Email: email@ioer.edu.vn | vncsp@hnue.edu.vn
Bàn tròn giáo dục

CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ GIÁO VIÊN MỚI VÀO NGHỀ CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA CHÂU ÂU VÀ BÀI HỌC CHO GIÁO DỤC VIỆT NAM

TS. Phạm Thị Kim Anh[1]

ThS. Bùi Thị Hạnh[2]

Tóm tắt

GV mới vào nghề thường gặp rất nhiều khó khăn trong dạy học, giáo dục và quản lí HS. Họ có nhu cầu cần được hỗ trợ để làm quen với nghề nghiệp và vượt qua được “cú sốc thực tế” trong các trường học cũng như lớp học, giúp họ không bỏ nghề trong giai đoạn đầu. Bài viết tập trung phân tích các khó khăn và nhu cầu hỗ trợ của GV mới vào nghề; Chính sách hỗ trợ GV mới vào nghề của một số nước Châu Âu. Trên cơ sở đó, rút ra một số bài học kinh nghiệm trong việc hỗ trợ nghề nghiệp cho GV mới vào nghề của Việt Nam.

Từ khóa: Giáo viên mới vào nghề, nhu cầu hỗ trợ của giáo viên mới, chính sách hỗ trợ giáo viên mới.

The policies for supporting new and beginning teachers in some European countries and lessons learned for Vietnamese education

Abstract

New and beginning teachers often face up with many difficulties in teaching, educating and managing pupils. They have the needs of support to familiarize themselves with the teaching profession and overcome the “reality shock” in schools and classes, relying on that to help them not to drop out their jobs in the first phase. The paper focuses on the difficulties and support needs of new teachers, the policy of supporting new teachers in some European countries. Based on that, the paper pulls out some lessons learned in providing career support for new teachers of Viet Nam.

Key words: new and beginning teachers, the support needs of new teachers, policy for supporting new teachers.  

1. Đặt vấn đề

Giáo viên (GV) được xác định như là một yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng quyết định đến chất lượng giáo dục (GD) tại các nhà trường. Do đó, đối với các nhà hoạch định chính sách liên quan đến phát triển hệ thống GD, điều quan trọng là phải xây dựng các chính sách hỗ trợ phát triển nghề nghiệp (PTNN) cho GV. PTNN GV là một quá trình liên tục suốt đời bắt đầu từ khi đào tạo GV từ các trường sư phạm và kết thúc lúc GV nghỉ hưu, có thể chia thành từng giai đoạn cụ thể sau:

+ Giai đoạn đầu tiên là giai đoạn đào tạo tại trường sư phạm chuẩn bị để trở thành GV, nơi mà những người muốn trở thành một người thầy cần phải nắm vững và làm chủ được các kiến thức và kỹ năng sư phạm cơ bản.

+ Giai đoạn thứ hai là các bước độc lập đầu tiên với tư cách người GV, bắt đầu với việc thực hành giảng dạy trong trường học. Giai đoạn này thường được gọi là giai đoạn bước đầu làm quen với nghề nghiệp.

+ Giai đoạn thứ ba là giai đoạn phát triển liên tục về chuyên môn nghề nghiệp của GV sau khi đã vượt qua được những thách thức ban đầu để trở thành một GV chính thức.

Tất cả GV đều sẽ trải qua những giai đoạn đó. Tuy nhiên, chất lượng PTNN của họ sẽ phụ thuộc rất lớn vào sự hỗ trợ mà họ nhận được trong từng giai đoạn. Trong những năm gần đây, các quốc gia đã chú ý đến cải tiến chất lượng của các chương trình đào tạo, bồi dưỡng GV và các điều kiện để PTNN liên tục cho GV, song lại ít chú ý đến việc thiết kế các chương trình hỗ trợ GV trong quá trình chuyển đổi từ đào tạo GV trong các trường sư phạm sang đời sống thực tế làm việc của một GV thực thụ tại trường học. Nhiều quốc gia hiện vẫn còn thiếu các chương trình mang tính hệ thống nhằm hỗ trợ cho GV mới vào nghề giúp họ bước đầu làm quen với nghề nghiệp. Điều này dẫn tới một số lượng lớn GV trẻ đã bỏ nghề trong giai đoạn này, vì họ thiếu kỹ năng giảng dạy. [3, tr.14]

