Email: email@ioer.edu.vn | vncsp@hnue.edu.vn
Bàn tròn giáo dục

CHỈ CÓ KHOẢNG 1/3 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ TÂM LÝ HỌC LÀ ĐÁNG TIN CẬY – CHUYỆN GÌ ĐANG DIỄN RA?

(Tác giả: Elizabeth Gillbert, University of Virginia & Nina Strohminger, Yale University)

          ( Người dịch: Hàn Dương)

Khả năng lặp lại một nghiên cứu với kết quả như nhau ở cả hai lần là một điều kiện tiên quyết để xây dựng nên kiến thức khoa học. Lặp lại một nghiên cứu cho phép chúng ta đảm bảo rằng kết quả thựuc nghiệm là đáng tin cậy và trau dồi sự hiểu biết của chúng ta khi phát hiện đó xảy ra. Bạn có thể sẽ ngạc nhiên khi biết được điều này, rằng các nhà khoa học, họ không thường xuyên tiến hành – chứ đừng nói đến công bố kết quả - lặp lại đối với các nghiên cứu đã được công bố.

Sự phát triển một ngành nghiên cứu được xác định bằng cách tạo ra những khám phá mới, chứ không phải từ việc khổ công chứng thực những thứ đã có trên sách vở.

Các tạp chí thường thích đăng các nghiên cứu mới lạ, tiên phong. Và sự phát triển của một ngành nghiên cứu được xác định bằng cách tạo ra những khám phá mới,  chứ không phải từ việc khổ công chứng thực những thứ đã có trên sách vở. Một trong những đồng nghiệp của chúng tôi gần đây đã nói thế này: “Người khác có lặp lại các nghiên cứu thì cũng tốt thôi, nhưng tô có những cách tốt hơn để sử dụng quỹ thời gian quý báu của mình”.

Khi một bài viết nghiên cứu xuất hiện trên một tạp chí được bình duyệt, thì nó đã dành được một loại uy tín kì diệu, bất khả xâm phạm. Các trang tin tức, và thậm chí đôi khi ngay cả bản thân các nhà khoa học , họ sẽ trích dẫn những phát hiện ấy mà không có một chút hoài nghi nào cả. Niềm tin mù quáng như vậy trong những nghiên cứu mới có vẻ như không xứng lắm, hoặc ít nhất là còn quá sớm để nhận định.

Một đội ngũ nhỏ các nhà nghiên cứu có danh vọng – giải quyết các lĩnh vực khác nhau, từ Vật lí, Y học đến Kinh tế - vẫn đang không ngừng cảnh báo rằng rất nhiều, có lẽ là hầu hết, các nghiên cứu được công bố là sai. Nhưng điều này tệ hại đến mức nào? Và điều gì làm cho một nghiên cứu có nhiều khả năng trở thành đúng?

Chúng tôi là hai trong số 270 các nhà nghiên cứu vừa cùng nhau mới công bố trên tạp chí Science, một nỗ lực với quy mô lớn chưa từng có từ trước tới nay, để trả lời những câu hỏi này bằng cách cố gắng lặp lại 100 nghiên cứu phát hiện tâm lí học đã được công bố trước đây.

Cố gắng để “Phát hiện lại” những Phát hiện về Tâm lí học

Cùng nhau xuất bản như là một Open Science Collaboration (Cộng tác Khoa học Mở), và được điều phối bởi Brian Nosek – nhà tâm lí học xã hội từ Center For Open Science (Trung tâm Khoa học Mở), các nhóm nghiên cứu từ khắp nơi trên thế  giới, mỗi nhóm tiến hành lặp lại một nghiên cứu đã được công bố trong ba tạp chí Tâm lí học hàng đầu là – Psychological Science, Journal of Personality and Social Psychology và Journal ofExperimental Psychology: Learning, Memory and Cognition. Để đảm bảo việc nghiên cứu lại là chính xác nhất có thể, các nhóm nghiên cứu đã tham khảo các tài liệu nghiên cứu gốc, và phối hợp chặt chẽ với các tác giả này bất cứ lúc nào bất cứ khi nào họ cần.

Hầu như tất cả các nghiên cứu được công bố ban đầu (97%) là có kết quả đáng tin cậy về mặt thống kê. Đấy là điều mà bạn mong muốn, trong khi có rất nhiều các thực nghiệm không thể tìm ra được những kết quả có ý nghĩa, các nhà khoa học có xu hướng chỉ công bố những kết quả thí nghiệm có ý nghĩa.

Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy là khi 100 nghiên cứu này được tiến hành lại bởi các nhà nghiên cứu khác, thì chỉ có 36% là đạt ý nghĩa thống kê. Con số này thấp đến đáng báo động. Nói cách khác, chỉ có khoảng 1/3 các nghiên cứu khi được tiến hành lại là cho kết quả tương tự với kết quả ban đầu. Tỉ lệ này là rất thấp, khi bạn xét đến yếu tố một khi được công bố, những phát hiện này có xu hướng được tin như là “chân lí” vậy.

Một khi được công bố, những phát hiện này có xu hướng được tin như là “chân lí” vậy

Điều đáng buồn này không chỉ dừng lại ở đó. Mà thậm chí ngay cả khi nghiên cứu lặp lại tìm thấy được bằng chứng cho sự tồn tại của những phát hiện trong nghiên cứu ban đầu, thì mức độ hiệu quả cũng rất là nhỏ - trung bình chỉ bằng một nửa kết quả ban đầu.

Có một lưu ý là: cho dù việc lặp lại kết quả thất bại thì cũng không có nghĩa rằng phát hiện của họ là không đúng. Một vài lí do cho sự thất bại có thể liên quan đến sự may rủi, hoặc thực hiện kém, hoặc một sự hiểu biết không đầy đủ về các điều kiện cần thiết để thể hiện nên kết quả (các nhà khoa học gọi đây là những “điều tiết” hoặc “điều kiện biên”). Lấy một ví dụ thế này, yêu cầu một người tập đi tập lại một công việc nào đó để cải thiện trí nhớ của họ nhưng đó là chỉ khi họ không biết gì nhiều về công việc nên không biết bắt đầu từ đâu. Ở một khía cạnh nào đó, những sự lặp lại (và lặp lại thất bại) này có mục đích là để làm nổi bật sự không chắc chắn vốn có của bất kì một nghiên cứu nào – nguyên thủy hoặc mới.

Cho dù việc lặp lại kết quả thất bại thì cũng không có nghĩa rằng phát hiện đó là không đúng

Phát hiệncàng chắc chắn thì khả năng lặp lại càng cao

Với những con số thấp đến vậy, có cách nào giúp chúng ta dự đoán được các nghiên cứu nào có thể lặp lại và nghiên cứu nào thì không? Các kết quả từ “Dự án khả năng lặp lại” chỉ ra một số manh mối.

Có hai cách chủ yếu mà các nhà nghiên cứu sử dụng để định lượng bản chất của các kết quả. Đầu tiên là giá trị p, ước tính xác suất mà kết quả đạt được hoàn toàn là do ngẫu nhiên và được gọi là lỗi dương tính (về mặt kĩ thuật, giá trị p là xác suất mà kết quả, hoặc là một kết quả trội hơn, có thể xảy ra ngay cả khi không có tác động thực sự). Nói chung, nếu kiểm định thống kê cho thấy rằng giá trị p mà thấp hơn 5%, thì kết quả đó được coi là “đáng tin cậy” – tức là nhiều khả năng có tác động thực tế.

Một cách khác để đánh giá kết quả là quy mô tác động – không phải là đánh giá xem sự khác nhau đáng tin cậy đến mức nào mà là sự khác nhau có lớn hay không. Giả dụ bạn phát hiện được rằng người ta tiêu tiền nhiều hơn khi họ không vui, vậy thì, họ tiêu nhiều hơn là bao nhiêu? Đấy là quy mô tác động.

Chúng tôi thấy rằng với giá trị p của nghiên cứu ban đầu mà càng nhỏ và quy mô tác động của nó càng lớn, thì nhiều khả năng kết quả của nghiên cứu đó có thể lặp lại được. Bằng chứng mạnh mẽ của thống kê ban đầu là một dấu hiệu tốtcho việc lặp lại kết quả.

Những nghiên cứu càng được đánh giá là khó tiến hành hay gây ngạc nhiên thì càng ít có khả năng lặp lại kết quả.

Những nghiên cứu càng được đánh giá là khó tiến hành hay gây ngạc nhiên thì càng ít có khả năng lặp lại kết quả. Ví dụ, nếu một nghiên cứu chỉ ra rằng việc đọc sách làm giảm chỉ số IQ, hoặc nếu một nghiên cứu sử dụng một phương pháp không rõ ràng và ít quen thuộc,thì chúng nên hòai nghi những dữ liệu đó. Những nhà khoa học thường được nhận giải thưởng vì có những kết quả gây sững sờ và không tuân theo kì vọng, nhưng những phát hiện phi thường đòi hỏi bằng chứng cũng thật phi thường.

