Email: email@ioer.edu.vn | vncsp@hnue.edu.vn
Bàn tròn giáo dục

THỰC TRẠNG NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN PHỔ THÔNG TRUNG HỌC TRƯỚC YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC PHỔ THÔNG

                                                                                      TS Phạm Thị Kim Anh

                                                          Viện Nghiên cứu sư phạm,Trường ĐHSP Hà Nội

    (Bài đăng trong kỷ yếu hội thảo quốc tế của Trường SĐHSP Hà Nội ngày 9.12/2016)

Tóm tắt: Giáo viên (GV) là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và là yếu tố then chốt của mọi sự cải cách, đổi mới giáo dục. Bất kể  thời đại nào, không có thầy giỏi cả về năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức thì khó có thể có một nền giáo dục có chất lượng. Tuy nhiên, nhìn vào thực tế hiện nay, năng lực đội ngũ GV phổ thông đang là vấn đề đáng lo ngại trước yêu cầu đổi mới giáo dục. Kết quả điều tra, khảo sát cho thấy, năng lực đội ngũ GV phổ thông vừa yếu vừa thiếu và chưa đáp ứng ứng được yêu cầu đổi mới. Trong bài viết này, chúng tôi tập trung làm rõ 2 nội dung chính: (1) Thực trạng năng lực của đội ngũ GV phổ thông hiện nay trước yêu cầu đổi mới GD; (2) Giải pháp để nâng cao năng lực nghề nghiệp cho GV đáp ứng với chương trình giáo dục phổ thông mới.

Từ khóa: Thực trạng, năng lực, đội ngũ giáo viên phổ thông, đổi mới giáo dục phổ thông.

1.Đặt vấn đề

        Sức mạnh của một trường học phụ thuộc chủ yếu vào đội ngũ giáo viên (GV)- nhân tố quan trọng quyết định chất lượng giáo dục. Họ là những người trực tiếp giảng dạy, giáo dục, hướng dẫn và truyền thụ kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm  cho học sinh (HS). Bởi vậy, xây dựng được đội ngũ GV có đủ phẩm chất và năng lực sẽ là yếu tố then chốt để thực hiện cải cách, đổi mới giáo dục. Cho dù chúng ta có được những chương trình giáo dục tốt, có những bộ sách giáo khoa (SGK) hoàn hảo và cơ sở vật chất đầy đủ, hiện đại, nhưng chất lượng người thày ở trình độ trung bình thì có thể khẳng định chắc chắn rằng, đó là một nền giáo dục không có tương lai. Chính vì thế, Hội nghị quốc tế về giáo dục lần thứ 45 họp tại Giơ ne vơ (Thụy sĩ) bàn về giáo dục cho thế kỷ XXI đã nhấn mạnh: “Muốn có một nền giáo dục tốt, cần phải có những giáo viên tốt”(1).

      Tuy nhiên, nhìn vào thực tế hiện nay, năng lực đội ngũ GV phổ thông đang là vấn đề đáng lo ngại trước yêu cầu đổi mới giáo dục. Tài liệu “Tập huấn cán bộ, giảng viên các cơ sở đào tạo GV phổ thông về phát triển chương trình đào tạo” (năm 2015) đã đánh giá tổng quát năng lực của gần 200 GV phổ thông ở 12 môn (không dựa vào bằng cấp): “Đạt yêu cầu: 75,3%; chưa đạt yêu cầu: 16,6% và khó đánh giá được là 8,0%”(2). Như vậy, còn khoảng 25% số GV chưa đạt yêu cầu về năng lực dạy học, giáo dục theo chương trình hiện hành. Nếu Chương trình giáo dục phổ thông mới  được triển khai trong thời gian tới với định hướng và yêu cầu chuyển từ trang bị nội dung kiến thức sang phát triển phẩm chất và năng lực người học bằng việc dạy học tích hợp và lồng ghép, dạy học phân hóa, trải nghiệm sáng tạo…thì năng lực của đội ngũ GV phổ thông đang đứng trước những thách thức mới. Vậy làm thế nào để phát triển và nâng cao năng lực nghề nghiệp cho GV phổ thông đáp ứng với chương trình giáo dục phổ thông mới đang là bài toán đặt ra cho các nhà quản lý, trong đó có vai trò của các trường sư phạm. Trong bài viết này, chúng tôi tập trung vào 2 nội dung chính: (1) Thực trạng năng lực của đội ngũ GV phổ thông hiện nay trước yêu cầu đổi mới giáo dục; (2)  Giải pháp để nâng cao năng lực nghề nghiệp cho GV đáp ứng với chương trình giáo dục phổ thông mới.

