Email: email@ioer.edu.vn | vncsp@hnue.edu.vn
Bàn tròn giáo dục

VAI TRÒ CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TRONG VIỆC HỖ TRỢ HOẠT ĐỘNG NGHỀ NGHIỆP CHO GIÁO VIÊN TRẺ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

Teacher education universities in supporting professional development for beginning teachers in high schools

 

                                                           TS. PHẠM THỊ KIM ANH

                                                                   Viện NCSP - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

          

 

          1. Đặt vấn đề

Trải qua một thời gian khá dài cho đến cuối thế kỷ XX, quan niệm tĩnh trong đào tạo giáo viên (GV) ở các trường sư phạm đã chi phối trong các hệ thống đào tạo GV ở Châu Âu và nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Triết lý ẩn tàng trong quan niệm đào tạo này được gọi là “triết lý cái ba lô”, với hàm ý đào tạo ban đầu như cái balô, đủ để cung cấp cho giáo sinh kiến thức và kỹ năng cần thiết giúp họ hoàn thành nhiệm vụ giảng dạy và ứng phó với các tình huống cần thiết trong cuộc đời dạy học của mình. Vì thế nó không bận tâm đến việc hỗ trợ phát triển đội ngũ GV (ĐNGV) sau khi ra trường và cũng không quan tâm đến các giai đoạn đào tạo như: đào tạo tập sự, đào tạo tại chức, đào tạo tiếp tục và bồi dưỡng thường xuyên để phát triển GV. Việc phát triển chuyên môn cho GV hoàn toàn phụ thuộc vào sự nỗ lực của cá nhân và được coi là nhiệm vụ của cấp quản lý ở Bộ/Sở/Phòng Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) cũng như từ phía các trường phổ thông. Thực tế đó đã dẫn đến bất cập là GV vào nghề còn thiếu hụt rất nhiều kỹ năng để giáo dục, dạy học và dường như họ đều phải đương đầu với nhiều khó khăn, thách thức trước thực tiễn phổ thông. Tư tưởng bồi dưỡng, phát triển nghề liên tục cho GV phổ thông (GVPT) chưa trở thành nguyên lý trong đào tạo GV ở các trường đại học sư phạm (ĐHSP). Trước thực tế này, các trường sư phạm đang dần thay đổi trong quan niệm về đào tạo, bồi dưỡng GV. Đó không còn là một hoạt động khép kín, thực hiện một lần trên ghế nhà trường mà là một hoạt động mở, quá trình phát triển liên tục từ đào tạo ban đầu đến đào tạo tập sự, đào tạo tại chức và bồi dưỡng thường xuyên để phát triển nghề cho GV…, trong đó, hoạt động hỗ trợ nghề nghiệp cho GV là một trong những nhiệm vụ cần được quan tâm. Ở đây, chúng tôi tập trung phân tích 4 nội dung chính, đó là: 1/ Sự cần thiết phải hỗ trợ nghề nghiệp cho GV trẻ ở trường phổ thông; 2/ Vai trò, nhiệm vụ của trường ĐHSP trong việc hỗ trợ hoạt động nghề nghiệp cho GV trẻ ở trường phổ thông; 3/ Nội dung hỗ trợ  nghề nghiệp cho GV trẻ; 4/ Một số hình thức hỗ trợ nghề nghiệp cho GV trẻ.

          2. Nội dung

          2.1. Sự cần thiết phải hỗ trợ nghề nghiệp cho GV trẻ ở trường phổ thông

Điều này xuất phát từ những lý do sau đây:

2.1.1. GV trẻ là những người vừa mới bước vào nghề, họ không chỉ trẻ về tuổi đời mà còn trẻ về tuổi nghề. Tuy hăng hái, giàu nhiệt huyết và cảm xúc nghề nghiệp nhưng thiếu kinh nghiệm vì chưa được trải nghiệm qua thực tiễn. Vì thế, họ cần được tiếp tục rèn luyện về nhiều mặt, nhất là năng lực chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp.

