóm, học sinh được phát huy tối đa sự hiểu biết, năng lực của bản thân; số lần học sinh được bày tỏ ý kiến nhiều hơn; những học sinh yếu được giáo viên quan tâm nhiều hơn và được các bạn trong nhóm giúp đỡ để hoàn thành nhiệm vụ. Điểm khác biệt lớn nhất là trước kia để đánh giá được mức độ hiểu bài của học sinh sau mỗi tiết học, giáo viên cũng chỉ có thể kiểm tra một vài học sinh; nhưng ở mô hình này, tất cả học sinh đều được các bạn khác trong nhóm kiểm tra nên không xảy ra tình trạng “bị bỏ rơi”.

 Với chất lượng học tập tại các lớp học VNEN, học sinh phát huy được “5 tự”: tự học, tự sáng tạo, tự tin, tự giác, tự chủ. Đảm bảo mục tiêu: chuyển giáo dục sang tự giáo dục; việc dạy của giáo viên sang thành việc học của học sinh; dạy học theo lớp chuyển thành học theo nhóm và học theo thầy thành học theo sách. Học sinh phát huy tốt kỹ năng: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hợp tác, kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau [2].

Thứ năm, thực hiện chương trình VNEN mở ra cơ hội để sự phối hợp nhà trường với các đoàn thể, giữa giáo viên với phụ huynh và cộng đồng xã hội chặt chẽ hơn. Phụ huynh trực tiếp tham gia giáo dục con em mình, trực tiếp tham gia dạy con em mình thông qua việc thực hành kỹ năng của các em. Nhà trường thường xuyên liên lạc và phối hợp với phụ huynh và các tổ chức xã hội, vấn đề xã hội hóa giáo dục tiến hành rất tốt. Dư luận và phụ huynh đồng tình, ủng hộ và mong muốn tham gia vào công việc chung của nhà trường, của lớp để thể hiện trách nhiệm. Vì vậy, công tác xã hội hóa quá trình giáo dục không cần hô hào mà đã trở thành nhu cầu tự thân. Rất nhiều hiệu ứng tích cực từ các lớp học VNEN đã tạo ra không khí lao động sáng tạo ở mỗi nhà trường, điều mà trước đây ở mô hình dạy học hiện hành là không thể có được [3].

Điểm mới có tính chất tiên quyết trong mô hình VNEN là cách soạn tài liệu Hướng dẫn học. Hoạt động đổi mới về tài liệu Hướng dẫn học là khâu quan trọng, quyết định đến việc thực hiện hiệu quả dạy học “lấy người học làm trung tâm”. Tài liệu học tập “ba trong một” (Tài liệu hướng dẫn học dùng cho cả ba đối tượng : giáo viên, học sinh, phụ huynh) đã mang lại những ưu điểm nổi bật : Học sinh tự học, hiểu và làm được như sách hướng dẫn, giáo viên hiểu để tổ chức tốt cho học sinh học, cha mẹ hiểu con học những gì và học như thế nào. Thực sự, đây là bước đột phá cho công cuộc đổi mới phương pháp dạy học. Có thể chốt lại điểm mạnh của mô hình VNEN:

Mô hình VNEN làm thay đổi nhà trường

(i) Lấy hoạt động học của học sinh làm trung tâm.

(ii) Đưa ra một chương trình học phong phú và bổ ích.

(iii) Thúc đẩy việc học tập của học sinh. Giúp học sinh :

- Tự tin, biết cách suy nghĩ;

- Biết cộng tác, hợp tác với mọi người;

- Có kĩ năng làm việc nhóm;

- Biết quan tâm, có trách nhiệm trong các hoạt động;

- Biết phấn đấu, làm chủ quá trình học tập của mình;

- Có nhiều kĩ năng trong giao tiếp và kĩ năng sống;

(vi) Thay đổi quy trình sư phạm của giáo viên :

- Nghiệp vụ sư phạm theo hướng đổi mới được nâng cao hơn;

- Có kĩ năng điều hành các hoạt động dạy học;

- Biết cộng tác theo xu hướng tích cực trong giáo dục;

- Biết quan tâm và hỗ trợ đồng nghiệp;

 (vii) Đối với cha mẹ học sinh, cộng đồng :

- Có trách nhiệm và tham gia với nhà trường nhiều hơn;

- Hỗ trợ các hoạt động cụ thể cho nhà trường;

- Được tiếp nhận, bổ sung tri thức từ nhà trường thông qua học sinh;

2.2.2. Những hạn chế, bất cập

Học sinh Tiểu học còn nhỏ, một số học sinh còn hạn chế về kĩ năng sử dụng Tiếng Việt nên còn khó khăn trong việc giải quyết các yêu cầu trong bài.

Học sinh nông thôn giao tiếp còn yếu.