2. Nội dung

2.1.  Thực trạng năng lực của đội ngũ  giáo viên  phổ thông hiện nay trước yêu cầu đổi mới giáo dục

Theo kết quả khảo sát năng lực của đội ngũ GV giảng dạy 12 môn ở trường phổ thông, chúng ta thấy:

Bảng 1:

STT

Nội dung khảo sát

Tỷ lệ %

Điểm TB

Đồng ý

Phân vân

Không

1

Về cơ bản đáp ứng được yêu cầu

81,8

18,2

0,0

2,8

2

Đang có nhiều bất cập về chuyên môn

31,8

40,9

27,3

2.0

3

Đang có chiều hướng tích cực

59,1

40,9

0,0

2.6

4

Năng lực dạy học của GV còn yếu

13,6

51,9

27,3

1,9

5

Các phương pháp dạy học mới chưa được triển khai

4,5

54,5

40,9

1,6

*Nguồn: Những vấn đề chung về phát triển chương trình đào tạo giáo viên (Tài liệu tập huấn cán bộ, giảng viên các cơ sở đào tạo GVPT về phát triển chương trình đào tạo),  Bộ GD&ĐT. 2015 - tr 200)

    Kết qủa trên cho thấy, có  31,8 % cho rằng GV đang có nhiều bất cập về chuyên môn, 27,3% không thừa nhận điều này và  40,9 %  ý kiến còn phân vân. Điều này cho thấy sự bất cập về chuyên môn của GV là một vấn đề cần giải quyết.

Về năng lực dạy học của GV, có  13,6% đánh giá là còn yếu, 27.3%  không đồng ý điều đó, nhưng tỷ lệ phân vân khá cao (51,9%). Điều này cho  thấy  mức độ  tin tưởng vào năng lực dạy học của GV chưa được khẳng định rõ ràng.

Về việc triển khai thực hiện các PPDH mới, tuy có 40,9 %  ý kiến  không đồng ý (tức thừa nhận  các PPDH mới đã được triển khai), nhưng có tới 54,5 ý kiến vẫn còn phân vân. Như vậy, việc GV thực hiện các PPDH mới vẫn còn là vấn đề chưa được khẳng định rõ ràng.

Để đánh giá  các năng lực dạy học  theo yêu  cầu đổi mới  chương trình giáo dục phổ thông, chúng tôi tiến hành điều tra, khảo sát 74 GV THCS ở các tỉnh: Hải Dương, Ninh Bình, Sơn La, Lai Châu. Kết quả như sau:

Bảng 2:

Các năng lực DH của giáo viên theo yêu cầu đổi mới

Mức độ đạt được %

Đã vững chắc

Có, nhưng chưa vững chắc

Chưa có

Khó đánh giá

1. Năng lực phát triển chương trình nhà trường, biên soạn và phát triển tài liệu giáo khoa

10

35

54

 

2.Năng lực dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS

24,3

47,2

28,3

 

3. Năng lực dạy học phân hoá.

18,9

44,5

36,4

 

4. Năng lực dạy học tích hợp, lồng ghép

10

59,4

27.0

2

5. Năng lực DH theo phương thức hoạt động trải nghiệm sáng tạo

5

52,7

41,8

 

6 Năng lực tổ chức tự học, tự nghiên cứu cho HS

16,2

67,5

16,2

 

7.Năng lực sử dụng công nghệ thông tin (máy tính, Internet, mạng xã hội…) trong dạy học

27,0

66,2

6,7

 

