Email: email@ioer.edu.vn | vncsp@hnue.edu.vn
Bàn tròn giáo dục

CƠ SỞ KHOA HỌC XÂY DỰNG TIÊU CHÍ VĂN HÓA CÔNG NGHIỆP CỦA HỌC SINH PHỔ THÔNG

                                    (Bài đã đăng tải trên tạp chí Tâm lí học, số tháng 9 – 2014).

                                                 PGS.TS.Đào Thị Oanh - Trường ĐHSP Hà Nội

1. ĐẶT VẤN ĐỀ:

1.1. Từ Nghị quyết Hội nghị BCHTƯ Đảng lần thứ 2, khóa VIII đã có những cảnh báo về sự lệch lạc trong định hướng giá trị của thanh thiếu niên làm ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực trong tương lai, đòi hỏi sự xem xét toàn diện, thấu đáo, củng cố lại hệ thống giá trị cho học sinh để họ có thể vững bước vào đời. Vì lẽ đó, định hướng “xây dựng văn hóa”, “xây dựng con người văn hóa”, “xây dựng nhân cách văn hóa” từ lâu đã được thể hiện trong các văn kiện của Đảng, Nhà Nước, Bộ/Ngành. Yếu tố văn hóa bao giờ cũng được xem là một tiêu chí quan trọng để các tổ chức trong xã hội hướng đến trong quá trình thực hiện chức năng của mình. Đối với lĩnh vực giáo dục-đào tạo, trong rất nhiều vấn đề của mình, Nghị quyết của Ban cán sự Đảng bộ Giáo dục và Đào tạo về việc phát triển Ngành Sư phạm và các trường sư phạm từ năm 2007 đến 2015 cũng đề ra trong lộ trình thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm là “…đưa yếu tố văn hóa dân tộc, toàn cầu hóa, vào giáo dục đào tạo…”. Gần đây, các phương tiện truyền thông đại chúng liên tục đề cập đến vấn đề giáo dục văn hóa, giáo dục nhân cách văn hóa cho người Việt Nam.

Nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu khi chuyển sang xây dựng CNH – HĐH phải đối mặt với nhiều thách thức. Hiện nay, khi đất nước hội nhập với thế giới, đội ngũ lao động đã và đang bộc lộ rõ những bất cập, yếu kém cả trong suy nghĩ lẫn hành động, không đáp ứng được yêu cầu của thời đại công nghệ, theo đó đòi hỏi trước hết một cách tư duy khoa học, một phong cách làm việc chuyên nghiệp, hiệu quả. Có thể nói, nguồn nhân lực hiện nay còn thiếu nền tảng văn hóa công nghiệp. Nghị quyết Đại hội XI đã đặt ra nhiệm vụ “…tập trung giải quyết một số vấn đề xã hội bức xúc: Suy thoái đạo đức, lối sống; tệ nạn xã hội; trật tự, kỉ cương xã hội…” đặt ra những yêu cầu mới trong việc đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho đất nước trong giai đoạn tới. Trong đó, mục tiêu chiến lược về văn hóa - xã hội là “xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;…con người phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, ý thức công dân, tuân thủ pháp luật” [2]. 

Có rất nhiều công trình nghiên cứu lí luận và thực tiễn về văn hóa; giáo dục văn hóa; văn hóa công nghiệp; mối quan hệ giữa văn hóa và giáo dục; giữa văn hóa, giáo dục và nguồn nhân lực…đã được triển khai ở trong nước và nước ngoài. Các kết quả cho thấy đây không chỉ là vấn đề của Việt Nam mà cũng là vấn đề của hầu hết các nước trên thế giới [1],[3],[4],[6],[8],[9],[10]. 

1.2. Thời đại CNH đặt cá nhân vào trong một hệ thống các mối quan hệ phức tạp cả về phương diện kĩ thuật lẫn về phương diện xã hội, đặt ra cho giáo dục những nhiệm vụ phức tạp hơn. Điều đó đồng nghĩa với việc, để xây dựng đất nước hiện đại, người lao động Việt Nam phải được trang bị một nền tảng văn hóa vững chắc, bao gồm những giá trị truyền thống và những giá trị hiện đại.

Thực trạng văn hóa công nghiệp ở con người Việt Nam nói chung, thế hệ trẻ Việt Nam nói riêng hiện nay còn nhiều bất cập, thể hiện trong làm ăn kinh tế, trong quan hệ ứng xử hàng ngày của cá nhân với những người xung quanh, trong cách suy nghĩ và cách làm của từng cá nhân…Đánh giá chung về cơ cấu dân số của Việt Nam hiện nay cho thấy, chúng ta đang ở vào thời kì cơ cấu “dân số vàng”, song các số liệu thống kê gần đây đã gợi lên nhiều suy nghĩ cho các nhà quản lí xã hội và các nhà giáo dục về những điểm yếu của nhóm “dân số vàng” này: Tác phong làm việc tùy tiện; thiếu kỉ luật; thiếu tinh thần tự chịu trách nhiệm cá nhân; không tính đến hiệu quả kinh tế, sức lực và thời gian; ngại thay đổi…Nguyên nhân cơ bản được cho là do ảnh hưởng nặng nề của tâm lí tiểu nông, phương thức sản xuất nhỏ, quá trình giáo dục, rèn luyện trong nhà trường và ngoài xã hội. Điều này đặt ra việc cần xây dựng một số nội dung mới bên cạnh những nội dung đã có, để giáo dục nhân cách học sinh đáp ứng yêu cầu của xã hội công nghiệp hiện đại mà Đảng và nhân dân ta đang nỗ lực vươn tới.