Sĩ số học sinh trong lớp còn quá đông, rất khó cho việc chia nhóm, kê lại bàn ghế đủ cho học sinh trong một lớp thực hiện dạy học theo mô hình mới. Theo quy chuẩn thì mô hình trường học mới cần phòng học tối thiểu 100 m2 trong khi thực tế phòng học của các lớp chỉ rộng 50 m2.

Không phát huy được khả năng sáng tạo của giáo viên : những hoạt động ứng dụng cho học sinh rất rập khuôn; tài liệu dạy học được hướng dẫn quá tỉ mỉ.

Không sử dụng tới các thiết bị ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy và học.

Tài liệu Hướng dẫn học còn nhiều “hạt sạn”. Cụ thể :

- Tài liệu được biên soạn quá dài. Học sinh ngại đọc. Nhất là với đối tượng HS lớp 1, 2. Một số em còn chưa đọc thông viết thạo nên quá trình tự đọc và làm bài rất khó khăn.

- Bài tập ứng dụng quá khó. Nếu giáo viên không hướng dẫn sẽ không làm được.

- Nhiều ngữ liệu chưa phù hợp với các vùng, miền.

- Các logo có khi không phù hợp.

- Chưa khai thác được trí thông minh của học sinh.

- Học sinh rất ồn. Cách bố trí học nhóm tạo điều kiện cho một số em lười học nói chuyện riêng trong khi cô giáo bận đi hướng dẫn các nhóm khác.

- Có một số tiết của một số môn, học sinh không thể ghi kịp đề bài vào vở để làm (SGK hiện hành có vở Bài tập ghi đề bài sẵn, học sinh chỉ việc điền vào).

- Một số nội dung chưa phù hợp trong tài liệu Hướng dẫn học :

Tài liệu Hướng dẫn học Tiếng Việt 3 [4]:

Bài 28C: Vui chơi có những lợi ích gì?

A.Hoạt động cơ bản

HĐ1: Logo nhóm- cần chỉnh logo hoạt động chung cả lớp. Vì yêu cầu của hoạt động là cả lớp hát một bài về vui chơi hoặc thể thao.

Tài liệu Hướng dẫn học Toán 3 [5]:

Phần nhiều ở các hoạt động thực hành: Hầu như HS không đủ thời gian làm bài thực hành trong một tiết, ở lớp giỏi thì HS hoàn thành khoảng 2 tiết, ở lớp trung bình, yếu thì HS hoàn thành khoảng 3 tiết. Vì vậy, đề nghị các bài toán hoạt động thực hành cần phân bố ra 2-3 tiết để đảm bảo thời gian làm bài cho HS ở các vùng miền học chậm hơn.

- Chưa chú trọng đến các bài tập dành cho từng đối tượng học sinh.

Tài liệu Hướng dẫn học Tiếng Việt 2 [6]:

- Tập 1A - Bài 5B:Một người bạn tốt

- Câu B dòng cuối, trò chơi thi tìm từ nhanh có vần en / eng.

- Cùng nghĩa với xấu hổ (mắc cỡ) câu hỏi này khó, học sinh tìm không được tiếng thẹn. Phải nhờ sự hỗ trợ của giáo viên.

- Bài 5C: Cùng tìm sách để học tốt.

- Tìm các tiếng có vần en/eng.

- Tranh đầu tiên là hình người cầm chiếc khèn nhưng học sinh không nhìn rõ nên không nêu được, phải nhờ sự hỗ trợ của giáo viên cung cấp. Chỉ phù hợp với một số vùng miền.

- Tập 1B, bài 15A: Anh em yêu thương nhau.

- Bài 4 trang 71. Đọc theo mẫu.

a) Đọc từ ngữ, từ rất đỗi, lặp lại 2 lần.

Tài liệu Hướng dẫn học Tự nhiên Xã hội 2 [7] :

- Bài 7: Em cần làm gì khi ở nhà : Các hình chụp quá nhỏ học sinh không quan sát được.

Những hạn chế trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng dạy học VNEN. Rất cần thiết phải có những điều chỉnh kịp thời (cả Tài liệu Hướng dẫn học và tập huấn cho giáo viên).

2.3. Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học theo mô hình VNEN

2.3.1. Tiếp tục bồi dưỡng, tập huấn cho GV về bản chất của mô hình trường học mới VNEN

GV cần hiểu thấu đáo cơ sở khoa học và thực tiễn, ý đồ soạn thảo và vận dụng của tài liệu Hướng dẫn học.

Bồi dưỡng cho GV ý thức sâu sắc về sự tự học, tự bồi dưỡng, tích cực học hỏi kinh nghiệm đồng nghiệp.

