Email: email@ioer.edu.vn | vncsp@hnue.edu.vn
Bàn tròn giáo dục

VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG GIÁO DỤC TRẺ

Đào Thị Oanh – Viện Nghiên cứu Sư phạm

Ngày nay, chúng ta vẫn thường xuyên nghe nhắc đến cụm từ “kết hợp giữa nhà trường-gia đình-xã hội” khi đề cập việc giáo dục trí dục và đức dục cho học sinh, nhất là học sinh các cấp học phổ thông. Không ai có thể phủ nhận nhân tố quan trọng trong việc giúp con em mình trở thành con ngoan trò giỏi là các bậc phụ huynh.

     Thực tế cho thấy, cách nuôi dậy, cách cư xử giữa các thành viên trong gia đình với nhau, với những người xung quanh có tác động mạnh đến thái độ và hành vi của học sinh. Những trường hợp cha mẹ thiếu quan tâm chăm sóc con, thiếu giám sát con một cách nghiêm túc thường là nguyên nhân khiến các con dễ trở thành nạn nhân hay là người gây ra các hành vi vô kỉ luật, thậm chí phạm pháp…

Gia đình là môi trường xã hội vi mô

     Xêsênốp là cha đẻ của ngành Sinh lí học, Tâm lí học Nga cho rằng, tâm lí được hình thành theo con đường phản xạ. Chức năng này định hướng hành vi người của tâm lí. Đây là quan điểm rất duy vật vì đánh giá đúng vai trò của môi trường xã hội, là cái quy định sự phát triển của trẻ như một nhân cách, một con người xã hội. Trong đó, gia đình là một thành phần quan trọng của môi trường xã hội.

     So sánh trẻ sơ sinh và động vật sơ sinh thấy có sự khác nhau cơ bản. Động vật ngay sau khi được sinh ra đã có tất cả những gì cần thiết cho cuộc sống. Còn đứa trẻ là một sinh thể hoàn toàn bất lực nếu không có sự trợ giúp của người lớn (số 0). Như vậy, nếu có sự tác động của môi trường xã hội thì trẻ sẽ có tất cả. Các thực nghiệm tâm lí học cho thấy, nếu trẻ bị tách ra khỏi môi trường xã hội thì sẽ không thành người.Mặc dù đứa trẻ đó có đầy đủ tất cả các bộ phận như một con người nhưng không sống, không hoạt động như cuộc sống người, tức là nội dung tâm lí của hành vi không mang tính người (cho tới nay, đã có khoảng hơn 40 trường hợp như vậy được biết đến). Ví dụ, trường hợp hai em bé Ấn Độ là Kamala và Amalađược chó sói nuôido bác sĩ Singh (người Ấn Độ) phát hiện ra. Hay trường hợp cậu bé Kaspagasi ở Đức (11 tuổi) được tìm thấy trong một ống cống tại Berlin, do bị mẹ kế bí mật giấu dưới cống và chọn một người vú nuôi bị câm chăm sóc cho cậu ở đó. Khi Kaspagasi lớn, người vú nuôi bị giết chết, từ đó, cuộc sống sinh vật của cậu vẫn được duy trì nhưng cuộc sống xã hội hoàn toàn không có (vì không có giao tiếp với thế giới bên ngoài, mà tâm lí là hình ảnh của thế giới bên ngoài được ghi lại trong não). Hai ví dụ trên đây khẳng định vai trò của môi trường xã hội đối với sự phát triển của nhân cách con người.

     Gia đình là môi trường đầu tiên về phương diện thời gian và gần gũi nhất về phương diện không gian đối với mỗi cá nhân. Gia đình được hiểu như một tập thể nhỏ, trong đó các thành viên quan tâm đến nhau (sở thích, nhu cầu…). Không khí tâm lí trong gia đình ảnh hưởng đến toàn thể gia đình như khí trời đối với con người. Các nhà nghiên cứu dùng thuật ngữ không khí (“climate”) là một thuật ngữ sinh học để chỉ một hiện tượng tâm lí. Không khí tâm lí gia đình được hiểu là tính chất của các mối quan hệ qua lại trong gia đình, là tâm trạng bao trùm chủ yếu của gia đình. Sự ảnh hưởng qua lại được thực hiện thông qua giao tiếp, hình thành nên nhân cách của trẻ ở giai đoạn đầu tiên của cuộc đời (các mối quan hệ trong gia đình, tâm trạng chung của gia đình).

     Các kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo được trẻ tiếp thu từ gia đình hoặc từ nhà trường. Song có những kĩ năng mà đứa trẻ chỉ có thể hình thành được trong gia đình. Đó là  “kĩ năng sống giữa mọi người”, “Bản năng xã hội”, “Kĩ năng đồng cảm với mọi người”…Tương tự, hứng thú nhận thức, nhu cầu nhận thức, thái độ học tập nói chung của trẻ chịu ảnh hưởng rất nhiều từ gia đình. Đã có những thực nghiệm khoa học chứng minh cho điều này.

