Email: email@ioer.edu.vn | vncsp@hnue.edu.vn
Bàn tròn giáo dục

LIỆU BÀI VIẾT KHOA HỌC CÓ ĐÁNG TIN CẬY HƠN BÀI VIẾT BÁO CHÍ?

Tác giả Ivan Oransky, Đại học New York

Người dịch: Xuân Toàn

Tạp chí Rolling Stone đã phải gỡ một bài báo gây xôn xao dư luận do sai lầm trong quy trình biên tập, bài báo này cáo buộc một vụ hiếp dâm tập thể được cho là diễn ra ở khuôn viên của đại học Virginia. Đây quả là một sai lầm đáng được liệt vào danh sách những lỗi biên tập ngớ ngẩn nhất của nghề báo chí. Rolling Stone đã thông báo về việc gỡ bài và lỗi biên tập một cách rất chi tiết và công khai. Và việc một hãng tin tức như Rolling Stone lại phơi bày lỗi lầm của mình theo cách quá công khai như vậy đúng là hiếm có – dù không phải là chưa từng có tiền lệ.

Từ lỗi lầm này, xuất hiện ý kiến cho rằng báo chí nên được biên tập giống cách biên tập và bình duyệt các bài cáo khoa học hơn nữa, vì khoa học được cho là một ví dụ điển hình về khả năng tự hiệu chỉnh. Thời báo New York đã có bài viết về việc gỡ bài của Rolling Stone, trong đó có thuật lại rằng Nicolas Lemann, cựu Chủ nhiệm Trường Báo chí Columbia, dạy sinh viên của mình rằng “phương pháp làm báo chí” rất giống phương pháp làm khoa học: tất cả đều xoay quanh việc kiểm định các giả thuyết một cách hết sức nghiêm ngặt, xoáy vào các câu hỏi: Giả thuyết của tôi là gì và tôi sẽ bác bỏ nó bằng cách nào? Đó là những câu hỏi mà các nhà báo của Rolling Stone đã không đặt ra khi viết bài báo trên.

Hai lĩnh vực khoa học và báo chí có phương pháp làm việc khá tương đồng – nhưng phương pháp khoa học cũng không phải là lý tưởng.

Sai lầm trong quy trình biên tập

Steve Coll, người kế nhiệm vị trí của Lemann ở Trường Báo chí Columbia, và các đồng nghiệp đã công bố một bản báo cáo điều tra chính thức dài 12.700 từ về vụ việc. Theo báo cáo này, một điều chắc chắn là Sabrina Rubin Erdely, tác giả bài báo về vụ việc trên, đã không cố gắng phản biện lại giả thuyết của cô ấy bằng cách phỏng vấn các bị cáo được cho là hãm hại cô gái. Các biên tập viên của Rolling Stone cũng không yêu cầu Sabrina Rubin Erdely quay trở lại thực hiện một cuộc phỏng vấn trước khi xuất bản bài viết.

Chúng tôi đánh giá việc này giống với việc thiếu bình duyệt các công trình khoa học, vốn là quy trình mà qua đó các chuyên gia có thể tìm ra các vấn đề trong phương pháp luận, từ đó dẫn tới sự sai lệch trong các kết luận của tác giả. Khi bạn không ép chính mình hay người khác phải tìm kiếm các vấn đề, thì một khả năng có thể xảy ra là bạn sẽ diễn đạt thông tin theo chiều hướng phù hợp với định kiến của bản thân. Đây là khuynh hướng tự nhiên rất mạnh mẽ khi chúng ta tìm kiếm các dẫn chứng để ủng hộ cho lý thuyết hay câu chuyện mà chúng ta tin là đúng.

Một thực tế nữa trong báo cáo trên là hai trong ba lý do chủ yếu dẫn tới việc gỡ bỏ các bài báo của các phương tiện truyền thông – như miêu tả trong thời báo New York – rất giống trong khoa học: đó là hoàn toàn bịa đặt và đạo văn (loại lí do thứ ba thuộc về sai lầm của Rolling Stone, liên quan tới việc thiếu sự hoài nghi khi biên tập, chúng ta sẽ quay lại yếu tố thứ ba này sau).

Chuẩn mực trong quy trình công bố khoa học rất đáng để noi theo

Nhưng sự tương đồng giữa hai lĩnh vực này chỉ dừng lại ở 2 lí do trên.