Mặc dù nỗ lực lặp lại các nghiên cứu của chúng tôi là điều còn mới lạ xét đến phạm vi và mức độ minh bạch của nó – nhưng các phương pháp và dữ liệu từ tất cả các nghiên cứu lặp lại này hiện đã có mặt trên mạng -  chúng nhất quán với các nghiên cứu trước đây từ các lĩnh vực khác. Ví dụ các nhà sinh học ung thư, đã cho biết rằng chỉ có 20 – 25% các nghiên cứu là nhất quán với nhau.

Chúng ta có vấn đề. Giải pháp gì đây?

Ở đây có thể đưa ra một số kết luận đảm bảo.

Chúng ta phải ngừng việc đối đãi các nghiên cứu riêng lẻ như một quyền thế không thể công kích về tính đúng đắn. Trước khi một khám phá đã được xem xét một cách kỹ lưỡng và được tiến hành lặp lại nhiều lần, chúng ta nên đối đãi bằng tiêu chuẩn của chủ nghĩa hoài nghi, đó là các mà tư duy khoa học cần đến. Do đó, tư duy khoa học thật sự là rất quan trọng, không được cả tin. Luôn có chỗ cho những khái niệm mang tính đột phá và những lí thuyết tiên phong, nhưng cũng không thể bỏ quên giá trị của việc kiểm tra và tinh lọc một cách chậm rãi và có hệ thống đối với các kết luận và lí thuyết.

Tất nhiên, việc áp dụng một thái độ hoài nghi sẽ chỉ giúp được chúng ta đôi chút. Chúng ta cũng cần phải khuyến khích cho những nghiên cứu khoa học có thể lặp lại được, thông qua việc khen thưởng những người tiến hành lặp lại nghiên cứu và những người có nghiên cứu có thể được thực hiện lại. Ví dụ, ít nhất một tạp chí hàng đầu đã bắt đầu dành những “phù hiệu” đặc biệt cho các bài viết cho phép độc giả có thể truy cập cơ sở dữ liệu và tư liệu của họ, rồi sáng kiến Berkeley cho sự minh bạch trong các ngành Khoa học Xã hội đã thành lập một giải thường dành cho những ai giúp cho các môn khoa học xã hội được minh bạch hơn.

Những nghiên cứu được tiến hành kỹ lữong hơn cũng có khả năng đảm bảo cho tỷ lệ lặp lại cao hơn. Đã có bằng chứng cho thấy rằng thực hiện theo những bước chắc chắn, chẳng hạn như gây dựng các giả thuyết thật rõ ràng trước khi phân tíc dữ liệu, công khai chia sẻ tài liệu và dữ liệu, và tuân theo các tiêu chuẩn báo cáo thật minh bạch, sẽ giảm tỷ lệ lỗi dương tính trong các nghiên cứu được công bố. Một số tổ chức tài trợ đã yêu càu việc đăng ký giả thuyết và chia sẻ dữ liệu.

Bước đầu, như họ nói, là thừa nhận rằng bạn có vấn đề

Mặc dù để đạt được khả năng lặp lại hoàn hảo ở những bài báo đã được đăng là một mục tiêu không hề thực tế, nhưng tỷ lệ lặp lại các nghiên cứu hiện nay là quá thấp. Bước đầu tiên, như họ nói, là thừa nhận rằng bạn có vấn đề. Đứng trước thông tin này, sự lựa chọn của các nhà khoa học và công chúng hiện vẫn còn phải chờ xem, nhưng phản ứng đồng bộ của chúng ta sẽ dẫn đường cho quá trình tiến bộ khoa học trong tương lai.

Elizabeth Gilbert là Nghiên cứu sinh ngành Tâm lý học tại Đại học Virginia và Nina Strohminger là Thực tập sinh cao cấp tại trường Quản lý thuộc Đại học Yale Hoa Kỳ. Bài viết này được đăng chính thức trên website: TheConversation.com.

(Đào Thị Oanh sưu tầm từ http://vietdaikynguyen)

 

 

 

Publish: 8/9/2016 - Views: 771 - Lastest update: 8/9/2016 2:47:53 PM
Tin cùng chuyên mục