Dựa vào phương pháp phân tích tài liệu từ các nghiên cứu ở Châu Âu, bài viết sẽ đi vào phân tích các khó khăn và nhu cầu hỗ trợ của GV mới vào nghề, chính sách ở một số nước Châu Âu trong việc thực hiện các chương trình hỗ trợ GV mới bước đầu làm quen với nghề nghiệp, ý nghĩa của các chương trình hỗ trợ này đối với sự phát triển nghề nghiệp của GV mới vào nghề; từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

2. Nội dung

2.1. Hỗ trợ giáo viên mới vào nghề và nhu cầu hỗ trợ của GV

a). Giáo viên mới: Về mặt thuật ngữ tiếng Anh, việc sử dụng thuật ngữ để diễn đạt về GV mới trong các nghiên cứu còn rất đa dạng: new teachers, novice teacher, junior teacher, beginning teacher, early career teacher, starting teacher, newly qualified teachers. [2; 3; 8; 9]

Về nội hàm khái niệm, theo Dự án sự thay đổi tổng quát của Liên minh Châu Âu về nghề dạy học [9], GV mới - được định nghĩa là một người có thời gian làm việc ở các trường phổ thông bắt buộc (giáo dục phổ cập) từ 5 năm trở xuống. Đôi khi, họ còn được gọi là GV mới vào nghề (a novice teacher). [9, tr.1]

b). Hỗ trợ GV mới vào nghề: được định nghĩa là sự hỗ trợ dành cho các GV bước đầu làm quen với nghề nghiệp sau khi kết thúc chương trình đào tạo chính thức tại các trường sư phạm ở thời điểm khi họ bắt đầu hợp đồng làm việc đầu tiên với vai trò của một GV trong trường học. Giai đoạn bước đầu làm quen với nghề nghiệp kéo dài từ 10 tháng đến 2 năm. [3, tr.13]

Theo Ủy ban Công đoàn Giáo dục Châu Âu (European Trade Union Committee for Education – ETUCE), giai đoạn bước đầu làm quen với nghề nghiệp trong ít nhất 1 năm vừa là quyền lợi vừa là nghĩa vụ đối với các GV mới đã được đào tạo ở các trường sư phạm và đòi hỏi phải có sự hướng dẫn, hỗ trợ một cách hệ thống. Đối với những GV mới, giai đoạn bước đầu làm quen với nghề nghiệp (giai đoạn khởi động) phải bao gồm:

- Hỗ trợ từ các cố vấn và các đồng nghiệp khác;

- Thời khóa biểu giảng dạy được cắt giảm mà không giảm mức thù lao;

- Tiếp cận với các nguồn hỗ trợ thích hợp;

- Tham dự vào một chương trình hướng dẫn bắt buộc;

- Các cơ hội liên hệ giữa lý thuyết với thực hành một cách hệ thống. [3, tr.9]

Đây được xem như là những cách thức hỗ trợ cho những GV mới bước chân vào nghề dạy học nhằm giúp họ chuyển từ giáo sinh trở thành GV có kinh nghiệm.

Chương trình hỗ trợ GV bước đầu làm quen với nghề nghiệp (Induction programs) là những chương trình bao gồm việc tư vấn, hỗ trợ việc lập kết hoạch, phát triển nghề nghiệp và đánh giá [1]. Theo Jeanne Kaufmann, 2007, các từ đồng nghĩa của bước đầu làm quen với nghề nghiệp bao gồm: hỗ trợ, định hướng, đào tạo, thực tập, các chương trình hỗ trợ hoặc đánh giá, các chương trình duy trì, chương trình cho GV mới bắt đầu, chương trình chuyển tiếp cho GV hiện tại, chương trình nhóm hỗ trợ, tiến hành từng bước, phát triển chuyên môn và hội thảo khoa học [4].

Một số quy định về các hình thức, biện pháp hỗ trợ dành cho GV mới vào nghề ở bậc tiểu học và trung học phổ thông dưới đây là những ví dụ về các loại hoạt động hỗ trợ mà một trường học dự kiến sẽ đưa ra [3]:

     (i).          Họp định kỳ để thảo luận về những tiến bộ hoặc những vấn đề vướng mắc.

   (ii).          Hỗ trợ xây dựng kế hoạch giảng dạy

 (iii).          Hỗ trợ đánh giá bài giảng

  (iv).          Dự giờ các hoạt động trong lớp học và/hoặc quan sát lớp học.