1.3. Vai trò của giáo dục nhà trường trong việc xây dựng văn hóa công nghiệp cho thế hệ trẻ đã được khẳng định ở những nước công nghiệp phát triển. Ở nước ta, điều này đã được thể hiện trong các văn kiện của Đảng, văn bản của Nhà Nước, của Bộ Giáo dục-Đào tạo. Chiến lược Phát triển Nhân lực Việt Nam thời kì 2011 – 2020 có mục tiêu là: “Nhân lực Việt Nam hội đủ các yếu tố cần thiết về thái độ nghề nghiệp, có năng lực ứng xử (đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, tác phong làm việc, kỷ luật lao động, tinh thần hợp tác, tinh thần trách nhiệm, ý thức công dân…) và tính năng động, thực lực cao, đáp ứng những yêu cầu đặt ra đối với người lao động trong xã hội công nghiệp”. Chiến lược Phát triển Giáo dục Việt Nam giai đoạn 2011- 2020 đặt mục tiêu: “…Đào tạo ra những con người có năng lực sáng tạo, tư duy độc lập, trách nhiệm công dân, đạo đức và kỹ năng nghề nghiệp…, kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp…khả năng thích ứng…”. Bởi nguồn nhân lực bước sang thế kỷ XXI của Việt Nam phải là “con người khoa học và công nghệ, có đủ trí tuệ, đầu óc duy lý khoa học của thời đại và kỹ năng lao động lành nghề, biết làm ăn có hiệu quả cho bản thân và cho xã hội, có tác phong công nghiệp và lối sống nền nếp, văn hóa công nghiệp” [4]. Do đó, giáo dục văn hóa công nghiệp cho học sinh trong nhà trường vừa là nội dung, vừa là mục tiêu hướng đến, vừa là điều kiện để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của nước ta, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế bởi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, đồng thời vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Để việc giáo dục văn hóa công nghiệp cho học sinh phù hợp và hiệu quả, trước hết cần xác định cụ thể: Văn hóa công nghiệp là gì? Những biểu hiện của nó là gì? Và được biểu hiện ở đâu?...Nói cách khác, cần xác định rõ các tiêu chí cụ thể của văn hóa công nghiệp để nghiên cứu, đánh giá, giáo dục.    

2. CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỀ XUẤT HỆ TIÊU CHÍ VĂN HÓA CÔNG NGHIỆP Ở HỌC SINH VIỆT NAM

2.1. Cơ sở lí luận

* Khái niệm  Văn hóa:

Có thể tìm thấy hàng trăm định nghiã về “Văn hóa” (“Culture”), vì thế, xác định một cách hiểu phù hợp là một nhiệm vụ quan trọng. Văn hóa có nghĩa rộng và nghĩa hẹp: “Văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần đã được nhân loại sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn lịch sử - xã hội”; “Văn hóa là tổng thể các hệ thống giá trị bao gồm các mặt tình cảm, tri thức, vật chất, tinh thần của xã hội”; “Khái niệm văn hóa chỉ mối quan hệ phổ quát của con người đối với thế giới, mối quan hệ mà thông qua đó con người sáng tạo ra thế giới và chính bản thân mình”...Hồ Chủ Tịch đã viết về văn hóa như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người phải sáng tạo và phát sinh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [dẫn theo 4].

Theo phân tích của GS.VS. Phạm Minh Hạc, những cách hiểu trên về văn hóa đều mang nghĩa rộng của khái niệm văn hóa, không trực tiếp đề cập đến mối quan hệ giữa văn hóa và giáo dục. Song, nếu xét từ bản chất những sáng tạo và phát minh ra giá trị vật chất và tinh thần mà loài người sáng tạo ra, thì chính là kết quả của giáo dục [4]. Các định nghiã cũng cho thấy, khái niệm văn hóa gồm hai dấu hiệu là: hệ thống giá trị và chủ thể sở hữu hệ thống giá trị đó. Trong đó, hệ thống giá trị vừa là sản phẩm do chủ thể tạo ra, vừa là môi trường để chủ thể tồn tại, phát triển. Sự phát triển bền vững của chủ thể phụ thuộc vào chất lượng của mối quan hệ qua lại giữa chủ thể sở hữu các giá trị và hệ thống giá trị đó. Có thể thấy trong quan niệm của Hồ Chí Minh, văn hóa không chỉ phản ánh những giá trị sáng tạo được loài người phát minh ra, mà còn làm bộc lộ những bản chất người: cách thức ứng xử với văn hóa, lối sống văn hóa, tác phong văn hóa, phương thức sử dụng văn hóa.