8. Năng lực đổi mới, sáng tạo, cải tiến chất lượng DH

16,2

39,1

40,5

4

9. Năng lực giao tiếp và kiểm soát cảm xúc trong DH

21,6

44,6

28,3

5,4

10. Năng lực thích ứng với các điều kiện DH khác nhau.

20,2

39,1

40,5

 

11. Năng lực xây dựng môi trường học tập (tạo dựng môi trường học tập: dân chủ, cởi mở, thân thiện, hợp tác, thuận lợi, an toàn…)

27,0

44,6

28,3

 

12. Năng lực chuyển giao kinh nghiệm DH cho đồng nghiệp, phát triển nghề của tổ bộ môn, của Trường

17,5

51,3

31,0

 

*Nguồn: Kết quả khảo sát thực trạng tháng 7 năm 2016. Đề tài cấp Trường - MS: SPHN 16-01-VNCSP

   Nhìn vào bảng số liệu trên, chúng ta thấy tuy GV đã có những năng lực cần thiết để đáp ứng với yêu cầu đổi mới GD phổ thông, nhưng số GV có năng lực vững chắc chỉ đạt trên dưới 20%; những năng lực đã có nhưng chưa vững chắc vẫn chiếm tỷ lệ khá cao (trên dưới 60%). Tỷ lệ GV chưa có các năng lực DH theo yêu cầu đổi mới cũng còn khá nhiều (nhất là các năng lực về phát triển chương trình (54%); năng lực DH theo phương thức trải nghiệm sáng tạo (41,8%); năng lực đổi mới, sáng tạo, cải tiến chất lượng DH và năng lực thích ứng với các điều kiện DH khác nhau cũng có tới 40,5% GV chưa có được)

Về các năng lực DH tích hợp, lồng ghép, liên môn có tới gần 60% GV đều cho rằng chưa vững chắc. Qua các đợt tập huấn, bồi dưỡng GV do Bộ GD&ĐT gần đây, báo chí trong nước cũng đã phản ánh: “Hầu hết GV  đều mơ màng về tích hợp, liên môn và có những GV đến nay vẫn chưa hiểu rõ tích hợp, liên  môn là gì(6)           

 Những hiện tượng như: GV không giải được hết các bài toán trong sách giáo khoa, rời sách giáo khoa thì không biết lấy gì dạy và dạy như thế nào đã không còn hiếm. Đối với những bài học về thực vật (thân, lá, hoa...) hay các loài động vật, gia cầm xung quanh chúng ta  chẳng hạn, đáng lẽ ra phải dạy ở vườn trường, sân trường, trại chăn nuôi thì  tuyệt đại đa số GV dạy trong lớp với quyển sách giáo khoa một cách vô cảm….

Vậy làm thế nào để cải thiện tình hình nêu trên? Nguyên Bộ trưởng  Bộ GD&ĐT HYPERLINK "http://www.doisongphapluat.com/giao-duc/bo-gd-dt-khong-tiep-khach-nhan-hoa-chuc-mung-2011-a9HYPERLINK "http://www.doisongphapluat.com/giao-duc/bo-gd-dt-khong-tiep-khach-nhan-hoa-chuc-mung-Phạm Vũ Luận đã nói rõ : “Chúng ta không thể bỏ 2 triệu thầy cô giáo hiện nay sang bên cạnh để đưa 2 triệu thầy cô giáo mới được đào tạo vào, chúng ta phải đổi mới từ đội ngũ hiện nay của chúng ta, việc đó sẽ được triển khai đào tạo lại(5 ). 

Như vây, để khắc phục những điểm yếu trên thì phải thông qua con đường đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn để nâng cao năng lực cho GV.