    (v).          Tổ chức đào tạo không bắt buộc

  (vi).          Đào tạo bắt buộc đặc biệt

(vii).          Tham quan các trường khác/ các trung tâm đào tạo nguồn nhân lực khác

Những hình thức hỗ trợ này sẽ phụ thuộc vào nhu cầu phát triển cụ thể của mỗi cá nhân GV.  

c). Những khó khăn và nhu cầu hỗ trợ của GV mới vào nghề: Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, những GV mới vào nghề ở các trường học thường gặp nhiều khó khăn liên quan đến (i) khả năng thích ứng với môi trường thực tiễn ở các trường học (sự không đầy đủ của trang thiết bị dạy học, việc quản lý và tổ chức công việc trong trường học, quản lý hành chính trong nhà trường,…); (ii) thiếu hiểu biết về học sinh (HS) và khả năng xử lý các tình huống bất thường của HS; (iii) vấn đề liên quan đến kỹ năng sư phạm (như cách thức thúc đẩy động lực học tập của HS, khả năng giao tiếp và sử dụng ngôn ngữ không đủ đáp ứng yêu cầu của bài giảng, thiếu phương pháp luận, thiếu tự tin trong giải quyết các vấn đề sư phạm, kỹ năng quản lý kỷ luật HS, cách thức đánh giá các kết quả đầu ra và hoạt động của HS,…); (iv) mối quan hệ với phụ huynh học sinh; và (v) trong mối quan hệ với các GV khác trong trường  [9].

Tỷ lệ hao hụt của GV mới vào nghề là một trong những thước đo về những ảnh hưởng của những khó khăn này. Ở Úc, tỷ lệ hao hụt trong 5 năm đầu tiên bắt đầu vào nghề đối với GV mới vào nghề ở mức khá cao là hơn 20% [7]. Nghiên cứu của Bộ Giáo dục, Khoa học và Đào tạo của Úc (DEST- Department of Education, Science and Training) cho thấy con số này lên tới 25% số GV mới bắt đầu vào nghề rời khỏi ngành nghề trong 5 năm đầu tiên của nghề giáo. Các bằng chứng khác cho thấy rằng tỷ lệ này có thể tương tự như GV tiểu học tại Úc. Nghiên cứu của Hiệp hội các Hiệu trưởng trường Tiểu học Úc (APPA- Australian Primary Principals’ Association) với 1351 GV mới bắt đầu vào nghề kết luận rằng 24% GV dự kiến sẽ rời khỏi ngành trong vòng 5 năm đầu tiên. Tại Mỹ, một nghiên cứu với 10,080 GV đã đưa ra một con số tương tự là 22% [6]. Hai lý do được đưa ra nhiều nhất để lý giải cho việc rời bỏ nghề giáo của GV mới được đánh giá là: (i) thiếu hỗ trợ trong công việc; và (ii) các điều kiện tại nơi làm việc (điển hình là vấn đề về kỷ luật, hỗ trợ hành chính nghèo nàn và nền văn hoá trường học kém) [6].

Như vậy, thiếu sự hỗ trợ trong công việc là một trong những lý do cơ bản dẫn đến việc bỏ nghề của GV. Vì thế, GV mới vào nghề có nhu cầu cần được hỗ trợ trong giai đoạn bước đầu làm quen với nghề nghiệp.

Nghiên cứu của Ủy ban Châu Âu đã chỉ ra rằng GV mới bắt đầu vào nghề có nhu cầu nhận được 3 loại hỗ trợ sau: (i) Hỗ trợ mang tính cá nhân, (ii) Hỗ trợ mang tính xã hội, (iii) Hỗ trợ về chuyên môn nghiệp vụ (Chi tiết xem Bảng 1) [3].

Bảng 1: Hỗ trợ được yêu cầu dành cho giáo viên mới bắt đầu

 

Hỗ trợ cá nhân

Hỗ trợ xã hội

Hỗ trợ chuyên môn nghiệp vụ

Mục đích

- Xây dựng và phát triển đặc trưng như người GV.