Sinh thời, Hồ Chủ Tịch không đề cập đến thuật ngữ “văn hóa công nghiệp” nhưng những gì Bác mong muốn cán bộ đảng viên phải thực hiện đã thể hiện rõ nhiều khía cạnh của văn hóa công nghiệp và vẫn còn nguyên giá trị đến ngày hôm nay. Nội hàm các phẩm chất cơ bản được Bác nhắc nhở mọi người thực hiện như “Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư” đã được lí giải cụ thể, cặn kẽ, dễ hiểu đồng thời cho thấy mối quan hệ khăng khít giữa các đức tính đó với nhau, từ đó là những gợi ý quan trọng giúp giáo dục, rèn luyện/tự rèn luyện có kết quả. Ví dụ, “Cần” đi đôi với “Kiệm” và không thể tách rời khỏi “Chuyên”; “Cần”, “Kiệm”, “Liêm” là gốc rễ của “Chính”…  

Từ những phân tích trên, có thể đưa ra một định nghĩa để làm việc về văn hóa: “Văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần đã được nhân loại sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn lịch sử - xã hội, thể hiện mối quan hệ phổ quát của con người đối với thế giới, mối quan hệ mà thông qua đó con người sáng tạo ra thế giới và sáng tạo ra chính bản thân mình”.

* Khái niệm “Văn hóa công nghiệp”

“Văn hóa công nghiệp” (“Industrial Culture”) là một khái niệm tương đối mới, đã ít nhiều được đề cập đến trong các bài viết, các công trình nghiên cứu lí luận ở Việt Nam. Muốn xác định được khái niệm “Văn hóa công nghiệp”, cần xuất phát từ thuật ngữ “công nghiệp hóa” và “xã hội công nghiệp”.

Theo một số học giả Mỹ, CNH là đại từ mang nghĩa hẹp của HĐH (hiện đại hóa kinh tế), và có liên quan tới sự chuyển biến của 4 phương diện, là: Công nghệ (chuyển từ công nghệ thủ công sang nền công nghệ lấy tri thức khoa học làm nền tảng); Nông nghiệp (chuyển từ nền kinh tế tiểu nông tự cung tự cấp sang nền kinh tế nông nghiệp hàng hóa); Công nghiệp (chuyển lao động chân tay sang thao tác máy móc); đời sống xã hội (chuyển từ đời sống nông thôn sang trung tâm đô thị). “Công nghiệp hóa” được hiểu là quá trình nâng cao giá trị tuyệt đối sản lượng công nghiệp. Công nghiệp hóa là nội dung cơ bản và là động lực của HĐH, bởi nó làm thay đổi nhanh chóng phương thức sản xuất, phương thức đời sống xã hội và mối quan hệ giữa người với người. Công nghiệp hóa gắn với phát triển văn hóa và xã hội để đạt tới xã hội công nghiệp. Xã hội công nghiệp là xã hội đặc trưng ở sự phát triển cao của khoa học, công nghệ…do đó đòi hỏi ở con người sống trong xã hội đó những phẩm chất tương ứng. Ở nước ta, “công nghiệp hóa” là quá trình chuyển đổi cơ bản toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, quản lí kinh tế, quản lí xã hội từ dựa vào lao động thủ công là chính sang dựa vào lao động kết hợp cùng với phương tiện, phương pháp, công nghệ kĩ thuật tiên tiến hiện đại để tạo ra năng suất lao động cao [Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc X].   

Theo từ điển Wikipedia, “Văn hóa công nghiệp” là nền văn hóa mà ở đó máy móc được sử dụng để giúp con người làm việc tay chân ít hơn; khoa học và công nghệ tạo ra những cải tiến mới làm cho cuộc sống hàng ngày của người dân ngày càng trở nên dễ dàng hơn.      Đây là một gợi ý tham khảo khi xây dựng khái niệm khoa học về văn hóa công nghiệp. Các nghiên cứu trong nước và nước ngoài về lí luận và thực tiễn có thể cung cấp nhiều gợi ý quan trọng để từ đó đề xuất một định nghĩa về “văn hóa công nghiệp”. Theo đó, “Văn hóa công nghiệp” được hiểu là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần được con người sáng tạo ra trong xã hội công nghiệp, thể hiện ở cách suy nghĩ, cách ứng xử của con người trong các mối quan hệ khác nhau (với bản thân, với công việc, với những người khác, với môi trường tự nhiên). Một số mặt biểu hiện chủ yếu của “văn hóa công nghiệp” là: Tư duy; lối sống; tác phong; ứng xử.