2.2. Giải pháp nâng cao năng lực nghề nghiệp cho giáo viên  đáp ứng với chương trình giáo dục phổ thông mới

2.2.1. Trong đào tạo giáo viên tại các trường sư phạm

      Ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, khi nói về đào tạo GV, Makarenco đã có một ước muốn: Các trường sư phạm phải đào tạo nên những nhà kỹ thuật sư phạm thành thạo và được chuẩn bị tốt. Điều này nhấn mạnh đến việc trang bị và rèn luyện những kỹ năng, kỹ thuật sư phạm hơn là những lý thuyết nghề. Trải qua một thế kỷ, điều này vẫn chưa thực hiện được. Trong các hội thảo khoa học gần đây về đổi mới đào tạo GV do Bộ GD&ĐT tổ chức, nhiều tác giả đã nêu và phân tích tình trạng sinh viên sư phạm: “Giàu kiến thức, nghèo kỹ năng” và rất lúng túng trong thực hành nghề. Khoảng cách giữa “học” với “hành” và “tập” còn rất xa nhau trong đào tạo GV.. Đó là chưa kể đến nhiều yếu tố khác tác động đến chất lượng đào tạo: chất lượng tuyển sinh đầu vào; chương trình đào tạo, cách thức quản lý và kiểm tra đánh giá…Vì vậy, chất lượng đào tạo GV chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn phổ thông.

      Từ thực tế này, muốn nâng cao năng lực nghề nghiệp cho GV, trước hết phải đổi mới ngay từ khâu đào tạo sư phạm. Để thực hiện điều này, chúng tôi xin đề xuất 2 biện pháp cơ bản:

a) Đổi mới, thiết kế lại chương trình đào tạo giáo viên  theo  mục tiêu phát triển năng lực nghề và sự thay đổi của chương trình-sách giáo khoa mới sau 2018.

Chương trình đào tạo sư phạm hiện nay đang trong tình trạng: “giàu tri thức- nghèo kỹ năng”. Sinh viên ra trường chưa đủ  năng lực thực hiện các hoạt động dạy học cơ bản trong thực tiễn nghề  nghiệp và giải quyết tốt  các tình huống xảy ra trong bối cảnh cụ thể của thực tiễn đổi mới GD. Vì thế, chương trình đào tạo GV phải được cấu trúc và thiết kế lại sao cho phát triển được những năng lực nghề cần thiết  cho SV để có thể đáp ứng với thực tiễn phổ thông. Để làm được điều này, chương trình đào tạo GV cần  có sự gắn kết  chặt chẽ giữa học lí thuyết với thực hành, thực tập; tri thức lí luận với tri thức thực tiễn; tri thức khoa học với tri thức kinh nghiệm và tri thức hành động theo định hướng phát triển năng lực nghề. Trong đó chú trọng rèn luyện các năng lực dạy học tích hợp, phân hóa; năng lực tổ chức hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo; năng lực dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực người học, năng lực quản lý lớp học, năng lực phát triển chương trình môn học, …. Trong chương trình đào tạo phải đặt bộ môn phương pháp dạy-học và kiến thức về nghiệp vụ sư phạm (NVSP) vào một vị trí thích đáng đồng thời chăm lo đầu tư cho bộ môn này thực sự trở thành rường cột trong đào tạo NVSP.

Theo tiếp cận này thì mục tiêu của chương trình đào tạo phải được cụ thể hóa bằng hệ thống năng lực của người GV: năng lực chuyên ngành,  năng lực dạy học và giáo dục, năng lực đánh giá, năng lực sáng tạo và đổi mới, năng lực nghiên cứu,  năng lực phát triển chương trình, năng lực giao tiếp; năng lực thích ứng môi trường; năng lực học tập suốt đời, năng lực văn hóa – xã hội,  năng lực cảm xúc, năng lực truyền thông, năng lực công nghệ thông tin, năng lực phát triển nghề...Từ việc xác định rõ hệ thống các năng lực cần đào tạo cho SV, người xây dựng chương trình sẽ lựa chọn những môn học, những đơn vị kiến thức cần thiết để hình thành năng lực cho SV.