2.1.2. Có sự thay đổi lớn khi bước vào thế giới công việc với nhiều phức tạp: Đó là sự thay đổi trong các mối quan hệ xã hội, từ vị trí là sinh viên (SV) sang vị trí người thày với các mối quan hệ phức tạp, đa chiều với học sinh (HS), đồng nghiệp, cán bộ quản lý (CBQL) nhà trường, cha mẹ HS….; đó là sự thay đổi vị trí, vai trò từ người học sang người dạy, chịu trách nhiệm về việc học của nhiều HS và họ còn phải thay đổi cả về môi trường làm việc; thói quen, tác phong, tâm lý, tư tưởng… Tất cả sự thay đổi trên khiến GV trẻ khó vượt qua những thách thức khi mới bước vào nghề như một GV vào nghề được 4 năm chia sẻ: "Từ giảng đường bước ra bục giảng, mình như đang bơi trong sông, đột ngột ra biển lớn" [5].

2.1.3. GV trẻ gặp nhiều khó khăn trong dạy học và giáo dục: Dạy học và giáo dục HS như thế nào để đạt được mục tiêu và hiệu quả là nhiệm vụ đầy khó khăn đối với GV mới vào nghề. Vào thời điểm bắt đầu nghề dạy học, những kinh nghiệm của GV thường có được đều từ quan sát và trải nghiệm khi ở vai trò là HS trong trường phổ thông. Các kiến thức về mặt lý luận và thực tiễn được học từ trường sư phạm chưa đủ giúp GV đạt tới trình độ chuyên sâu trong lĩnh vực dạy học, giáo dục. Ngay cả chương trình đào tạo GV được thiết kế một cách tốt nhất cũng không đủ để SV sư phạm có thể bắt tay ngay vào công việc thực sự của một nhà giáo ngay sau khi tốt nghiệp. Họ gặp rất nhiều khó khăn và thường cố gắng tạo lập phong cách giảng dạy cũng như năng lực chuyên môn thông qua một quá trình thử-và-sai lặp đi, lặp lại mà người ta gọi là “học dạy học qua thực tiễn”. Điều này dẫn tới tình trạng không ít GV trẻ đã bỏ nghề trong những năm đầu. Một ví dụ điển hình cho thấy, ở Mỹ có tới 1/3 GV bỏ việc trong vòng ba năm đầu vì thiếu sự ủng hộ của nhà trường và thiếu các chương trình giúp đỡ những GV trẻ khi bước đầu vào nghề. Ở Việt Nam, nhiều trường công lập “ngoảnh mặt” với GV trẻ - dù các cử nhân sư phạm tốt nghiệp loại khá, giỏi. Nguyên nhân chính của tình trạng này là họ thiếu tin tưởng vào năng lực và nghiệp vụ sư phạm (NVSP) của GV trẻ. Như vậy, họ rất cần được giúp đỡ, hướng dẫn và hỗ trợ chuyên môn, nghiệp vụ từ các tổ chức, đồng nghiệp, nhất là từ phía trường ĐHSP - nơi trực tiếp đào tạo họ.

2.1.4. GV trẻ mới vào nghề còn yếu về năng lực chuyên môn và NVSP. Họ không chỉ thiếu một số kỹ năng dạy học, giáo dục cần thiết (kỹ năng thiết kế giáo án, kỹ năng phân bố thời gian giảng dạy, kỹ năng diễn đạt, kỹ năng đặt câu hỏi, kỹ năng giáo dục HS cá biệt, kỹ năng quản lý lớp học, kỹ năng phối hợp với cha mẹ HS và cộng đồng, kỹ năng xử lý các tình huống sư phạm, kỹ năng lập kế hoạch giáo dục, kỹ năng thiết lập mối quan hệ với HS)… mà còn rất thiếu kỹ năng mềm (nhất là kỹ năng giao tiếp, kỹ năng kiềm chế cơn nóng giận và kỹ năng giải tỏa cảm xúc tiêu cực) [1, tr 17], [3, tr 448].

