Email: email@ioer.edu.vn | vncsp@hnue.edu.vn
Bàn tròn giáo dục

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC DẠY HỌC CHO GIÁO VIÊN PHỔ THÔNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA GIÁO DỤC 4.0

TS Phạm Thị Kim Anh-Ths Nguyễn Thu Hà

Viện NCSP-Trường ĐHSP Hà Nội

(Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế Đổi mới trong đào tạo giáo viên: Teacher Competencies for Education 4.0. ĐHSP Thái Nguyên, tháng 12.2020)

 

1.      Đặt vấn đề

Cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0) bắt đầu diễn ra từ đầu những năm 2000 và đến khoảng năm 2013 thì xuất hiện cụm từ "công nghiệp 4.0". CMCN 4.0 là một thuật ngữ bao gồm một loạt các công nghệ tự động hóa hiện đại, trao đổi dữ liệu và chế tạo, dựa trên nền tảng công nghệ số và tích hợp tất cả các công nghệ thông tin. CMCN 4.0 với đặc trưng của nó là sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, rô bốt, Internet kết nối vạn vật, công nghệ di động không dây, máy tính lượng tử, điện toán đám mây, hệ thống dữ liệu nhanh, khoa học vật liệu, sinh học, …Trong đó, đặc trưng cơ bản nhất là kết nối. Trong buổi trò chuyện với sinh viên trường đại học FPT ngày 13.2.2017, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã nhấn mạnh: Nếu cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất gắn với “hơi nước”, cuộc cách mạng lần thứ hai là “điện”, lần thứ ba là “số hóa” thì cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 với đặc trưng là kết nối. Đó là việc kết nối 8 tỷ thiết bị, kết nối ở mọi tầng lớp, mọi giác độ, sự kết nối không chỉ ở một mái trường, một tỉnh, một đất nước mà là sự kết nối toàn cầu. Cuộc cách mạng ấy liên quan mật thiết đến công nghệ thông tin”.Với những đặc trưng đó, CMCN 4.0 đã mở ra một thời đại mới trong tiến trình phát triển của nhân loại và tác động mạnh mẽ, làm thay đổi mọi lĩnh vực đời sống xã hội, từ  sản xuất kinh tế, dịch vụ, y tế, giao thông, hệ thống quản lí đến văn hóa, giáo dục (GD).

 CM 4.0 tất yếu dẫn đến nền giáo dục 4.0 (GD 4.0). Tại đây, con người, máy móc, thiết bị, công việc liên kết với nhau để tạo nên nền GD thiên về đào tạo cá nhân hóa. Trong nền GD đó, Internet được áp dụng trong mọi hoạt động (Internet of Things) và mọi công dân được tiếp nhận việc giảng dạy không giới hạn. “Trường học không tường” được xây dựng thành hệ sinh thái mà ở đó mọi người có thể DH ở mọi nơi, mọi lúc  để tạo ra sản phẩm là những nhà sáng tạo và nhà khởi nghiệp, những công dân kĩ thuật số biết giải quyết các vấn đề phức tạp, có tư duy phân tích, phản biện, tư duy sáng tạo, có khả năng thích nghi với các thách thức, đặc biệt là trí tuệ cảm xúc (EQ). Cùng với đó là những kĩ năng mới bắt buộc phải có là:

- Kĩ năng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT): như năng lực giải quyết vấn đề dựa trên máy tính và các công cụ công nghệ.

- Kĩ năng tư duy:  như sức sáng tạo, tư duy phản biện, kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng ra quyết định, và khả năng tự học suốt đời.

- Kĩ năng làm việc: như khả năng giao tiếp và hợp tác làm việc theo nhóm.

- Kĩ năng sống (thích nghi) trong xã hội toàn cầu, bao gồm vấn đề ý thức công dân, cuộc sống và sự nghiệp, trách nhiệm cá nhân và xã hội, bao gồm cả vấn đề hiểu biết tính đa dạng văn hóa [8].   