Bên cạnh đó cần thiết kế lại chương trình đào tạo theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với yêu cầu của ngành giáo dục; giảm bớt lý thuyết, tăng phần thực hành, thực tập, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, đặc biệt là tăng cường rèn luyện kỹ năng nghề để nâng cao năng lực nghề nghiệp cho SV. Trong chương trình, cần chú trọng phần kiến thức chuyên ngành và kỹ năng nghề nghiệp. Việc dạy ngoại ngữ và tin học là thiết yếu, song cần theo hướng chuẩn hóa, thiết thực, bảo đảm năng lực sử dụng của người học.

b) Đổi mới công tác tuyển sinh để lựa chọn những thí sinh vào sư phạm có năng lực dạy học tốt

Những năm gần đây, do nhiều thí sinh giỏi quay lưng với ngành sư phạm nên các trường sư phạm đang dần thiếu những thí sinh có đủ tâm, tài và lòng đam mê với “sự nghiệp trồng người. Vì vậy điểm chuẩn đầu vào ngành sư phạm hàng năm cứ tụt dốc dần. Rất nhiều ngành có điểm chuẩn chỉ bằng điểm sàn, thậm chí có thí sinh trúng tuyển vào ngành sư phạm nhưng điểm môn thi chuyên ngành chỉ 1, 2 điểm, có trường hợp chỉ đạt 0,25 điểm. Nhiều người đặt câu hỏi: Năng lực như vậy thì có cây đũa thần nào trong bốn năm  đại học để đào tạo thành người giáo viên tốt sau này?. Chúng ta đều biết, ngành sư phạm có những đặc thù riêng cả về năng lực chuyên môn và đạo đức, vì vậy cần phải sàng lọc để tuyển chọn được những thí sinh có khả năng dạy học và yêu nghề. Nếu ngay từ khâu tuyển chọn đầu vào chỉ lấy được những thí sinh có lực học trung bình vào nghề với sự bất đắc dĩ thì có thể nói một cách quả quyết rằng năng lực dạy học, giáo dục của  họ không thể đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông. Nguyên liệu đầu vào kém chất lượng thì cho dù mọi cố gắng trong quá trình đào tạo cũng không thể cho ra lò những sản phẩm tốt. Trả lời phỏng vấn Báo GD&TĐ ngày 31/03/2013, GS.TS Đinh Quang Báo - Nguyên hiệu trưởng trường ĐH Sư Phạm Hà Nội đã nói: “Tôi khẳng định với chất lượng đầu vào như hiện nay của ngành sư phạm thì mọi đổi mới giáo dục các cấp học đều thất bại”(3 ). Chính vì lẽ đó, muốn nâng cao chất lượng người thày thì trước hết phải đổi mới công tác tuyển sinh để lựa chọn những thí sinh có năng lực, phẩm chất tốt vào nghề.

Để làm được việc này, ngoài những chính sách và biện pháp đã được thực hiện từ nhiều năm nay như: tuyển thẳng những HS phổ thông có học lực khá giỏi, miễn giảm học phí…thì biện pháp có ý nghĩa quyết định nhất là nhà nước và các trường sư phạm phải có chính sách đảm bảo đầu ra cho sinh viên sau khi tốt nghiệp có việc làm (được làm đúng nghề dạy hoc ở trường phổ thông). Nếu tình trạng thất nghiệp của SV sư phạm vẫn kéo dài thì cho dù các trường sư phạm có cố gắng bao nhiêu cũng không thu hút được sinh viên giỏi vào trường sư phạm.

Bên cạnh đó, trong công tác tuyển sinh cần thực hiện khâu sơ tuyển đầu vào để lựa chọn những thí sinh có năng khiếu và loại bỏ những thí sinh không đủ tâm, tài và lòng đam mê nghề nghiệp cũng như những thí sinh mắc dị tật: nói ngọng, nói lắp hoặc bị tàn tật….

2.2.2. Trong công tác bồi dưỡng, đào tạo lại GV phổ thông

Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục Việt Nam đã xác định:

 “ GV chính là lực lượng xung kích trên mặt trận đổi mới, là người đi đầu quyết định tới chất lượng giáo dục”(4). Không giải quyết được khâu GV, mọi chương trình giáo dục đều thất bại. Chính vì thế, công tác bồi dưỡng, đào tạo lại đội ngũ GV là hết sức quan trọng và cấp bách.