Trong một cuộc điều tra GV có thâm niên dưới 5 năm ở 17 trường phổ thông thuộc 8 tỉnh phía Bắc, có 60,7% GV cho rằng, còn thiếu hiểu biết về đối tượng và môi trường giáo dục thực tiễn phổ thông; 60,5% GV cho biết, GV trẻ còn hạn chế về phương pháp, kỹ năng tổ chức dạy học và giáo dục HS; 34,3% thừa nhận kiến thức chưa thật sự vững vàng [4]. Một cuộc điều tra khác vào năm 2010 của Trung tâm Tâm lý học - Sinh lý học, Viện Nghiên cứu Sư phạm, Trường ĐHSP Hà Nội cho thấy, trên 195 GV trẻ tốt nghiệp ĐHSP có thâm niên công tác dưới 5 năm và 69 CBQL, hiện đang công tác tại các trường tiểu học và THPT tại 7 tỉnh, thành phố gồm: Vĩnh Phúc, Hải Dương, Thanh Hóa, Hà Nội, Nam Định, Hòa Bình, Đà Nẵng về tự đánh giá của GV trẻ đối với mức độ thực hiện hoạt động nghề nghiệp cũng cho kết quả đáng chú ý: có 65.2% GV thực hiện không tốt hoặc không rõ kỹ năng giải quyết các tình huống sư phạm, 53.6% GV thực hiện không tốt hoặc không rõ kỹ năng sử dụng các phương tiện, trang thiết bị dạy học và giáo dục, 56.5% GV thực hiện không tốt hoặc không rõ kỹ năng giáo dục đạo đức cho HS, 73,9% GV thực hiện chưa tốt kỹ năng hòa nhập cộng đồng nơi công tác... [6].

 Nhận định về điều này, trên Vietnamnet.vn ngày 3/10/2011 có nêu: “Những điều trường sư phạm chưa dạy cô giáo” đã trích lời một Hiệu trưởng trường phổ thông ở Hà Nội: “Kiến thức có nhưng kỹ năng không có là tình trạng chung của những SV tốt nghiệp ngành sư phạm hiện nay. Họ phải theo học nghề vài năm mới có thể tự tin đứng lớp” [5].

Từ những hạn chế đó, hầu hết GV trẻ đều có nhu cầu được hỗ trợ để hoàn thiện chuyên môn, NVSP của bản thân nhằm đáp ứng công việc và yêu cầu thực tiễn giáo dục phổ thông (GDPT). Kết quả 2 cuộc điều tra, khảo sát trên đã cho thấy, có 99,7% GV trẻ (GV tập sự) ở 17 trường THPT thuộc 8 tỉnh phía Bắc, gồm: Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Nam Định, Thái Bình, Thái Nguyên và 100% GV trẻ có trình độ đại học hiện công tác tại một số trường tiểu học và THPT thuộc 7 tỉnh, thành phố được khảo sát như: Vĩnh Phúc, Hải Dương, Thanh Hóa, Hà Nội, Nam Định, Hòa Bình, Đà Nẵng có nhu cầu được bồi dưỡng, hỗ trợ về chuyên môn, nghiệp vụ trong thời gian tập sự [4, tr 45], [6, tr 81-87].

2.1.5. GV trẻ thường bị “sốc” và “vỡ mộng” với  thực tế

 Một số nghiên cứu đã chỉ ra, cảm xúc  bị “sốc” với thực tế (reality-shock) và bị “vỡ mộng” (dissillusionment) là vấn đề mà đa số GV trẻ trải qua trong những năm đầu mới vào nghề. Đó là “sự sụp đổ” của những kì vọng, những lý tưởng giáo điều được tạo nên từ các chương trình đào tạo GV khi họ phải đối diện với sự lộn xộn, vô kỷ luật và thô lỗ trên thực tế lớp học hoặc khi đối diện với sự đa dạng về đối tượng HS với biết bao tình huống phức tạp khác nhau, đặc biệt khi phải đối diện với môi trường làm việc thiếu dân chủ, không hợp tác, đầy sự xung đột, đố kỵ,... Trong đó, những bên có liên quan như đồng nghiệp, phụ huynh, cộng đồng và xã hội không hỗ trợ, hợp tác và trân trọng những cố gắng của GV.

Như vậy, tất cả những đặc điểm đã phân tích trên đây cho ta thấy, việc hỗ trợ nghề nghiệp cho GV trẻ giúp họ thích ứng với công việc mới và có đủ kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp là vô cùng cần thiết với mục đích: - Giúp GV hoàn thiện và phát triển năng lực nghề nghiệp; - Làm giảm bớt sự cô lập, gia tăng sự tự tin của GV trẻ; - Giúp GV chuyển từ mức độ bình thường đến thành công ban đầu; - Mang đến sự thay đổi và phát triển ở cá nhân GV trẻ cũng như sự phát triển của nhà trường, hệ thống giáo dục. 