* Khái niệm “Giáo dục văn hóa công nghiệp” và “Giáo dục văn hóa công nghiệp cho học sinh”

Giáo dục là mắt xích quan trọng từ khoa học đến sản xuất, đặc biệt trong giai đoạn CNH, HĐH, còn “Văn hóa là gieo trồng, lĩnh hội, sáng tạo các giá trị vật chất và tinh thần trong quá trình con người sinh sống và hoạt động. Giáo dục và văn hóa rất gắn bó với nhau, nói “Giáo dục văn hóa”  là muốn nói đến “giáo dục nhân cách văn hóa”. Giáo dục văn hóa cho học sinh thực chất là giáo dục nhân cách văn hóa cho học sinh. Nhân cách văn hóa thể hiện ra trước hết ở lối sống văn hóa, ứng xử văn hóa [4].

Một khi đã hình thành, bản thân xã hội công nghiệp sẽ dần tạo nên văn hóa của xã hội đó, bởi văn hóa có tính lịch sử. Tuy nhiên, vì văn hóa có một đặc tính quan trọng là sức ì, nên sự thay đổi văn hóa sẽ là rất chậm chạp nếu để nó diễn ra một cách tự nhiên. Từ đây, các nhà nghiên cứu cho rằng, tác động giáo dục có định hướng (trong đó, đặc biệt nhấn mạnh đến giáo dục nhà trường) sẽ thúc đẩy sự thay đổi văn hóa diễn ra nhanh hơn, phù hợp hơn với yêu cầu của xã hội bởi muốn xây dựng và phát triển đất nước trở nên hiện đại, nhất thiết phải có những con người hiện đại. Điều quan trọng là cần xác định được những nội dung sẽ đưa vào nhà trường để tổ chức giáo dục cho các em. Nâng việc giáo dục nhân cách con người lên tầm văn hóa đã được nhiều tác giả đề cập đến như một cách tiếp cận phát triển con người bền vững, bởi văn hóa là những giá trị bền chặt, một khi đã được “bén rễ” thì sẽ khó thay đổi. Do đó, trong bài viết này, việc đặt vấn đề giáo dục văn hóa công nghiệp cho học sinh thực chất là muốn đề cập đến giáo dục nhân cách cho học sinh theo định hướng của xã hội công nghiệp hiện đại mà đất nước ta đang hướng tới. “Giáo dục văn hóa công nghiêp” là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch từ phía nhà trường và xã hội, nhằm hình thành, phát triển ở cá nhân những giá trị, chuẩn mực của một nhân cách văn hóa đáp ứng yêu cầu của xã hội công nghiệp, được thể hiện trong các mối quan hệ của cá nhân với bản thân, với công việc, với môi trường xung quanh. Còn “Giáo dục văn hóa công nghiệp cho học sinh” là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch từ phía nhà trường, nhằm hình thành, phát triển ở học sinh những giá trị, chuẩn mực văn hóa đáp ứng yêu cầu của xã hội công nghiệp, được thể hiện trong mối quan hệ ứng xử với bản thân, với công việc học tập và với môi trường xung quanh.

2.2. Cơ sở thực tiễn

a/ Kết quả hồi cứu thực trạng biểu hiện văn hóa công nghiệp ở người lao động và học sinh Việt Nam qua các công trình nghiên cứu thực tiễn

Dù ở thời đại nào, nguồn nhân lực cũng được xem là yếu tố quan trọng nhất quyết định sức mạnh của một quốc gia bởi mọi giá trị vật chất, tinh thần đều được làm ra từ bàn tay và trí óc con người. Trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, nguồn lực con người Việt Nam càng trở nên có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự thành công của công cuộc xây dựng đất nước. Yêu cầu phát triển kinh tế trong những thập niên tới không chỉ đòi hỏi số lượng mà còn đòi hỏi chất lượng cao của nguồn nhân lực. Kết quả các nghiên cứu thực tiễn về biểu hiện từng mặt của văn hóa công nghiệp ở người lao động và học sinh sinh viên nước ta khá phong phú và rất quan trọng để tham khảo, cho dù tiếp cận nghiên cứu trong từng công trình có thể khác nhau tùy theo mục đích của nghiên cứu (Tìm hiểu, giải quyết các vấn đề về lao động việc làm, về ổn định trật tự xã hội, về xây dựng các chính sách đối với nông nghiệp nông thôn, đối với đội ngũ công nhân…) [3], [7], [8],[9],[10].