- Củng cố năng lực

- Tăng sự tự tin

- Giảm căng thẳng và lo lắng

- Hòa nhập xã hội trong trường học và nghề nghiệp;

- Thúc đẩy hợp tác;

- Thúc đẩy học tập mang tính chất cộng tác;

- Thúc đẩy sự tham gia vào và từ cộng đồng trường học

- Phát triển thêm về năng lực dạy học;

- Kết nối giữa đào tạo GV lúc ban đầu và phát triển nghề nghiệp lâu dài;

- Xây dựng và bồi dưỡng tính chuyên nghiệp của GV mới bắt đầu vào nghề

Yêu cầu chủ yếu

- Môi trường an toàn, không phán xét;

- Giảm khối lượng công việc;

- Giảng dạy theo nhóm;

- Cùng giảng dạy.

- Công việc có tính chất cộng tác;

- Cùng giảng dạy

- Giảng dạy theo nhóm

- Làm việc theo nhóm

- Các nhóm dự án

- Tiếp cận kiến thức thông qua trao đổi giữa GV mới và GV nhiều kinh nghiệm

- Thêm các khóa hoặc lớp đào tạo bồi dưỡng

Hệ thống hỗ trợ có liên quan

- Cố vấn

- Người cùng cảnh ngộ (đồng đẳng)

- Tự suy ngẫm/tự phê bình

- Cố vấn

- Người cùng cảnh ngộ (các GV mới khác)

 

- Cố vấn

- Người cùng cảnh ngộ (các GV mới khác)

- Chuyên gia

- Tự suy ngẫm/tự phê bình

Các tác nhân khác

- Lãnh đạo trường học

- Lãnh đạo trường học

- Cha mẹ, cộng đồng

- Lãnh đạo trường học

Nguồn: Ủy ban Châu Âu 2010 [3, tr.19]

 

2.2. Ý nghĩa của việc hỗ trợ giáo viên mới vào nghề

Theo Ủy ban Công đoàn về Giáo dục Châu Âu (European Trade Union Committee for Education - ETUCE) “việc cung cấp các hỗ trợ và các hướng dẫn có hệ thống cho GV ở giai đoạn này có ý nghĩa quan trọng đối với cam kết nghề nghiệp trong giai đoạn tiếp theo của họ và cũng có ý nghĩa trong việc ngăn chặn GV mới rời bỏ nghề dạy học chỉ sau vài năm.” Nhận định này chỉ ra rằng các chương trình can thiệp hỗ trợ nghề nghiệp có thể góp phần làm tăng cả chất lượng và số lượng GV. Đặc biệt ở những nước thiếu GV, việc giảm tỷ lệ bỏ nghề của GV khi mới bắt đầu vào nghề là rất cần thiết và các chương trình hỗ trợ nghề nghiệp có hiệu quả sẽ rất quan trọng trong việc giúp những GV này vượt qua được cú sốc thực tế và có thể ở lại gắn bó với nghề giảng dạy. [3, tr.13]

Các chương trình hỗ trợ GV mới vào nghề còn giúp họ sớm thích ứng với thực tế của việc giảng dạy ở trường học, đồng thời giúp nâng cao năng lực chuyên môn của GV. Mặt khác, nó còn tạo ra các mô hình tương tác giữa GV có nhiều thâm niên kinh nghiệm (chuyên gia) và GV chưa có kinh nghiệm (mới vào nghề) ở các trường thuộc hệ thống giáo dục phổ cập, bắt buộc. Điều này sẽ khuyến khích các GV phát triển về chuyên môn và tạo cơ hội cho họ phát triển các kỹ năng nghề nghiệp cũng như chia sẻ năng lực và kiến thức với nhau.

Tóm lại, các chương trình hỗ trợ GV mới vào nghề góp phần tạo nên một nền văn hóa của sự thực hành và PTNN, giúp GV chuyển đổi các lý thuyết dạy học sang thực hành giảng dạy một cách hiệu quả, ngăn ngừa việc bỏ giữa chừng và nâng cao năng lực chuyên môn của GV. [2]

2.3. Chính sách hỗ trợ giáo viên mới vào nghề của một số nước Châu Âu

Kết luận chung của Bộ trưởng Bộ Giáo dục Châu Âu đã nêu: chính sách hỗ trợ GV mới vào nghề nhằm tạo sự lựa chọn nghề nghiệp hấp dẫn hơn cho GV, nâng cao chất lượng đào tạo GV và quan tâm đến đào tạo GV ngay từ ban đầu tại các trường sư phạm. Việc hỗ trợ GV ở giai đoạn bước đầu làm quen với nghề nghiệp sẽ sớm PTNN của GV các giai đoạn tiếp theo. Theo đó, các chiến lược quốc gia nên tập trung vào việc xây dựng các chính sách có sự phối kết hợp thống nhất, có nguồn lực đầy đủ và đảm bảo chất lượng. Điều này đòi hỏi sự phối hợp tốt hơn giữa các cơ quan khác nhau trong đào tạo GV - từ đào tạo lúc ban đầu tại các trường sư phạm và sự trợ giúp về nghề nghiệp lúc ban đầu tại các trường học để đảm bảo sự PTNN được thực hiện liên tục. [3]