Vậy làm thế nào để đào tạo được những công dân có đầy đủ những năng lực và kĩ năng trên? Giáo dục 4.0 đang đặt ra những yêu cầu gì đối với vai trò và năng lực người giáo viên (GV)? và làm thế nào để GV có được những năng lực DH đáp ứng yêu cầu GD 4.0?. Đó là những câu hỏi và cũng là 3 nội dung chính mà báo cáo này sẽ tập trung trình bày.

2.Nội dung

2.1. Vai trò của giáo viên trong nền giáo dục 4.0  như thế nào?

      GV vẫn là trung tâm trong thời đại số

 Trong thời đại công nghệ số, chỉ bằng cái nhấp chuột, con người hoàn toàn có thể truy cập thông tin và nguồn lực bất tận từ khắp mọi nơi. Vậy GV đóng vai trò gì?,  nghề  DH  và GV có  biến  mất  trước  ảnh  hưởng của CMCN 4.0 và  GD 4.0?; chúng ta (tức GV) thông minh hơn công nghệ hay công nghệ thông minh hơn chúng ta?. Đó là những câu hỏi khiến nhiều người băn khoăn. Thực tế đã chỉ ra rằng, dù công nghệ, máy móc có thể thay thế con người ở những công việc phổ thông mang tính lặp lại và trả lời cho chúng ta những câu hỏi chính xác, nhưng những phân tích và khả năng cảm nhận (tâm lí, tình cảm và cảm xúc) thì không thể thay được. Bởi vậy, dù bất cứ thay đổi nào của khoa học và công nghệ thì GV vẫn là trung tâm trong thời đại số và không có gì thay thế được vai trò của GV. Ngay cả khi “Trường học không tường” thay thế các trường học truyền thống với sự hỗ trợ mạnh mẽ của công nghệ thông tin thì vai trò quyết định nhất đối với chất lượng GD vẫn thuộc về người thầy. Kiến thức và năng lực của người thầy, phẩm chất và nhiệt huyết của người thầy sẽ luôn là yếu tố quyết định. Sự tương tác và tình cảm  giữa thầy và trò là những giá trị không thể đo lường được trong DH và GD. Bởi vậy, bất kể thời đại nào, máy móc nào cũng không thể thay thế được GV. GV vẫn là người đóng vai trò quan trọng trong việc truyền thụ tri thức khoa học, tư duy phản biện, lòng trắc ẩn, các quan điểm đa dạng khác nhau để giúp các thế hệ sau đối diện với những thay đổi mới.

Đặc biệt, trong bối cảnh  trên thế giới còn khoảng  4 tỷ người không trực tuyến, không internet và tại Việt Nam còn khoảng 30% dân số không Internet [3] thì vai trò của GV vẫn rất quan trọng trong DH và giáo dục.

Vai trò của giáo viên  trở nên phức tạp hơn

Nếu CMCN 1.0 (cuối TK 18) với nền GD 1.0, vai trò chủ yếu của GV là chuyển giao kiến thức từ thày sang trò, thì cuộc CMCN 4.0 với kho tri thức hầu như vô tận đã làm vai trò của người GV phức tạp hơn nhiều. Theo Nguyễn Thị Kim Dung, nhà trường phổ thông hiện đại đòi hỏi GV phải trở thành những nhà giáo dục với  bốn vai trò căn bản: (1) nhà giáo dục chuyên nghiệp (tức là nhà sư phạm); (2) nhà nghiên cứu ứng dụng (tức là nhà nghiên cứu thực hành); nhà văn hoá (tức là nhà canh tân xã hội); và là (3) người học suốt đời (tức là chuyên gia về học) [4, tr19.].

Khi đóng vai trò là nhà sư phạm, GV không còn đơn thuần là người truyền thụ kiến thức, “dạy để cho HS biết”, mà chuyển sang là người “dạy để cho HS làm”. Từ chỗ rót kiến thức có sẵn vào đầu HS chuyển sang là người thiết kế, tổ chức, định hướng, dẫn dắt, gợi mở, hỗ trợ, thúc đẩy HS trên con đường chiếm lĩnh kiến thức (người “hướng dẫn” HS cách học).. Nhiệm vụ chính của GV là tạo môi trường học tập, tạo điều kiện để HS có cơ hội học theo phương pháp tích cực và sáng tạo.