Khoa học và công bố khoa học hiếm khi trình bày kết quả từ một sự kiện đơn lẻ. Các công trình khoa học đã được công bố, đặc biệt trong lĩnh vực Y Sinh, có đặc trưng là liên hệ tới những kết quả của các thí nghiệm bao gồm rất nhiều các bài kiểm tra (test). Điều mà Lemann thực sự miêu tả chỉ là một khía cạnh nhỏ, mặc dù thiết yếu, của phương pháp khoa học; đó là nỗ lực để xác định và loại bỏ yếu tố thiên kiến chủ quan trong suy nghĩ con người hoặc trong việc kiểm định một giả thuyết.

Khi một nghiên cứu khoa học được thực hiện đúng như yêu cầu, thì các khám phá từ nghiên cứu đó sẽ bổ sung thêm, thay đổi hoặc bác bỏ hoàn toàn nghiên cứu trước. Khi kiến thức mới xuất hiện khiến chúng ta phải sửa đổi các kiến thức đang thịnh hành, các nhà khoa học có thể và thường xuyên chữa lại các tài liệu bằng cách gỡ bỏ các kết quả nghiên cứu trước đó của họ.

Tuy nhiên, thực tế làm khoa học lại không như “chuẩn mực”

Vấn đề là trong khoa học – chính xác hơn là trong công bố khoa học – quy trình thực hiện lại hiếm khi đạt được như yêu cầu.

Qua công việc của chúng tôi tại Retraction Watch (chuyên theo dõi việc gỡ bài của các tạp chí), chúng tôi thấy các tạp chí khoa học – ngay cả khi họ gỡ bài xuống (vốn phải là chuyện thường gặp trong thực tế) – hiếm khi họ đưa ra một thông báo đầy đủ và rõ ràng về nguyên nhân và quy trình bài báo ấy bị làm sai chuẩn mực. Các thông báo gỡ bài trên tạp chí khoa học thông thường không có sự thuyết minh rõ ràng và chi tiết như trong các thông báo gỡ bài của báo chí – và không bao giờ các thông báo gỡ bài khoa học lại kèm theo một báo cáo chi tiết như báo cáo về vụ việc của Rolling Stone, một vụ việc được thừa nhận là trường hợp hy hữu. Một vài tạp chí khoa học thậm chí còn khuyên người đọc liên hệ với các tác giả của bài viết gốc để biết thêm chi tiết – việc này theo một cách nào đó khiến người đọc nghĩ rằng đó là một câu trả lời hợp lí – hơn là đăng tải chi tiết tới tất cả mọi người để họ nhìn thấy các vấn đề đã dẫn tới việc gỡ bài.

Hiện nay, nhà quan sát truyền thông Craig Silverman đang kì công lên danh mục các hiệu chỉnh báo chí, mà theo như chúng tôi được biết là chưa một ai có được danh sách đầy đủ về các vụ gỡ bài của báo chí, và dường như các trường hợp này lại không phổ biến bằng các vụ gỡ bài tạp chí khoa học. Mặc dù, chính các tạp chí khoa học cũng rất hiếm khi gỡ bài: chỉ khoảng 400 đến 500 bài trong khoảng 1,4 triệu bài được công bố mỗi năm.

Điều đó khiến chúng tôi quay trở lại với vấn đề thiếu sự hoài nghi. Giống như một câu chuyện cuốn hút trên truyền thông, một bài báo khoa học muốn có sức nặng thì cũng phải có luận điểm thuyết phục. Các tạp chí khoa học thường có xu hướng công bố các khám phá tích cực hơn là các kết quả tiêu cực. Và theo xu hướng nghiên cứu gần đây thì sẽ không có gì lạ nếu có những công bố khoa học không hề chính xác. Và nguyên nhân lại là xu hướng thiên kiến khẳng định, xu hướng này được trợ giúp và thúc đẩy qua phương pháp sử dụng thống kê của nhiều nhà khoa học. Nói một cách đơn giản là nếu bạn làm 20 thí nghiệm, và chỉ có một trong số chúng có kết quả có thể xứng đáng được công bố. Nhưng chỉ công bố riêng kết quả đó sẽ không làm cho những phát hiện  trong nghiên cứu của bạn có giá trị. Thực tế lại hoàn toàn ngược lại, công bố đó hoàn toàn không có giá trị.