Mặc dù Ủy ban Châu Âu đã đưa việc đào tạo GV và chính sách hỗ trợ cho GV mới một cách rõ ràng vào chương trình nghị sự của châu Âu, nhưng theo Thông báo của Uỷ ban này về “Nâng cao chất lượng đào tạo GV”, các biện pháp hỗ trợ cho GV mới vẫn chưa có tính hệ thống ở một số quốc gia Châu Âu và mới chỉ xuất hiện một số nơi.

Trong năm học 2008-2009, theo thống kê của Cơ quan Giáo dục và Văn hóa thuộc Ủy ban Châu Âu, phần lớn các nước Châu Âu (21/31 quốc gia, 67,7%), không có hệ thống hỗ trợ bước đầu làm quen với nghề nghiệp trên phạm vi toàn quốc. Ở các quốc gia có hệ thống hỗ trợ làm quen với nghề nghiệp dành cho GV mới cũng có sự khác nhau về đối tượng tác động, cụ thể: Có 3/31 quốc gia châu Âu (9,7%) có hệ thống hỗ trợ làm quen với nghề nghiệp hướng đến GV đã có đủ trình độ chuyên môn và có chứng chỉ để giảng dạy; 5/31 quốc gia (16,1%) có hệ thống hỗ trợ làm quen với nghề nghiệp hướng đến GV đã có đủ trình độ chuyên môn nhưng chưa có chứng chỉ để giảng dạy; và 2/31 quốc gia (6,5%) có hệ thống hỗ trợ làm quen với nghề nghiệp hướng đến GV chưa đủ trình độ chuyên môn và cũng chưa có chứng chỉ để giảng dạy [3]. (Chi tiết xem Bảng 2).

Bảng 2: Hỗ trợ bước đầu làm quen với nghề nghiệp dành cho giáo viên mới ở bậc mầm non, tiểu học và giáo dục phổ thông (giáo dục tiểu học và trung học - ISCED 1, 2, 3), 2008/2009

TT

Quốc gia

Không có hệ thống làm quen với nghề nghiệp rộng khắp cả nước

Hệ thống hỗ trợ hướng đến GV đã có đủ trình độ chuyên môn và có chứng chỉ để giảng dạy

Hệ thống hỗ trợ hướng đến GV đã có đủ trình độ chuyên môn nhưng chưa có chứng chỉ để giảng dạy

Hệ thống hỗ trợ hướng đến GV chưa đủ trình độ chuyên môn và chưa có chứng chỉ để giảng dạy

 

1

Bỉ (BE)

x

 

 

 

 

2

Bulgaria (BG)

x

 

 

 

 

3

Cộng hòa Séc (CZ)

x

 

 

 

 

4

Đan Mạch (DK)

x

 

 

 

 

5

Đức (DE)

 

 

x

 

 

6

Estonia (EE)

 

x

 

 

 

7

Albania (AL)

x

 

 

 

 

8

Tây Ban Nha (ES)

x

 

 

 

 

9

Pháp (FR)

 

 

 

x

 

10

Ireland (IE)

(x)

 

 

 

 

11

Italy (IT)

x

 

 

 

 

12

Síp (Suprus -CY)

 

x

 

 

 

13

Latvia (LV)

x

 

 

 

 

14

Lithuania (LT)

x

 

 

 

 

15

Luxembourg (LU)

 

 

 

x

 

16

Hungary (HU)

x

 

 

 

 

17

Malta (MT)

x

 

 

 

 

18

Hà Lan (NL)

(x)

 

 

 

 

19

Áo (AT)

 

 

x

 

 

20

Ba Lan (PL)

x

 

 

 

 

21

Bồ Đào Nha (PT)

 

 

x

 

 

22

Romania (RO)

x

 

 

 

 

23

Slovenia (SI)

 

x

 

 

 

24

Slovakia (SK)

x

 

 

 

 

25

Phần Lan (FI)

x

 

 

 

 