Không những thế, GV phải có sức cảm hóa HS thông qua hoạt động giảng dạy, phải truyền được cảm hứng và ngọn lửa đam mê đến với HS. Bởi Một ông thầy mà không dạy cho học trò được việc ham muốn học tập thì chỉ là đập búa trên sắt nguội mà thôi” (Horaceman). Đặc biệt, GV phải luôn có ý tưởng mới để chỉ dẫn –khai sáng và thúc đẩy HS tìm tòi. Theo UNESCO, vai trò của GV cần tập trung vào 8 điểm:

- Đảm nhận trách nhiệm nặng hơn trong việc lựa chọn nội dung DH và GD;

- Tổ chức việc học của HS, sử dụng tối đa những nguồn tri thức trong xã hội;

- Cá biệt hóa học tập, thay đổi tính chất trong quan hệ thầy trò;

- Sử dụng rộng rãi hơn những phương tiện DH hiện đại;

- Hợp tác rộng rãi và chặt chẽ hơn với các GV cùng trường, thay đổi quan hệ giữa các GV với nhau;

- Thắt chặt hơn mối quan hệ với cha mẹ HS và cộng đồng, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống;

- Yêu cầu GV tham gia hoạt động rộng rãi trong và ngoài nhà trường;

- Giảm bớt và thay đổi kiểu uy tín truyền thống trong quan hệ với HS nhất là đối với HS lớn và với cha mẹ HS.

Bên cạnh đó, GV phải thể hiện rõ phẩm chất ở 5 trách nhiệm: với HS; với xã hội; với nghề nghiệp; với việc hoàn thành tốt công việc; với các giá trị cơ bản của con người .

Với vai trò phức tạp như vậy, GV không chỉ là những chuyên gia về dạy học mà còn là chuyên gia kiến thức về công nghệ, kỹ thuật số để phát huy trí tuệ và làm chủ công nghệ mà không trở thành nô lệ của công nghệ. Từ đó, kiến tạo môi trường học tập, phát triển tính sáng tạo, óc tò mò, tư duy phê phán, khả năng giải quyết vấn đề và quan trọng  nhất là để các em không bị xô ngã trong một thế giới đầy rẫy các thông tin thật giả lẫn lộn như ngày nay. Theo Phạm Hồng Quang : “vai trò người thầy trong học tập kết nối mạng đó là sáng tạo, phản biện và giáo dục” [5].

 2.2. Giáo dục 4.0 đặt ra những yêu cầu gì đối với năng lực dạy học của giáo viên phổ thông?

Năng lực DH là một trong những năng lực chuyên biệt quan trọng, đặc trưng nhất của người GV. Muốn thực hiện được nhiệm vụ truyển tải và tổ chức, dẫn dắt người học tiếp thu kiến thức, phát triển năng lực người học thì GV phải là những chuyên gia về DH với nhiều  năng lực mới.

Ngày nay, trước thách thức của “Trường học không tường”, các lớp học sẽ dần biến mất, chỉ còn lại GV và HS cách nhau bởi màn hình máy tính cùng những thiết bị, phương tiện ảo, phòng  thí nghiệm ảo…với hình thức học trực tuyến đang “lên ngôi”, GD 4.0 đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với GV, vượt ra khỏi ngoài 4 bức tường lớp học. Vậy GV cần phải có những năng lực DH gì?.Theo khuyến cáo của UNESCO, yêu cầu của một GV ngày nay là phải:

- Hiểu biết công nghệ thông tin và có khả năng ứng dụng chúng trong DH;

- Khi DH phải nhận thức đúng đối tượng (đối tượng dạy - người học và đối tượng DH - nội dung DH) trên cơ sở đó thao tác đúng đối tượng;

- Phải hiểu cấu trúc các phương pháp dạy học (PPDH), biết triền khai đúng quy trình và biết phối hợp các PPDH trong quá trình DH;

- Thấu hiểu cách học trong môi trường thông tin và truyền thông để có thể hướng dẫn HS học và có khả năng làm tốt vai trò cố vấn cho họ.