Để tìm hiểu mức độ cấp thiết về các yêu cầu  bồi dưỡng, đào tạo lại GV, chúng tôi  đã tiến hành  thăm dò ý kiến GV  bằng phiếu và kết quả như sau:

Bảng 3:

Yêu cầu

Mức độ cấp thiết %

Cấp thiết

Chưa cấp thiết

1. Đào tạo lại đội ngũ giáo viên về trình độ chuyên môn

71.0

29.0

2. Đào tạo lại đội ngũ giáo viên về nghiệp vụ sư phạm

72,7

27,2

3.Đổi mới cơ chế quản lí chuyên môn để tạo động lực cho GV tự bồi dưỡng, phấn đấu nâng cao năng lực nghề nghiệp.

86,3

13,6

4.Tăng cường HĐ bồi dưỡng chuyên môn trong tổ bộ môn ở nhà trường, phát huy tinh thần tự học, tự nghiên cứu.

92,4

7,5

5. Sàng lọc GV thường xuyên qua đánh giá, xếp loại từ đó tổ chức bồi dưỡng GV theo trình độ, năng lực, nhu cầu.

66,6

31,8

6. Bồi dưỡng GV đạt chuẩn và trên chuẩn

100

0

   *Nguồn: Kết quả khảo sát thực trạng của đề tài cấp Trường tháng 7 năm 2016. MS: SPHN 16-01-VNCSP

Như vậy, qua thăm dò ý kiến, GV đều cho rằng cả 6 yêu cầu đều  rất cấp thiết. Trong đó đáng lưu ý nhất là “Tăng cường hoạt động bồi dưỡng chuyên môn trong tổ bộ môn ở nhà trường, phát huy tinh thần tự học, tự nghiên cứu” và “Bồi dưỡng GV đạt chuẩn và trên chuẩn”.     

Để làm tốt công tác bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ GV, chúng tôi có mấy đề xuất sau:

a)      Về phía Cục Nhà giáo và các Trường sư phạm  cần chủ động tiến hành:

- Khảo sát, đánh giá lại năng lực của người GV một cách chính xác, khách quan.

- Đối chiếu với yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới để thấy  rõ cái đang cần và đang thiếu của GV, từ đó  xác định  nội dung cần bồi dưỡng cho GV và xây dựng các chương trình bồi dưỡng cho sát hợp với  nhu cầu thực tiễn.

- Biên soạn các tài liệu bồi dưỡng GV theo từng nội dung hoặc chủ đề để GV tự học, tự bồi dưỡng tại cơ sở (các chuyên đề đó phải là những chuyên đề mới, sát hợp với yêu cầu đổi mới như: Dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS; dạy học tích hợp và lồng ghép; dạy học phân hóa; Tổ chức hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo; các phương pháp, hình thức dạy học và cách thức  kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực HS . Những tài liệu này cần được viết dưới dạng như những sách cẩm nang với những hướng dẫn cụ thể để GV dễ vận dụng, tránh hàn lâm, lý thuyết.

- Thiết kế một số giáo án mẫu, các tiết dạy minh họa (qua băng hình) thể hiện cách thức dạy học theo hướng đổi mới nói trên để GV học tập, vận dụng.

Trong công tác bồi dưỡng, đào tạo lại, giảng viên các trường đại học sư phạm trọng điểm phải là lực lượng chủ yếu trong các đợt tập huấn, bồi dưỡng để đảm bảo chất lượng của đội quân “chuyên nghiệp” đi dạy nghề, tránh để các trường sư phạm “đứng ngoài cuộc nhìn vào” hoặc chỉ đóng vai trò “được mời tham gia” như thời gian dài trước đây.

b) Về phía Sở GD&ĐT và các trường phổ thông:

- Bố trí, sắp xếp cho GV thay nhau đi bồi dưỡng tại các Trung tâm giáo dục thường xuyên của tỉnh hoặc tại các trường sư phạm theo nhu cầu bồi dưỡng của từng GV.

-Liên kết với các trường sư phạm hoặc mời các chuyên gia, các giảng viên có trình độ cao để trực tiếp bồi dưỡng, tập huấn cho GV.