          2.2. Vai trò, nhiệm vụ của trường ĐHSP trong việc hỗ trợ hoạt động nghề nghiệp cho GV trẻ ở trường phổ thông

Trong công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI  đã coi các trường sư phạm là "cái nóc nhà” của đổi mới giáo dục. Sứ mệnh của nó không chỉ là đào tạo ra ĐNGV đáp ứng yêu cầu thực tiễn của GDPT mà còn phải có nhiệm vụ hỗ trợ, bồi dưỡng để phát triển năng lực nghề nghiệp suốt đời cho GV. Vì thế, Dự án ETEP của Bộ GD&ĐT đã chọn 7 trường ĐHSP và Học viện Quản lý giáo dục để thúc đẩy việc bồi dưỡng thường xuyên cho ĐNGVPT dưới hình thức trực tiếp và trực tuyến. Theo Dự án này, sẽ có khoảng 280 giảng viên sư phạm được lựa chọn từ các trường ĐHSP chủ chốt được bồi dưỡng, tăng cường năng lực để làm nhiệm vụ hỗ trợ GVPT cốt cán trong quá trình bồi dưỡng thường xuyên, liên tục tại trường phổ thông cho các GV khác.

Đây là một nhiệm vụ rất nặng nề và quan trọng thể hiện vai trò của những trường sư phạm đầu đàn trong đào tạo, bồi dưỡng GV. Trong Đề án của Dự án ETEP đã nói rõ: “Định hướng các trường sư phạm tập trung vào nhiệm vụ bồi dưỡng trong thời gian tới (đổi mới chương trình bồi dưỡng theo hướng dịch vụ phục vụ nhu cầu của địa phương và cá nhân người học)… Hỗ trợ SV sau tốt nghiệp là trách nhiệm của trường sư phạm đối với sản phẩm đào tạo [2; tr 69].

  Như vậy, cùng với việc bồi dưỡng thường xuyên cho GV thì nhiệm vụ hỗ trợ SV sau tốt nghiệp là một trọng trách mới .Để khẳng định vai trò, trách nhiệm của giảng viên các trường sư phạm trong  hoạt động bồi dưỡng, hỗ trợ phát triển năng lực nghề nghiệp cho GVPT, Thông báo kết luận số 148/TB-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ngày 24/3/2015 tại Hội thảo “Nâng cao năng lực đào tạo, bồi dưỡng GV, CBQL của các trường sư phạm đáp ứng yêu cầu đổi mới GDPTđã nêu rõ:  “…điều động giảng viên sư phạm tham gia giảng dạy, hướng dẫn nghiên cứu, thử nghiệm khoa học giáo dục ở các trường mầm non, phổ thôngCác hoạt động tại trường phổ thông giảng viên có thể tham gia: Sinh hoạt chuyên môn (theo cụm trường, qua mạng Internet, qua hệ thống mạng Trường học kết nối, ...), tham gia làm giám khảo tại các hội thi GV giỏi, tham gia giảng bài (thỉnh giảng), dự giờ, tư vấn, hướng dẫn và tham gia cùng GV/HS phổ thông NCKH sư phạm ứng dụng trong nhà trường ...”.

Với vai trò, nhiệm vụ như vậy, các trường ĐHSP tới đây không còn bị “đứng ngoài cuộc” hay đóng vai trò là lực lượng tham gia mà thực sự đã trở thành lực lượng nòng cốt trong hỗ trợ phát triển nghề nghiệp liên tục của GV. Mối quan hệ gắn kết giữa cơ sở đào tạo GV với trường phổ thông trong việc việc đào tạo, sử dụng, bồi dưỡng phát triển ĐNGV được hình thành.  

          2.3. Nội dung hỗ trợ nghề nghiệp cho GV trẻ

Nội dung này được quyết định bởi những khó khăn và nhu cầu thực tế của từng GV. Tuy nhiên, cần tập trung vào 3 nội dung cơ bản sau:

          - Hỗ trợ kiến thức chuyên môn liên quan đến giảng dạy môn học do GV phụ trách (năng lực  chuyên ngành/môn học), trong đó, bao gồm cả năng lực NCKH.

- Hỗ trợ năng lực dạy học và năng lực giáo dục cho GV (năng lực NVSP).