* Theo số liệu thống kê của quốc gia, hiện nay nước ta có nguồn nhân lực dồi dào với số người trong độ tuổi lao động tăng nhanh và chiếm tỉ lệ cao (khoảng 67%). Cơ cấu dân số vàng ở nước ta bắt đầu xuất hiện từ năm 2010 và kết thúc vào khoảng năm 2040. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây cho thấy, mặc dù tỉ lệ dân số trong độ tuổi lao động là cao, nhưng ở tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế, chất lượng nguồn nhân lực còn thấp so với nhiều nước trong khu vực. Nguyên nhân đưa ra có nhiều: Trình độ học vấn thấp; trình độ kiến thức, kĩ năng nghề nghiệp thấp; sự am hiểu kĩ thuật, công nghệ còn thấp; thiếu sự nhạy cảm và thích ứng với cái mới; tác phong làm việc thiếu chuyên nghiệp…Do đó đa số người lao động không đáp ứng yêu cầu công việc, làm ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của nền kinh tế [3],[7],[9],[10]. Ví dụ, nông nghiệp được xem là nền tảng của sự phát triển bền vững, là cơ sở để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ta nhưng có tới 80% nguồn nhân lực chưa qua đào tạo nghề; chất lượng lao động thấp; trình độ học vấn thấp; cách làm ăn manh mún, tự phát; ít am hiểu khoa học kĩ thuật và thiếu sự sẵn sàng ứng dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất...Còn trong lĩnh vực công nghiệp, thực trạng trình độ của đội ngũ công nhân trong các khu công nghiệp cho thấy, tuổi đời trung bình của đội ngũ này nhìn chung còn rất trẻ, song chất lượng tay nghề chưa đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp, kế cả lao động đã qua đào tạo. Bên cạnh đó, tình hình sức khỏe; tư duy công nghiệp; tác phong công nghiệp; năng lực sáng tạo còn hạn chế; ý thức tuân thủ pháp luật thấp; dễ bị kích động do hạn chế trong trình độ nhận thức pháp luật và trình độ nhận thức chính trị…Để nâng cao chất lượng đội ngũ công nhân Việt Nam đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, các nghiên cứu gợi ý cần giáo dục để loại bỏ dần ở họ những thói quen, tạp quán lạc hậu, đồng thời hình thành, phát triển những phẩm chất của nhân cách văn hóa như: Tính kỉ luật; Tính ham học hỏi, cầu thị; Tác phong làm việc chuẩn mực; Cởi mở, lịch thiệp trong quan hệ với những người xung quanh…

* Năm 2010, thủ đô Hà Nội tổng kết 10 năm thực hiện cuộc vận động “Xây dựng nếp sống văn hóa công nghiệp trong công nhân viên chức lao động thủ đô”. Mục đích của cuộc vận động là nhằm hình thành cho đội ngũ cán bộ công nhân viên chức thủ đô những chuẩn mực văn hóa công nghiệp: Ý thức, tác phong làm việc khoa học, hợp lí; Giải quyết công việc kịp thời, chính xác, đúng pháp luật; Giao tiếp ứng xử văn minh lịch sự; đồng thời nâng cao trình độ chính trị; trình độ học vấn; trình độ tay nghề và chuyên môn. Từ phong trào này, nhiều tổ chức lao động cũng đã xây dựng cho mình các giá trị và các tiêu chí cụ thể để hướng tới như: “Trung thực”, “Tận tâm”, “Tôn trọng”, “Trí tuệ”, “Thuận tiện”, “Tự tin”…và đã từng bước khẳng định được uy tín của mình trong xã hội.

* Những yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước đã đặt ra những vấn đề nghiên cứu mới, cấp bách, về nhân cách con người Việt Nam. Một loạt chương trình nghiên cứu quy mô về nhân cách đã đưa ra những đánh giá quan trọng, góp phần định hướng cho công tác giáo dục nhân cách học sinh Việt Nam, trong đó có một số mặt biểu hiện khác nhau của văn hóa công nghiệp ở học sinh và người lao động. Chất lượng nguồn nhân lực được đánh giá theo 3 tiêu chí, là: Trình độ đào tạo (trình độ tay nghề); phẩm chất trí tuệ; phẩm chất tâm lí (sự cần cù, năng động, tác phong làm việc). Còn đặc trưng nhân cách con người Việt Nam được thể hiện trên 3 mặt cơ bản: Định hướng giá trị nhân cách; tiềm năng, khả năng của nhân cách; phẩm chất, hành vi, nếp sống, thói quen của nhân cách. Kết quả cho thấy ưu điểm nguồn nhân lực của nước ta là: Khả năng thích nghi cao; nhanh nhẹn; tháo vát; có đầu óc thực tiễn; dám mạo hiểm; cần cù; tự lập. Bên cạnh đó, điểm yếu nhất là tư duy và tác phong nông nghiệp còn nặng nề; thiếu hoài bão, ước mơ, chỉ thiên về thỏa mãn những nhu cầu trước mắt. Đây là nguyên nhân dẫn đến kỉ luật lao động kém. Các nghiên cứu cũng xác định có 6 giá trị nhân cách nổi bật của con người thời đổi mới là: “Trình độ học vấn rộng”; “Sống tình nghĩa”; “Khả năng tổ chức, quản lí”; “Trách nhiệm, tận tâm”; “Sáng tạo”; “Biết nhiều nghề, thạo một nghề” [3],[12]. Mô hình nhân cách con người Việt Nam thế kỉ XXI do các nhà nghiên cứu đề xuất bao gồm nhiều khía cạnh, trong đó có những biểu hiện của văn hóa công nghiệp như: Tư duy sáng tạo và óc thực nghiệm; Kĩ năng thực hành giỏi, tay nghề cao; Tác phong công nghiệp; Tính tổ chức và kỉ luật; Tinh thần trách nhiệm cao; Tính hợp tác; Năng động, thích ứng; Tinh thần pháp luật; Ý thức bảo vệ môi sinh [11].