26

Thụy Điển (SE)

x

 

 

 

 

27

Vương quốc Anh (UK)

 

 

x

 

 

28

Iceland (IS)

x

 

 

 

 

29

Liechtenstein (LI)

x

 

 

 

 

30

Na Uy (NO)

(x)

 

 

 

 

31

Thổ Nhĩ Kỳ (TR)

 

 

x

 

 

 

Ghi chú: (x) Dự án thí điểm; Nguồn: [3, tr.11]

Như vậy, chỉ có một vài quốc gia Châu Âu đưa ra chương trình hỗ trợ GV mới bước đầu làm quen với nghề nghiệp có hệ thống rộng khắp trên cả nước. Hầu hết các nước chỉ đưa ra chương trình hỗ trợ theo yêu cầu riêng cho GV mới vào nghề để có thể giúp họ khắc phục những khó khăn khi mới vào nghề và giảm khả năng họ bỏ nghề sớm.

Ở những quốc gia đã có hệ thống hỗ trợ cho GV mới, các biện pháp hỗ trợ ở bậc tiểu học và trung học (cấp THCS và THPT) có thể bao gồm: hỗ trợ lập kế hoạch bài giảng và đánh giá bài giảng, tổ chức các cuộc họp với người giám sát để thảo luận các vấn đề, các quan sát dự giờ lớp học hoặc các khóa đào tạo, tập huấn được thiết kế đặc biệt cho GV mới vào nghề (Xem Bảng 3). Người cố vấn thường được chỉ định để chịu trách nhiệm giúp đỡ các GV mới. Người cố vấn nói chung thường là những GV có kinh nghiệm và đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ giảng dạy trong thời gian công tác. [3]

Nhìn chung ở phần lớn các nước châu Âu, GV mới chưa được tiếp cận với các biện pháp hỗ trợ thống nhất và toàn diện; ở những nơi đã thực hiện được các biện pháp hỗ trợ thì chúng lại tương đối không có hệ thống và không được ghi nhận một cách đẩy đủ trong hệ thống giáo dục. [3]

2.4. Một số bài học kinh nghiệm và kiến nghị cho việc hỗ trợ GV mới vào nghề của Việt Nam

2.4.1. Một số bài học kinh nghiệm

(1). Đặt trong bối cảnh GV phải phát triển nghề liên tục và phải học suốt đời, việc hỗ trợ nghề nghiệp cho GV mới vào nghề đã trở thành một chính sách quan trọng và mối quan tâm của nhiều nước trên thế giới, nhất là Liên minh Châu Âu. Điều này đã được chính phủ các nước cùng cơ quan quản lý GD thể chế hóa thành các quy định, chính sách rõ ràng.

Đối với Việt Nam, khi rà soát lại hệ thống các văn bản chỉ đạo, các chương trình bồi dưỡng GV của Bộ Giáo dục & Đào tạo cũng như của các trường ĐHSP, chúng ta chưa thấy có bất cứ hướng dẫn hay chương trình nào về hỗ trợ GV mới bước vào nghề. Đây là một vấn đề cần được quan tâm và phải được đưa vào chính sách trong bồi dưỡng, phát triển đội ngũ GV. 

(2). Việc hỗ trợ nghề nghiệp cho GV mới vào nghề được thực hiện qua nhiều chương trình cũng như hình thức rất phong phú, đa dạng. Mỗi nước có những chương trình, hình thức hỗ trợ GV mới vào nghề khác nhau, nhưng đều có chung một mục tiêu là để bù đắp những thiếu hụt về kiến thức, kỹ năng giảng dạy, giáo dục và hạn chế tình trạng bỏ nghề của GV trong những năm đầu.

(3). Với những GV mới vào nghề, sự hỗ trợ, tư vấn cá nhân là rất quan trọng, nhằm giúp cho họ có các giải pháp “thực tế” để đối phó với những vấn đề của thực tiễn. Do đó, nhiều nước đã thực hiện giảm số giờ dạy trên lớp cho GV trẻ và bổ nhiệm những GV có kinh nghiệm/ các chuyên gia làm cố vấn, tư vấn, theo dõi và trợ giúp trong thời gian ban đầu. Họ có sự phân công rất rõ ràng người tư vấn để GV mới vào nghề biết được ai là người hướng dẫn mình, họ có quyền được hỗ trợ một cách công khai và có trách nhiệm. Ở Việt Nam, vấn đề này chưa được đặt ra và chưa trở thành nhiệm vụ chính thức bắt buộc. Đây là bài học cho Việt Nam khi chúng ta thực hiện việc hỗ trợ nghề cho GV mới vào nghề.