Tại sao việc công bố như vậy vẫn xảy ra? Bởi vì toàn bộ cộng đồng khoa học, từ các nhà nghiên cứu trẻ cho tới tổng biên tập, có chung điểm yếu là ít nhiều sự cả tin, và đây là điều đã khiến các biên tập viên của Rolling Stone trả giá, sự cả tin cũng là một dạng đặc trưng của xu hướng thiên kiến khẳng định. Và hậu quả - ít nhất là trong ngành khoa học Sinh Hóa – chính là sự khủng hoảng về nghiên cứu kế thừa. Tóm lại, phần nhiều nếu không muốn nói là hầu hết những bài báo khoa học được công bố ngày nay ở các tạp chí khoa học chỉ có chút ít khả năng đứng vững nếu phòng thí nghiệm khác tiến hành kiểm tra lại kết quả và thậm chí khả năng đứng vững còn không được một chút ít đó.

Tất cả mọi người đều có thể làm và nên làm tốt hơn

Tạp chí khoa học cũng như báo chí phổ thông, nên đề ra tiêu chuẩn cao hơn đối với các bài viết của họ. Cũng giống như việc họ được xếp hạng dựa trên tần suất các bài viết của họ được trích dẫn (còn gọi là hệ số ảnh hưởng – impact factor); họ phải được đánh giá cả về tần suất bài viết bị gỡ và thời gian nhanh chậm các thông báo gỡ bài được đưa ra. Họ cũng nên được đánh giá dựa trên số lượng các khám phá được kế thừa trong các nghiên cứu tương lai, điều mà chúng tôi gọi là chỉ số khả năng tái sử dụng.

Ngoài ra còn có những hệ quả khác trong đời sống thực, như là: sau khi báo cáo của Steve Soll được đưa ra, hội sinh viên của đại học Virginia, nơi được cho là xảy ra vụ cáo buộc, đã thông báo việc khởi kiện Rolling Stone vì đã làm sai lệch tin tức. Các luật sư cũng có thể đóng một vai trò lớn trong khoa học; chúng ta đã chứng kiến một số vụ kiện gần đây mà những người đại diện đầy quyền uy này đã cố gắng ngăn chặn sự thật khỏi các thông báo gỡ bài – và khỏi sự chú ý của công chúng.

Tuy nhiên, các vụ kiện không chỉ là phản ứng nhằm che dấu những sai sót và gian lận. Một nghiên cứu năm 2013 cho thấy các nhà khoa học bị gỡ bài báo do gian lận sẽ gặp phải điều mà chính bạn cũng có thể nghĩ tới: đó là những bài báo khác của họ theo đó cũng ít được trích dẫn. Trên thực tế, toàn bộ các lĩnh vực liên quan đều có thể nhận ra sự việc này. Nhưng điều đáng khích lệ trong nghiên cứu năm 2013 là thống kê cho thấy khi các nhà khoa học tình nguyện gỡ các bài báo của họ vì các sai sót có thật, điều đó thực sự giúp họ gia tăng thêm một ít số lượng các trích dẫn ở các bài báo khác. Nếu các nhà khoa học, vô tình hoặc hữu ý đang tán thưởng hành vi tốt (bằng cách trích dẫn), thì chắc cũng hợp lí nếu người đọc báo chí phổ thông cũng sẽ cư xử tương tự?

Nếu như xem tạp chí khoa học và báo chí phổ thông  là hai hoạt động trong cùng một lĩnh vực (báo chí) nhưng có tiêu chí và phương pháp tiếp cận khác nhau, chúng ta thấy rõ một thực tế là bài viết báo chí và bài viết khoa học đều bị ảnh hưởng bởi những yếu điểm của con người giống như bất kì hoạt động nào khác, và không rõ lĩnh vực nào có khả năng tự hiệu chỉnh tốt hơn. Cả hai lĩnh vực có thể học hỏi lẫn nhau. Họ cũng có thể học từ các lĩnh vực khác như là phẫu thuật, mà từ thực tiễn trong các buồng mổ đã cho thấy rằng cần phải phân quyền cho tất cả thành viên trong kíp mổ, chứ không chỉ riêng các bác sĩ phẫu thuật chính, là những người có lúc có thể không muốn thừa nhận các sai lầm của mình; và việc trao quyền cho tất cả mang lại sự an toàn hơn cho người bệnh. Thật là khó khăn khi phải chấp nhận  một thực tế rằng chúng ta là con người nên khó tránh các sai lầm, nhưng khi thừa nhận được như thế thì chúng ta có thể tạo nên sự thay đổi.

Bài báo có đồng tác giả là Adam Marcus. Tác giả Oransky và Marcus cũng là những nhà đồng sáng lập của trang mạng Refractionwatch.com

(Đào Thị Oanh sưu tầm  từ http://vietdaikynguyen.com, ngày 7 tháng 5, 2015)

 

 

Publish: 9/14/2016 - Views: 519 - Lastest update: 9/14/2016 8:50:36 AM
Tin cùng chuyên mục