* Việc đề xuất các giá trị chuẩn mực ứng xử cần giáo dục cho học sinh cũng được các nhà giáo dục quan tâm nhằm giúp học sinh giải quyết hài hòa, hợp lí các mối quan hệ giữa bổn phận và quyền lợi, giữa cá nhân và xã hội, giữa con người và thiên nhiên…khi sống trong một xã hội công nghiệp, hiện đại. Kết quả nghiên cứu gần đây về văn hóa học đường đã chỉ những điểm tồn tại cần được loại bỏ khỏi môi trường nhà trường là: Sự thiếu trung thực trong học tập; Kỉ luật học tập kém; Thiếu tinh thần hợp tác, tôn trọng lẫn nhau; Khả năng quản lí, tổ chức yếu…Trong nghiên cứu về văn hóa học đường của học sinh THPT [6], có tới trên 80% học sinh trong mẫu nghiên cứu tự đánh giá đã từng quay cóp trong giờ kiểm tra và những điểm yếu nhất ở học sinh THPT hiện nay là tính trách nhiệm, tính kỉ luật, ý thức về pháp luật. Một số nhà nghiên cứu gợi ý về những giá trị then chốt, có ý nghĩa định hướng hành động, làm cơ sở để cá nhân điều chỉnh cách suy nghĩ, lối sống, khắc phục những biểu hiện không phù hợp ở bản thân, như: Tự lực; Khiêm tốn, giản dị; Tiết kiệm; Lịch sự; Trung thực; Hợp tác; Tôn trọng; Trọng tri thức; Kỉ luật; Trách nhiệm; Sáng tạo; Kế hoạch… [Dẫn theo 4].

* Tương tự, kết quả nghiên cứu gần đây về tác phong công nghiệp của học viên và giảng viên trường lí luận chính trị-hành chính khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long cho thấy mức độ nhận thức cao của họ về tầm quan trọng của tác phong công nghiệp đối với hiệu quả nghề nghiệp. Các biểu hiện của tác phong công nghiệp được chỉ ra khá phong phú, tập trung. Ví dụ: Chuyên nghiệp; Hiệu quả; Khách quan; Dám nghĩ, dám làm; Cập nhật, cầu thị, cầu tiến; Trách nhiệm cá nhân; Kế hoạch; Linh hoạt/thích ứng; Kỉ luật; Phong cách gọn gàng, lịch sự; Nhanh nhẹn…Tuy nhiên, tự đánh giá của các đối tượng nghiên cứu về tác phong công nghiệp thể hiện trong hoạt động nghề nghiệp của bản thân họ lại chưa được như mong muốn, nhất là ở những biểu hiện của “Tính kế hoạch”, “Tính kỉ luật”, “Tính khách quan”.

b/ Kết quả “nghiên cứu sơ bộ” về thực tiễn biểu hiện văn hóa công nghiệp ở người Việt Nam hiện nay

     Có 3 câu hỏi được đặt ra cho các đối tượng nghiên cứu, là:

Câu 1: Những điểm yếu nhất gây cản trở CNH, HĐH ở Việt Nam là gì?

Câu 2: Để xây dựng CNH, HĐH đất nước, người Việt Nam cần có những phẩm chất gì?

Câu 3: Làm thế nào để hình thành, phát triển được các phẩm chất đó?

Kết quả thu được như sau:

* Trả lời cho câu hỏi 1, các điểm yếu được kể ra khá phong phú, gồm: Trình độ KHKT lạc hậu so với thế giới; Thiếu nguồn lao động chất lượng cao; Hệ thống luật pháp còn lỏng lẻo; Chất lượng giáo dục đào tạo có cải tiến nhưng chậm; Trình độ dân trí chưa cao; Thái độ/tác phong công nghiệp chưa cao; Khả năng làm việc nhóm hạn chế; Ý thức chấp hành kỉ luật, nội quy lao động hạn chế; Thiếu tầm nhìn, thực dụng, suy nghĩ hạn hẹp; Tính hợp tác yếu; Bảo thủ.

Nguyên nhân được chỉ ra là: Do thói quen của nền sản xuất nông nghiệp, tư tưởng phân biệt lao động chân tay với lao động trí óc, thiếu một nền tảng giáo dục tốt.