(4). Để thực hiện tốt việc hỗ trợ nghề nghiệp cho GV mới vào nghề cần có 3 hệ thống hỗ trợ thiết yếu: Tư vấn (của GV có kinh nghiệm và chuyên gia), hỗ trợ đồng đẳng và tự trau dồi bản thân. Trong đó, tư vấn của GV có kinh nghiệm và chuyên gia được đặc biệt coi trọng. Thiếu đi sự kết hợp của 3 yếu tố này thì việc hỗ trợ GV trẻ không thể đem lại hiệu quả thiết thực.

2.4.2. Kiến nghị

- Các trường phổ thông cần xác định nhu cầu hỗ trợ của GV mới vào nghề, trên cơ sở đó xác định các hình thức hỗ trợ phù hợp. Cần có thêm các nghiên cứu sâu về chủ đề này để làm căn cứ khoa học cho việc xây dựng, thiết kế các chương trình hỗ trợ cho GV mới bước đầu làm quen với nghề nghiệp.

- Hình thức tư vấn cá nhân cho GV mới vào nghề là cần thiết, song cần xây dựng một số quy tắc chung hoặc xây dựng một hệ thống hỗ trợ có tổ chức cho tất cả các trường phổ thông, nhằm tương tác và trao đổi kiến ​​thức giữa các GV mới vào nghề và GV nhiều kinh nghiệm (chuyên gia). Để hình thức cố vấn phát huy được hiệu quả, các trường cần bổ nhiệm người cố vấn là những GV có nhiều kinh nghiệm giảng dạy, có chuyên môn tốt để hướng dẫn và hỗ trợ GV mới. Đồng thời, các trường sư phạm cũng cần phối hợp với các trường phổ thông xây dựng các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho người cố vấn để họ được trang bị các kiến thức và kỹ năng cần thiết trong việc thực hiện tốt các nhiệm vụ hỗ trợ GV mới.

- Cần xây dựng chính sách thống nhất trên phạm vi cả nước nhằm tạo điều kiện về mặt thời gian cho cả GV mới và người cố vấn trong thời gian hỗ trợ GV mới, cụ thể là cắt giảm thời gian thực hành giảng dạy cho GV mới và người cố vấn nhưng không bị cắt giảm lương trong thời gian ít nhất là 1 năm đầu tiên giáo viên mới vào nghề.

- Huy động sự tham gia hỗ trợ GV mới từ các trường sư phạm thông qua xây dựng và tổ chức các khoá học bồi dưỡng về nghiệp vụ sư phạm dưới hình thức học ngoài giờ (tại chức hoặc từ xa), hình thức hội thảo tọa đàm khoa học, tập huấn, tư vấn trực tiếp, dự giờ, sinh hoạt chuyên môn. Đồng thời, các trường sư phạm cũng cần phát huy vai trò nòng cốt trong việc nghiên cứu, biên soạn các bộ tài liệu hướng dẫn dưới dạng cẩm nang hoặc sổ tay dành cho GV mới và người cố vấn.

- Đa dạng hóa các hình thức bồi dưỡng phát triển năng lực nghề nghiệp cho GV mới vào nghề.  Trong đó, đẩy mạnh việc hỗ trợ trực tuyến thông qua sử dụng Internet. Đây có thể là một giải pháp hiệu quả trong bối cảnh sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Bởi GV trẻ có trình độ và kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin, sử dụng internet và các mạng xã hội (Facebook, Twitter, Zalo, Instagram, Youtobe, LinkedIn, Pinterest …) rất thành thạo. Các trường học và các trường sư phạm có thể xây dựng và sử dụng website của trường để tạo diễn đàn cho GV trong trường chia sẻ những kinh nghiệm hay trong dạy học – giáo dục hoặc tải các bài viết theo chuyên đề của các tác giả có uy tín, các nhà nghiên cứu về giáo dục…; hoặc xây dựng chung một hộp thư điện tử cho các GV trong toàn trường hoặc theo tổ chuyên môn, hoặc riêng cho GV trẻ với Ban giám hiệu… nhằm khuyến khích, tạo điều kiện để họ trao đổi, chia sẻ trực tiếp những vấn đề mà họ đang gặp khó khăn, những sáng kiến hay, những ý tưởng mới, những sưu tầm họ thu thập được bằng hình ảnh (video) hoặc những bài viết… Bên cạnh đó, các trường cũng cần xây dựng những nhóm GV có kinh nghiệm (GV cốt cán) ở từng lĩnh vực khác nhau để hỗ trợ GV mới vào nghề thông qua mạng thông tin trực tuyến…[5]