Chỉ khi hiểu thấu đáo bản chất của mô hình trường học VNEN, GV mới đủ tự tin và bản lĩnh để linh hoạt triển khai dạy học hiệu quả theo mô hình này.

2.3.2. Điều chỉnh tài liệu Hướng dẫn học phù hợp với hoàn cảnh dạy học và đặc điểm học sinh

2.3.2.1. Mục tiêu điều chỉnh:

Chất lượng dạy học phụ thuộc nhiều vào chất lượng tài liệu dạy học. Mặt khác, tài liệu chỉ có thể nêu ra một phương án cụ thể về kế hoạch bài học cho học sinh và giáo viên. Vì thế, nó không thể thích ứng cho mọi vùng miền và mọi đối tượng học sinh. Tổ chức cho giáo viên điều chỉnh tài liệu VNEN vừa làm cho chất lượng dạy học, chất lượng giáo dục tốt lên, vừa nâng cao năng lực nghiên cứu sư phạm, ý thức chủ động, sáng tạo của mỗi giáo viên - người trực tiếp sử dụng tài liệu.

2.3.2.2. Nguyên tắc điều chỉnh:

Bảo đảm yêu cầu về chuẩn kiến thức và kĩ năng; phù hợp với học sinh; phù hợp với năng lực của giáo viên và các điều kiện của địa phương; phù hợp nguyên tắc, cấu trúc tài liệu theo mô hình VNEN.

Cần xây dựng bảng tiêu chí cho việc điều chỉnh tài liệu VNEN. Giáo viên nên phân tích tài liệu theo những tiêu chí này và tạo ra các thay đổi cần thiết trước khi học sinh được đọc tài liệu Hướng dẫn học. Như vậy, các hướng dẫn của giáo viên sẽ phù hợp với môi trường và nhu cầu của học sinh, quá trình giáo dục sẽ cuốn hút học sinh tham gia một cách tích cực hơn.

2.3.2.3. Một số điều chỉnh và cách thức triển khai các điều chỉnh:

* Điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy học.

- Tăng/giảm thời lượng cho mỗi hoạt động học tập

- Điều chỉnh yêu cầu (lệnh) của hoạt động.

- Thay đổi, điều chỉnh ngữ liệu.

- Thêm mẫu thực hiện, thêm gợi ý.

- Thêm nội dung phân tích mẫu.

- Thay đổi đồ dùng dạy học.

- Điều chỉnh hình thức lưu giữ kết quả hoạt động.

- Điều chỉnh hoạt động để thực hiện phân hóa cao hơn.

- Sáng tạo các bài tập ứng dụng

Dưới đây là một vài cách thức để giảm độ khó của hoạt động (dành cho học sinh dưới chuẩn) và tăng độ thú vị (dành cho học sinh khá, giỏi).

Giảm độ khó bằng cách:

- Bổ sung phần lệnh để có điều kiện chỉ dẫn thêm cách làm bài.

- Bổ sung vào phần dẫn để giúp học sinh dễ dàng tìm ý.

- Thay phần ngữ liệu cho gần gũi với học sinh.

- Thay thế ngữ liệu bằng ngữ liệu tường minh đơn giản hơn.

Tăng độ thú vị bằng cách:

- Tác động vào phần lệnh, thay đổi vai nói, vai tiếp nhận tạo điều kiện cho học sinh sáng tạo.

- Xây dựng ngữ liệu tạo điều kiện cho học sinh phát huy trí tưởng tượng và sáng tạo. Thêm yêu cầu của phần lệnh hoặc điều chỉnh yêu cẩu của phần lệnh thú vị hơn.

* Điều chỉnh hình thức tổ chức dạy học :

- Điều chỉnh thành viên nhóm, phiên chế lại nhóm

Các thành viên trong nhóm không phải được tạo ra một lần và không thay đổi. Tùy thuộc vào trình độ học sinh, những thuận lợi và khó khăn của mỗi em trong học tập, giáo viên sẽ điều chỉnh thành viên nhóm, phiên chế lại nhóm.

- Thay đổi tương tác thầy - trò, trò – trò

Có hoạt động trong tài liệu học làm việc cá nhân nhưng giáo viên tự thấy học sinh lớp mình còn yếu về kĩ năng này, làm việc cá nhân sẽ khó kiểm soát và chưa hiệu quả thì có thể thay đổi bằng cặp đôi hoặc nhóm lớn. Giáo viên có thể làm việc với từng nhóm, từng học sinh nếu thấy cần thiết.

- Thay đổi vai của từng thành viên trong nhóm

Nhiệm vụ giao cho mỗi thành viên cần được luân phiên thay đổi để mỗi học sinh có cơ hội trải nghiệm.