     Chẳng hạn, người ta đã tổ chức một thực nghiệm tự nhiên như sau: Nhà trường tổ chức cuộc họp phụ huynh và mời các bà mẹ đi cùng các con của mình đến dự họp phụ huynh. Trong phòng họp có bày rất nhiều đồ vật khác nhau khá hấp dẫn, liên quan đến việc học tập của học sinh. Khi cuộc họp đang diễn ra thì bỗng có tiếng điện thoại reo, chủ tọa cuộc họp(là nhà nghiên cứu đóng vai giáo việc chủ nhiệm lớp) xin phépmọi người để ra ngoài nghe điện thoại. Mấy phút sau nhà nghiên cứu quay vào bí mật quan sát hành vi của phụ huynh và con cái họ thì thấy hành vi của họ rất khác nhau. Một số bà mẹ dắt con đi quanh xem các đồ vật, tìm hiểu và giải thích cho con mình nghe. Một số khác chỉ chăm chú xem mà không giải thích hay giúp con tìm hiểu. Một số khác nữa thì ngồi im tại chỗ để chờ “giáo viên chủ nhiệm” quay trở lại. Thực nghiệm sau đó lại được tiếp tục làm với con cái của các bà mẹ đó. Kết quả cho thấy, những học sinh là con của các bà mẹ thuộc nhóm thứ nhất có tính tích cực nhận thức cao nhất so với 2 nhóm còn lại. Như vậy, cha mẹ có thể hình thành tính tích cực nhận thức cho con cái mình bằng thái độ nhận thức của chính mình.

Gia đình là nơi chuẩn bị các chức năng xã hội cho trẻ trong tương lai.

     Khi cha mẹ là những hình mẫu lí tưởng của con cái thì gia đình chính là nơi chuẩn bị cho trẻ các chức năng “người đàn ông – người đàn bà”; “người cha – người mẹ”; “người chồng – người vợ”. Trẻ thường tiếp thu hình mẫu của người có ảnh hưởng quan hệ xúc cảm nhiều nhất.Trẻ rất hay nghe chuyện của người lớn, vì thế, những vấn đề về hoạt động, công việc của cha mẹ có ảnh hưởng đến con cái rất nhiều. Người lớn cần tránh để trẻ nghe được những chuyện bực dọc, khó chịu trong công việc vì điều này không có lợi cho sự phát triển nhân cách của trẻ.

Tất cả các thành viên trong gia đình đều có ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách của trẻ vì mỗi thành viên đều tạo ra một kiểu giao tiếp nhất định. Thực nghiệm cho thấy, những trẻ có anh chị sẽ được hình thành những hành vi giới sớm hơn.

Vai trò giáo dục con cái của người đàn ông.

     Người ta đã tổ chức thực nghiệm như sau: Để một người đàn ông xuất hiện trong các nhà trẻ mà ở đó giáo viên chỉ toàn là nữ, có nghĩa là hàng ngày trẻ chỉ tiếp xúc với các cô giáo. Quan sát thấy hầu hết các trẻ có mặt ở đó, cả trẻ trai lẫn trẻ gái, đều thể hiện tình cảm rất mãnh liệt trước người đàn ông đó. Kết quả các nghiên cứu đókhiến các nhà chuyên môn cho rằng, cần phải xem xét lại việc định hướng nghề nghiệp ở nam giới và nữ giới lâu nay đối với nghề giáo viên ở cấp mầm non và tiểu học. Để giúp cho trẻ em phát triển nhân cách hài hòa, nhiều nước đã có những chính sách riêng nhằm khuyến khích nam giới làm việc trong các trường mầm non và trường tiểu học. Ở Việt Nam, trong những năm gần đây cũng đã bắt đầu xuất hiện các giáo viên mầm non là nam giới.

Tương tự, những nghiên cứu thực nghiệm dài hạn về ảnh hưởng của người cha đối với sự phát triển nhân cách của con cái cũng cho thấy, có những rối loạn hành viở phần lớn các trường hợp trẻ sinh ra trong gia đình khôngcó người cha. Các rối loạn chủ yếu như: độc ác, kém thích nghi, trẻ trai thiếu nam tính, mất khả năng bắt chước bố…

Mối quan hệ của cha với mẹ có ảnh hưởng đến kiểu hành vi giới của trẻ. Nếu quan hệ là tốt, tích cực thì bé trai muốn giống bố, còn bé gái muốn giống mẹ. Trong khi đó, “đồng nhất chéo” là hiện tượng xuất hiện khi con cái mong muốn được giống với cha mẹ mình nhưng ngược giới với mình (con gái muốn giống cha, con trai muốn giống mẹ). Vì vậy, việc giáo dục phối hợp của cha và mẹ đối với con cái là vô cùng quan trọng.

     Thật may là người đàn ông hiện đại ngày càng ý thức được trách nhiệm của mình đối với vấn đề nuôi dạy, giáo dục con cái. Bởi, gia đình quan trọng không chỉ đối với sự phát triển của con cái chúng ta, mà cả đối với sự tồn tại, phát triển của bản thân người lớn, của chính chúng ta!


Publish: 5/16/2016 - Views: 1797 - Lastest update: 5/16/2016 2:21:48 PM
Tin cùng chuyên mục