-Tổ chức các khóa bồi dưỡng ngắn hạn, dài hạn tùy theo chương trình và nội dung bồi dưỡng cụ thể tại địa phương.

-Đẩy mạnh sinh hoạt chuyên môn (qua dự giờ, thao giảng….) theo cụm trường, liên trường  để tạo diễn đàn cho GV chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm và tự bồi dưỡng lẫn nhau.

Cần lưu ý rằng, việc tổ chức bồi dưỡng, tập huấn GV là hết sức cần thiết nhưng đó mới chỉ là "lớp sơn" phủ bên ngoài và không thể thay thế được "chất gỗ" bên trong. Điều cốt yếu cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ GV là từ Sở đến các nhà trường phải có cơ chế quản lý GD  thích hợp  tác động đến khối óc và con tim GV để họ thay đổi từ bên trong, tạo cho GV động cơ tích cực để tự học, tự đào tạo, tự nghiên cứu mà vươn lên, vượt lên chính mình.

3. Kết luận

 GS J.Hattie, nhà nghiên cứu giáo dục người New Zealand, dựa trên dữ liệu hơn 50 triệu HS mọi lứa tuổi, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để khảo sát ảnh hưởng tương đối của các yếu tố tác động đến chất lượng giáo dục, như: trình độ, khả năng tiếp thụ, tinh thần ham học của người học, năng lực, phương pháp giảng dạy của thầy, chất lượng và sự phong phú các phương tiện hỗ trợ học tập, đặc biệt là về công nghệ thông tin…Tác giả đã đi đến kết luận là ngay cả trong nhà trường hiện đại, với sự hỗ trợ mạnh mẽ của công nghệ thông tin thì vai trò quyết định nhất đối với chất lượng giáo dục vẫn thuộc về năng lực của người thầy.

Kiến thức và năng lực của người thầy, phẩm chất và nhiệt huyết của người thầy sẽ luôn là yếu tố quyết định. Sự tương tác giữa thầy và trò là những giá trị không thể đo lường được trong giáo dục. Bất kể thế nào, không có thầy giỏi cả về năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức thì khó có thể có một nền giáo dục thật sự có chất lượng. 

Chính bởi vậy, nâng cao phẩm chất và năng lực cho đội ngũ GV phổ thông là một trong những giải pháp thiết yếu, cơ bản để công cuộc đổi mới giáo dục thành công.

 

                                                     TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Báo giáo dục &Thời đại ngày 1.4.2000.

2.Bộ GD&ĐT (2015): Những vấn đề chung về phát triển chương trình đào tạo giáo viên (Tài liệu tập huấn  cán bộ, giảng viên các cơ sở đào tạo giáo viên phổ thông về phát triển chương trình đào tạo)

3.Sông La-Nghề giáo-Vì sao hết “hót”?. Báo GD&TĐ ngày 31/03/2013

4.Nghị quyết về đổi mới chương trình-sách giáo khoa giáo dục phổ thông (NQ số: 88/2014/QH13, ngày 28/11/2014)

5. Nhiều  giáo viên phải đào tạo lại để đổi mới GD- Báo Đời sống và Pháp Luật 16.11.2013.

6. Mơ màng tập huấn dạy học tích hợp- Báo người lao động 26/11/2015

SITUATION  COMPETENCE  OF SECONDARY  TEACHERS BEFORE  REQUIREMENTS OF GENERAL EDUCATION  INNOVATION

Abtract: Teachers is the decisive factor in the quality of education and the key element of any education reform. No matter what age, no good teachers both professional competencies and virtue, it's hard to have a quality education. However, looking at the current situation, the competency of secondary teachers is worrisome issue prior request educational innovation. The result of survey showed that the competence of teachers is weak and insufficient and do not meet the requirements of innovation. In this article, we focus on understanding two key issues: 1) Status of the competence of teachers today before requirements of general education innovation; 2) Solutions to enhance the professional competence for teachers to meet with new general education program.

Keywords: Situation, competence, secondary teachers, general education innovation

 

 

 

Publish: 3/20/2017 - Views: 1136 - Lastest update: 3/20/2017 9:19:09 AM
Tin cùng chuyên mục