2.3.3. Xây dựng kế hoạch dạy học trên lớp

Tinh thần của dạy học theo mô hình VNEN là giáo viên không phải soạn giáo án, bởi tài liệu Hướng dẫn học đã chỉ dẫn từng hoạt động rất cụ thể và tường minh. Tuy nhiên, trong điều kiện tài liệu Hướng dẫn học còn nhiều bất cập và chưa phù hợp với hoàn cảnh, môi trường cũng như đặc điểm của học sinh từng vùng miền và sự cần thiết phải điều chỉnh lại nội dung, phương pháp dạy học, điều chỉnh các hình thức tổ chức dạy học như trên thì việc giáo viên phải bỏ thời gian, công sức nghiên cứu bài học, đọc thêm tài liệu tham khảo để hiểu thấu đáo nội dung bài học, để hình dung trước các tình huống có thể xảy ra với học sinh của mình trong quá trình tiếp nhận kiến thức trên lớp là điều hết sức cần thiết. Giáo viên có thể không phải soạn giáo án một cách công phu, đảm bảo đúng trình tự quy định như giáo án của cách dạy hiện hành nhưng diễn tiến của tiết dạy, các kiến thức cần ghi bảng hay học sinh cần ghi vào vở,… giáo viên phải chuẩn bị thật công phu để có thể xử lý linh hoạt trong quá trình tổ chức dạy học trên lớp.

3. Kết luận

Nhìn chung, mô hình trường học mới Việt Nam (VNEN), mặc dù vẫn còn những hạn chế (quan điểm của xã hội, điều kiện cơ sở vật chất, tài liệu Hướng dẫn học, nhận thức của phụ huynh, trình độ của giáo viên,…) nhưng cơ bản đã thể hiện được những ưu điểm vượt trội so với mô hình dạy học truyền thống. Cách thức tổ chức tài liệu học “ba trong một” cùng với hình thức dạy học nhóm triệt để đã tạo nên điểm đổi mới thuyết phục của mô hình dạy học này. Theo đó, người học thực sự là trung tâm của quá trình giáo dục. Giáo viên thực sự trở thành người hướng dẫn, tổ chức cho học sinh trải nghiệm, tự rút ra kiến thức mới. Để giảm thiểu những hạn chế, để phát huy những ưu điểm, cần tiếp tục bồi dưỡng, tập huấn cho giáo viên bản chất của VNEN; cần điều chỉnh tài liệu Hướng dẫn học ; cần xây dựng kế hoạch dạy – học trên lớp. Các biện pháp này nếu được thực hiện nghiêm túc thì chắc chắn mô hình VNEN sẽ là mô hình dạy học của tương lai, góp phần đưa giáo dục Việt Nam hội nhập với khu vực và thế giới.

 TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đặng Tự Ân, Mô hình trường học mới Việt Nam. Hỏi – Đáp. NXB Giáo dục Việt Nam, 2014.

2. Trần Trung Ninh, Những xu hướng đổi mới đào tạo giáo viên - Bài học từ các nước Mĩ La Tinh và ở Colombia, Tài liệu Hội thảo Đào tạo nghiệp vụ sư phạm ở trường đại học Sư phạm Hà Nội, 1/2014, tr. 19.

3. Bộ Giáo dục và Đào tạo – Vụ Giáo dục Tiểu học – Dự án Mô hình trường học mới Việt Nam, Hướng dẫn tổ chức sinh hoạt chuyên môn tại các trường thực hiện mô hình trường học mới Việt Nam, NXB Giáo dục Việt Nam, 2013.

4. Mô hình trường học mới – Bước đột phá về cách dạy và cách học, theo Báo Giáo dục và thời đại, 8/11/2013.

5. Bộ Giáo dục và Đào tạo – Vụ Giáo dục Tiểu học – Dự án Mô hình trường học mới Việt Nam, Tài liệu Hướng dẫn học Tiếng Việt 3, NXB Giáo dục Việt Nam, 2013.

6. Bộ Giáo dục và Đào tạo – Vụ Giáo dục Tiểu học – Dự án Mô hình trường học mới Việt Nam, Tài liệu Hướng dẫn Toán 3, NXB Giáo dục Việt Nam, 2013.

7. Giáo dục và Đào tạo – Vụ Giáo dục Tiểu học – Dự án Mô hình trường học mới Việt Nam, Tài liệu Hướng dẫn học Tiếng Việt 2, NXB Giáo dục Việt Nam, 2013.

8. Bộ Giáo dục và Đào tạo – Vụ Giáo dục Tiểu học – Dự án Mô hình trường học mới Việt Nam, Tài liệu Hướng dẫn Tự nhiên Xã hội 2, NXB Giáo dục Việt Nam, 2013.

                                                                

 

 

Publish: 11/16/2015 - Views: 42341 - Lastest update: 11/16/2015 9:00:31 AM
Tin cùng chuyên mục