3. Kết luận

Giai đoạn GV mới vào nghề được xem là giai đoạn “bản lề” rất quan trọng và có ý nghĩa quyết định việc người GV có gắn bó lâu dài với công việc giảng dạy hay không. Để hạn chế tình trạng GV bỏ nghề ngay từ những năm đầu, các quốc gia ở Châu Âu đã đưa ra chính sách để hỗ trợ nghề nghiệp cho GV. Ở Việt Nam, vấn đề này chưa được quan tâm và chưa có một chương trình chính thức nào từ các cấp quản lý cho đến các trường sư phạm để giúp GV mới vào nghề vượt qua những khó khăn, thách thức lúc ban đầu. Việc tìm hiểu các chính sách và chương trình hỗ trợ GV mới ở một số quốc gia Châu Âu đã gợi mở một số bài học kinh nghiệm cho công tác bồi dưỡng và phát triển nghề nghiệp cho GV trong bối cảnh đổi mới GD hiện nay.

Tài liệu tham khảo

1.    American Association of State Colleges and Universities, 2006, Teacher Induction Programs: Trends and Opportunities. Policy Matters. Volume 3, Number 10. October 2006. http://www.aascu.org/policy_matters/pdf/v3n10.pdf

2.    Australian Institute for Teaching and School Leardership, Induction of beginning teachers in Australia – What du early career teachers say? https://www.aitsl.edu.au/docs/default-source/research-evidence/spotlight/spotlight-induction.pdf?sfvrsn=a44aec3c_4 truy cập ngày 17/8/2017

3.    Directorate – General for Education and Culture of European Commission (2010), Developing coherent and system-wide induction programmes for begging teachers: a handbook for policymakers,  http://ec.europa.eu/dgs/education_culture/repository/education/library/publications/handbook0410_en.pdf truy cập ngày 17/8/2017

4.    Jeanne Kaufmann, 2007, Induction Programs for New and Beginning Teachers, by the Education Commission of the States (ECS), http://www.ecs.org/clearinghouse/76/65/7665.pdf truy cập ngày 12/3/2018

5.    Nguyễn Thị Kim Dung, Đỗ Thị Thuận, Phát triển năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên trẻ theo hình thức học tập tại chỗ thông qua mạng Internet, Viện Nghiên cứu Sư phạm, trường ĐH Sư phạm Hà Nội, Publish: 4/17/2017, http://vncsp.hnue.edu.vn/ban-tron-giao-duc/article/272.aspx truy cập ngày 18/4/2018

6.    Nick Kelly, 2013, An opportunity to support beginning teachers in the transition from higher education into practice, 30th ascilite Conference 2013 Proceedings, p.466-470, http://www.ascilite.org/conferences/sydney13/program/papers/Kelly,%20Nick.pdf truy cập ngày 22/8/2017

7.    Nick Kelly, Shirley Reushle, Sayan Chakrabarty, Anna Kinnane, 2014, Beginning teacher support in Australia: Towards an online community to augment current support, Australian Journal of Teacher Education, Volume 39, Issue 4, Article 4, http://files.eric.ed.gov/fulltext/EJ1017653.pdf truy cập ngày 22/8/2017

8.    Ruth Ahn, 2014, How Japan supports novice teachers, Educational Leadership, p.49-53; Copyright of Educational Leadership is the property of Association for Supervision &

9.    The Generational Change in the Teaching Profession Consortium (2AgePro Consortium), 2009, Methods and practises utilized to support teachers’ professional development: Current state description, http://www.2agepro.psy.lmu.de/download/teachers_prof_devel.pdf truy cập ngày 22/8/2017

 



[1] Viện Nghiên cứu Sư phạm, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội

[2] Viện Dân số và các vấn đề xã hội, Trường ĐH Kinh tế quốc dân

Publish: 11/5/2018 - Views: 13 - Lastest update: 11/5/2018 8:17:59 AM
Tin cùng chuyên mục