* Các gợi ý cho câu hỏi số 2 - về những phẩm chất cần có để thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, là: Cần cù; Thông minh sáng tạo, linh hoạt; Lòng nhân ái; Yêu nghề; Tác phong công nghiệp; Ứng xử lịch thiệp; Kỉ luật và ý chí; Tôn trọng pháp luật; Tiết kiệm; Cầu tiến, học hỏi; Kiên nhẫn; Trung thực; trách nhiệm; Tính tổ chức; Trọng tri thức; Tự đánh giá và đánh giá khách quan; Can đảm, dũng cảm.

* Đối với câu hỏi số 3, để hình thành, phát triển các phẩm chất đó, hầu hết các đối tượng đều cho rằng, vai trò quan trọng thuộc về giáo dục, bởi nhân cách của con người không tự nhiên có mà phải được giáo dục từ rất sớm, trong đó, nhấn mạnh vai trò của giáo dục nhà trường. Giáo dục nhà trường phải cung cấp kiến thức và tổ chức rèn luyện kĩ năng để giáo dục cho học sinh những giá trị truyền thống và hiện đại; ý thức pháp luật, kỉ luật; hành vi ứng xử văn hóa; các phẩm chất “Trung thực”, “Hợp tác”, “Trách nhiệm”, “Ý chí vượt khó” và rèn luyện các kĩ năng mềm. Còn Giáo dục gia đình và Giáo dục xã hội nhằm kết nối, phối hợp để xây dựng môi trường thực hành cho những kết quả  mà học sinh thu nạp được từ giáo dục trong nhà trường. 

Những kết quả nghiên cứu sơ bộ trên đây là một cơ sở thực tiễn quan trọng để xác định hệ tiêu chí văn hóa công nghiệp ở học sinh Việt Nam.

c/ Kết quả hồi cứu tư liệu nước ngoài

Khi nghiên cứu về những thay đổi của con người trong tiến trình hiện đại hóa, nhà chính trị học người Mỹ Huntington nhận định, hiện đại hóa là một tiến trình đa diện bao gồm những thay đổi của con người trong các lĩnh vực tư tưởng và hành động. Khi xem xét cấu trúc của hiện đại hóa, Alex Inkers đã phát hiện rằng, hiện đại hóa có cấu trúc 3 tầng là: vật chất, chế độ và quan niệm hành vi. Trong đó, tầng quan niệm hành vi là tầng sâu của hiện đại hóa. Alex Inkers và các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu xuyên văn hóa về vấn đề hiện đại hóa con người và cho thấy, đó là “một hiện tượng tinh thần hay một trạng thái tâm lí, là giá trị quan và tư tưởng”. Quan niệm, hành vi hiện đại hóa là then chốt, là hạt nhân của hiện đại hóa, đồng thời cũng là điều khó hình thành nhất. Hiện đại hóa con người, hiện đại hóa hành vi con người chỉ có thể có được thông qua hai con đường, là: tiến vào hoạt động công nghiệp và tiếp thu giáo dục. Nghiên cứu của nhóm Alex Inkers cho thấy, con người hiện đại có các đặc điểm sau: Sẵn sàng, vui vẻ tiếp thu quan niệm, phương thức hành vi mới; Sẵn sàng tiếp thu biến đổi xã hội; Tư tưởng thông thoáng, tôn trọng suy nghĩ, ý kiến khác nhau; Quan tâm hiện tại và tương lai, đúng giờ và quý thời gian; Tự tin, chú trọng hiệu suất, cảm quan mạnh về hiệu quả cá nhân; Công việc và cuộc sống có kế hoạch; Tôn trọng tri thức, dốc hết khả năng thu nhận tri thức; Trách nhiệm đối với công việc; Chú trọng kĩ thuật chuyên ngành; Dám thách thức với nội dung giáo dục và trí tuệ truyền thống; Hiểu biết, tôn trọng, tự trọng; Hiểu về sản xuất và quá trình sản xuất. Theo các tác giả, các đặc điểm này có thể quy vào 4 nhóm: “Mưu cầu biến đổi”; “Trọng tri thức”; “Tự tin”; “Cởi mở” [Dẫn theo 1].    