- Hỗ trợ  phát triển các giá trị, đạo đức nghề nghiệp (phẩm chất đạo đức).

Trong các nội dung trên, hỗ trợ để phát triển năng lực nghiệp vụ của nghề (NVSP) cho GV là nội dung quan trọng. Bởi vì, theo các kết quả nghiên cứu gần đây đã chỉ ra:“Những khó khăn mà GV trẻ gặp phải không liên quan nhiều đến kiến thức chuyên môn mà  đều là những khó khăn thuộc năng lực sư phạm” [3, tr 448].

Đặc biệt, trong tình hình hiện nay, khi đạo đức ở một bộ phận nhà giáo đang xuống cấp, gây nên những bức xúc, thảm họa trong ngành Giáo dục (đổi tình lấy biên chế; đổi điểm lấy tình, bạo lực với đồng nghiệp, với HS;…) mà báo chí đang lên án thì việc tăng cường bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, nhân cách cho người thày là thực sự cần thiết.

2.4. Một số hình thức hỗ trợ nghề nghiệp cho GV trẻ ở trường phổ thông của trường ĐHSP

Hoạt động hỗ trợ GV được thực hiện qua nhiều hình thức khác nhau, có những hình thức hỗ trợ trực tiếp mang tính tổ chức chính qui như tham dự các khóa học, khóa tập huấn bồi dưỡng, hội thảo khoa học,… và cũng có những hình thức mang tính chất gián tiếp (từ xa qua mạng Internet, qua tài liệu hướng dẫn…) hoặc hỗ trợ cá nhân dưới sự hướng dẫn, tư vấn của giảng viên sư phạm. Dưới đây chúng tôi đưa ra một số hình thức  mà trường ĐHSP có thể vận dụng để hỗ trợ nghề nghiệp cho GVPT, cụ thể: 

2.4.1. Hỗ trợ GV qua hội thảo/seminar: qua hình thức này, GV có cơ hội và điều kiện trình bày các vấn đề cũng như nêu ý kiến, quan điểm về những nội dung họ quan tâm. Từ đó, giảng viên các trường sư phạm sẽ trực tiếp định hướng, tư vấn, tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn cho GV trong những tình huống cụ thể. Mặt khác, GVPT sẽ tiếp thu, học hỏi được nhiều kiến thức, kinh nghiệm mới qua diễn đàn hội thảo.

2.4.2. Tập huấn cho GV: Đây là đợt bồi dưỡng ngắn hạn do các giảng viên thuộc chuyên ngành nào đó của trường ĐHSP thực hiện cho những đối tượng có nhu cầu hoặc theo yêu cầu của tổ chức/người quản lý để phát triển năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho GV. Đây được coi như là một hình thức phổ biến trong việc hỗ trợ  năng lực nghề nghiệp cho GV.

Vì vậy, các chương trình tập huấn cho GV trẻ cần được thiết kế rõ gồm: mục tiêu, hoạt động và kết quả mong muốn đạt được. Kết quả này thường là sự phát triển về nhận thức, kiến thức, kĩ năng và tư duy của GV. Hoạt động tập huấn có thể được thực hiện theo những hình thức khác nhau như: tập huấn đại trà, tập huấn cho nhóm GV; tập huấn tập tại trường sư phạm hoặc cơ sở giáo dục. 

2.4.3. Dùng các bài nói chuyện của giảng viên để hỗ trợ chuyên môn: Đây được gọi là các buổi nói chuyện/diễn thuyết dưới trường phổ thông (có thể trực tiếp mặt đối mặt đối với GV, gián tiếp qua băng đĩa, clips, truyền hình). Thông qua các bài nói chuyện, diễn thuyết, GV sẽ tiếp thu được nhiều kiến thức, kinh nghiệm quí báu của giảng viên.

2.4.4. Dự giờ và đóng góp ý kiến cho GV: Kiến thức chuyên môn, phương pháp và kỹ năng dạy học của GV sẽ được hoàn thiện và phát triển nếu họ được giảng viên các trường sư phạm trực tiếp dự giờ, góp ý. Các giảng viên dự giờ đóng vai trò “tai và mắt” của người dạy (nghe, quan sát những diễn biến trong tiết học, từ đó đưa ra những nhận xét, góp ý về những hạn chế, thiếu sót cũng như hướng cải thiện giờ dạy sao cho đạt hiệu quả hơn), đây là mô hình hỗ trợ đem lại hiệu quả cao cho GV trẻ.

2.4.5. Hướng dẫn, tư vấn nhóm nhỏ hoặc riêng lẻ (cá nhân) là quá trình giảng viên sư phạm hỗ trợ, giúp đỡ một nhóm GV hay một cá nhân GV nào đó nhận ra được tiềm năng của mình cũng như những vấn đề khó khăn của chính họ, từ đó giúp GV phát triển và hoàn thiện năng lực nghề nghiệp. Mục đích của tư vấn là trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm chuyên môn giữa giảng viên với GV và trợ giúp cho GV phát triển nghề nghiệp chuyên môn. Đây là mô hình hoạt động tương tác giữa giảng viên với các GV trong nhóm nhỏ, có ưu thế tạo nên động lực từ bên trong mỗi GV để họ phát triển nghề nghiệp.

2.4.6. Hướng dẫn GV phát triển chuyên môn qua nghiên cứu bài học (NCBH). Đối với từng GV trẻ, năng lực nghề nghiệp chỉ có thể được phát triển nhanh chóng thông qua hình thức NCBH tại lớp học - nơi họ giảng dạy. Bởi vì, chỉ có qua những tình huống cụ thể với nhiều đối tượng HS, với các điều kiện, môi trường giảng dạy khác nhau GV mới phát hiện ra những vấn đề thiếu hụt của bản thân để từ đó họ có nhu cầu học hỏi, rèn luyện những kỹ năng ứng phó với thực tế diễn ra trong lớp học. Hình thức này được xây dựng trên quan niệm cho rằng, một trong những biểu hiện của GV có trình độ chuyên môn giỏi là khả năng biết soi rọi, đánh giá hiệu quả công việc của chính mình qua nghiên cứu từng giờ học, bài học trên lớp. Công việc này do GV hoặc nhóm GV tự thực hiện dưới sự trợ giúp của giảng viên các trường ĐHSP. Trong những năm qua, việc hướng dẫn GVPT thực hiện NCBH đã mang lại những kết quả đáng kể như: Nâng cao kiến thức và kĩ năng sư phạm cho GV, học được nhiều phương pháp, thủ thuật, kỹ thuật mới; Giảng viên trường sư phạm tích lũy được nhiều kinh nghiệm thực tế quý báu để cập nhật vào bài giảng cho SV. Không những thế, qua hoạt động đó mối liên hệ giữa giảng viên, SV và GV ở các trường phổ thông càng gần gũi hơn,

2.4.7. Hỗ trợ GV qua mạng Internet: Hiện nay, việc bồi dưỡng, hỗ trợ GV theo hình thức tập trung đang bộc lộ nhiều hạn chế (chi phí lớn, tốn nhiều thời gian, hiệu quả thấp…). Việc hỗ trợ GV từ xa thông qua mạng Internet đem đến nhiều ưu điểm nổi trội, đó là tính linh hoạt (GV có thể học được ở mọi lúc, mọi nơi…); tính thích ứng cá nhân (phù hợp với trình độ, hoàn cảnh, thời gian); giảm chi phí và thời gian đi lại; tài liệu phong phú và luôn cập nhật;… Hơn nữa, GV có khả năng sử dụng công nghệ thông tin và các mạng xã hội như Email, Facebook, Twitter… rất thành thạo nên thuận lợi cho việc hỗ trợ từ xa. Với những ưu điểm nổi trội trên, các trường ĐHSP cần xây dựng những nhóm giảng viên có kinh nghiệm ở từng lĩnh vực khác nhau để hỗ trợ GV trẻ thông qua mạng thông tin trực tuyến hoặc cung cấp, chia sẻ tài liệu trợ giúp GV qua mạng Internet,…

2.4.8. Hỗ trợ GV qua hệ thống tài liệu có hướng dẫn. Từ lâu, việc biên soạn các tài liệu như: Sách hướng dẫn giảng dạy, sách thiết kế bài giảng, sách hướng dẫn ra đề thi, sách tham khảo dành cho các môn học cũng như hoạt động giáo dục… đã được các trường sư phạm xuất bản khá nhiều phục vụ cho dạy học và giáo dục của GV. Các loại tài liệu này được viết dưới dạng cẩm nang nên được GV coi như  nguồn tài liệu hỗ trợ, bồi dưỡng chuyên môn và NVSP rất thiết thực, hữu ích. Do đó, thời gian tới các trường ĐHSP cần đẩy mạnh hoạt động xuất bản để phục vụ nhu cầu tự bồi dưỡng qua sách, tài liệu cho GV.