3. ĐỀ XUẤT HỆ TIÊU CHÍ VĂN HÓA CÔNG NGHIỆP Ở HỌC SINH  PHỔ THÔNG VIỆT NAM

Giá trị

Nội dung

Tiêu chí cơ bản

 

 

Tri thức

- Tôn trọng tri thức, học vấn

- Cầu tiến, trau dồi tri thức

- Vận dụng tri thức

- Cập nhật kiến thức về khoa học, công nghệ

- Cập nhật phương pháp, kĩ thuật, quy trình công nghệ

- Suy nghĩ hợp lí

- Suy ngẫm, cầu thị, ham học hỏi

- Tư duy phản biện, duy lí

- Óc thực nghiệm, xét đoán có căn cứ khoa học

Trách nhiệm

- Tự lực

- Tận tâm

- Đảm bảo chất lượng công việc

 

 

- Tự giác, chủ động

- Chất lượng nhiệm vụ của cá nhân

- Bảo vệ ý kiến, hành vi của bản thân

- Bảo vệ ý kiến, hành vi của người khác

- Nắm bắt cơ hội, nguyên tắc, cách thức giúp phát triển bản thân

- Thực hiện đúng kế hoạch/đúng yêu cầu

 

Chuyên cần, tiếtkiệm

- Đạt mục tiêu và hiệu suất công việc

- Tính tổ chức, kế hoạch

- Khiêm tốn, giản dị

 

- Cần cù, vượt khó hoàn thành nhiệm vụ

- Hoàn thành mục tiêu

- Chú trọng sự thuận tiện, qúy trọng thời gian

- Tổ chức công việc, tổ chức cuộc sống khoa học

- Quan tâm hiện tại và tương lai

- Phong cách gọn gàng, nhanh nhẹn

 

Hợp tác

 

- Quan hệ ứng xử

- Thúc đẩy công việc

- Hiểu vị trí của bản thân, của người khác trong công việc

-Tôn trọng suy nghĩ, ý kiến của người khác

- Lắng nghe

- Phản hồi tích cực

- Quan tâm, giúp đỡ, chia sẻ

- Cởi mở, thân thiện, lịch thiệp, thân thiện

 

Kỉ luật

- Kỉ cương

- Kỉ luật

 

- Xác định được vị trí của bản thân

- Tuân thủ, tôn trọng quy tắc, chuẩn mực xã hội

- Thực hiện nội quy, quy chế

- Đúng hẹn, đúng giờ

 

Trung thực

- Thẳng thắn

- Khách quan, công bằng

- Xác định đúng chức trách của bản thân

- Cảm quan về hiệu quả cá nhân

- Đánh giá khách quan

- Tự đánh giá công khai

 

 

Sáng tạo

 

- Linh hoạt, thích ứng

- Mưu cầu biến đổi

 

- Nhạy bén

- Tư duy cởi mở/thông thoáng, sẵn sàng chấp nhận ý kiến đa chiều

- Óc thực tiễn

- Sẵn sàng tiếp thu cái mới, cải tiến cái đang có

- Dám nghĩ, dám làm, dám mạo hiểm

Tài liệu tham khảo chính:

1. Viên Quốc Chấn (2001). Luận về cải cách giáo dục. NXBGiáo dục. (Bản dịch của Bùi Minh Hiền).

2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011). Văn kiện Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ XI (họp tại Hà Nội, từ 12 – 19/01/2011).

3. Phạm Minh Hạc (1994). Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chương trình Khoa học Xã hội KX-07 NXB Chính trị Quốc gia. Hà Nội.

4. Phạm Minh Hạc (Chủ biên)(1998). Văn hóa và giáo dục. Giáo dục và văn hóa. NXB Giáo dục. Hà Nội.

5. Phạm Minh Hạc (2010). Một số vấn đề giáo dục Việt Nam đầu thế kỉ XXI.  NXBGD VN.

6. Lê Quang Hưng (2010). Xây dựng văn hóa học đường ở bậc trung học phổ thông trong bối cảnh đất nước hội nhập, đổi mới. Đề tài KHCN cấp Bộ, mã số B2008-17-113TĐ. Trường ĐHSP Hà Nội.

7. Phan Huy Lê, Vũ Minh Giang (Chủ biên)(1994). Các giá trị truyền thống của con người Việt Nam hiện nay. Chương trình KHCN cấp Nhà Nước KX – 07, đề tài KX – 07 – 02. Hà Nội.

8. NACCCE (1999). All our Future: Creativity, Culture and Education. DEE and DCMS. The UK National Campaign for the Arts.

9. Dương Xuân Ngọc (2004). Giai cấp công nhân Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. NXB Chính trị Quốc gia. Hà Nội.

10. Nguyễn Đăng Thành (2007). Thực trạng của đội ngũ công nhân thành phố Hồ Chí Minh và giải pháp phát huy vai trò của đội ngũ này trong giai đoạn hiện nay. Đề tài NCKH&CN cấp Bộ. Học viện Chính trị QG Hồ Chí Minh. Hà Nội.

11. Trần Trọng Thủy (2000). Mô hình nhân cách con người Việt Nam trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đề tài nhánh thuộc đề tài KHCN cấp Nhà Nước KHXH-04-04.

12. Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thạc, Mạc Văn Trang (1995). Giá trị - Định hướng giá trị nhân cách và Giáo dục giá trị. Chương trình KHCN cấp Nhà Nước KX-07. Đề tài KX-07-04. Hà Nội. 

Publish: 6/14/2016 - Views: 713 - Lastest update: 6/14/2016 2:58:12 PM
Tin cùng chuyên mục