Như vậy, một số hình thức hỗ trợ nghề nghiệp cho GV trẻ nêu trên không phải là tất cả và cũng không phải là tối ưu đối với các trường ĐHSP, cho nên, tùy theo yêu cầu và điều kiện cụ thể mà nhà trường lựa chọn hình thức bồi dưỡng cho phù hợp.

3. Kết luận

GV trẻ là lực lượng tham gia công cuộc đổi mới chương trình và sách giáo khoa sau năm 2018. Sự thành công của đổi mới giáo dục phụ thuộc vào chất lượng ĐNGV. Với trọng trách là "cái nóc nhà” của đổi mới giáo dục, các trường ĐHSP không chỉ có nhiệm vụ đào tạo ra ĐNGV có đủ năng lực và phẩm chất đáp ứng yêu cầu thực tiễn giáo dục mà còn phải đóng góp tích cực vào việc hỗ trợ, bồi dưỡng nâng cao năng lực  nghề nghiệp cho GVPT. Trong thời gian tới, các trường ĐHSP cần xác định rõ những nội dung cơ bản để hỗ trợ GV theo yêu cầu đổi mới, đồng thời lựa chọn những cách thức, hình thức, con đường hỗ trợ sao cho hiệu quả, phù hợp, giúp họ có đủ tự tin và năng lực khi bước vào nghề cũng như thực hiện chương trình và sách giáo khoa mới.

_______________

Tài liệu tham khảo

1. Phạm Thị Kim Anh, Đổi mới rèn luyện nghiệp vụ sư phạm - một giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên, Tạp chí Giáo dục số 9/2011, tr 17-19.

2.Bộ giáo dục &đào tạo, Dự án ETEP (2016), Các tài liệu phục vụ Dự án, tr 69.

3. Nguyễn Thị Kim Dung, Thực trạng năng lực sư phạm của đội ngũ giáo viên trẻ trong bối cảnh đổi mới giáo dục phổ thông, Hội thảo khoa học quốc tế:  “Phát triển đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông”, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2016, tr 448.

4. Nguyễn Văn Lộc, Chương trình hỗ trợ giáo viên tập sự, Đề tài NCKH, Dự án phát triển giáo viên trung học phổ thông và trung cấp chuyên nghiệp - Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2009.

 5. Nhã Uyên-Tú Uyên, Những điều trường sư phạm chưa dạy cô giáo. Báo VietNamnet ngày 3/10/2011

6. Đào Thị Oanh, Nhu cầu của giáo viên trẻ đối với nội dung rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, Kỷ yếu hội thảo khoa học: “Nâng cao chất lượng nghiệp vụ sư  phạm cho sinh viên các trường đại học sư phạm”, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tháng 01/2010.

 

 

            Nhận bài ngày 30/8/2017.

Tóm tắt

 Giáo viên (GV) trẻ là những người vừa mới bước vào nghề nên kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm cũng như kinh nghiệm dạy học, giáo dục còn non yếu. Bởi vậy, họ rất cần được hỗ trợ để phát triển chuyên môn. Trong bài viết này, chúng tôi tập trung phân tích 4 nội dung chính giúp họ có đủ năng lực và tự tin khi bước vào nghề, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.

            Từ khóa: Giáo viên trẻ, hỗ trợ nghề nghiệp, Trường Đại học Sư phạm.

 

THE ROLE OF TEACHER EDUCATION UNIVERSITIES IN SUPPORTING PROFESSIONAL DEVELOPMENT FOR BEGINNING TEACHERS IN HIGH SCHOOLS

 

Abtract: Beginning teachers are who have just joined teaching career, so their knowledge of pedagogics, professional as well as experience teaching and education are still weak. Therefore, they need support to develop their career. In this article, we focus on 
Publish: 7/31/2020 - Views: 193 - Lastest update: 7/31/2020 7:04:24 AM
Tin cùng chuyên mục