- Có kiến thức đo lường và đánh giá trong DH để đánh giá chính xác khách quan kết quả học tập của người học, góp phần khẳng định chất lượng sản phẩm đào tạo của mình.

 Khi nghiên cứu về năng lực sư phạm 4.0 của sinh viên đại học sư phạm, Hà Thị Lan Hương [7] đã đề xuất ra khung năng lực cần có đối với SV sư phạm, bao gồm:

- NL công nghệ và truyền thông;

- NL sáng tạo;

- NL thích ứng với sự thay đổi;

- NL giao tiếp và hợp tác;

- NL lãnh đạo;

- NL phát triển chương trình;

 - NL dạy học tích hợp,

 - NL dạy học phân hóa….

 Với cách tiếp cận khác, Bùi Minh Đức [6], đã đưa  ra 6 yêu cầu cần thiết về năng lực DH  của người GV trong xã hội hiện nay:

- GV phải đảm bảo cho người học làm chủ được việc học và biết ứng dụng hợp lý tri thức học được vào cuộc sống của bản thân, gia đình, cộng đồng;

- GV phải là người đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành bầu không khí dân chủ, thiết lập các quan hệ xã hội công bằng, tốt đẹp trong lớp học, trong nhà trường;

- GV phải có lòng yêu mến, tôn trọng và có khả năng tương tác với HS;

- GV phải có năng lực đổi mới PPDH, có khả năng cập nhật và nghiên cứu, vận dụng những PPDH mới, tích cực; biết phối hợp các PPDH truyền thống, hiện đại để nâng cao chất lượng, hiệu quả DH;

- GV phải trình độ tin học và có khả năng sử dụng các phần mềm DH cũng như biết cách khai thác mạng Internet phục vụ cho công việc giảng dạy của mình;

- GV phải có kĩ năng hợp tácphải có năng lực giải quyết vấn đề.

Như vậy, GD 4.0 đang đặt ra cho GV nhiều yêu cầu mới về năng lực DH, trong đó năng lực sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin và truyền thông là đặc biệt quan trọng.

Tuy nhiên, với chừng đó về năng lực DH vẫn chưa đủ. Trong thời đại CMCN 4.0, sự thay đổi về đặc điểm tâm lí, trình độ nhận thức, thái độ học tập cũng như thang giá trị đạo đức của HS đã  khác trước rất nhiều. Nếu GV không có năng lực kiểm soát và kiềm chế cảm xúc sẽ bị thất bại trước những hành vi vô lối của học trò, thậm chí muốn bỏ nghề.Thực tiễn đã cho thấy, do không kiềm chế được cảm xúc nên nhiều GV đã quát mắng, lăng mạ, xử phạt thô bạo những hành vi hỗn láo, vô tổ chức kỉ luật của một số HS hư, dẫn đến hậu quả đáng tiếc. Do đó, việc kiểm soát,kiềm chế cảm xúc là một trong những năng lực rất quan trọng trong bối cảnh GD hiện nay.

   Bên cạnh những năng lực trên, người GV cần: Biết vui cùng những thành tích nhỏ bé của học trò và hãy chia sẻ những thất bại của chúng; hãy vừa là bạn, vừa là thầy của HS và cố gắng để các em luôn gần gũi, cởi mở với mình; hãy cố gắng khơi dậy lòng tự trọng, sự tự tin và những ưu điểm trong mỗi HS. Đừng bao giờ cho rằng, những HS hư là đồ bỏ đi và không thể dạy dỗ được; đừng đòi hỏi một “kỷ luật lý tưởng” trong lớp học và đừng độc đoán quá. GV hãy nên nhớ, giờ học là một phần cuộc sống của HS, vì vậy đừng làm cho giờ học gò bó, cứng nhắc để tạo cho HS sợ hãi mà không dám cởi mở, say mê, sáng tạo. Các cuộc gặp gỡ, trao đổi với phụ huynh HS vi phạm kỷ luật là cần thiết, nhưng nên nhớ, đối với họ đứa con là quí giá nhất trên đời. Vì thế, người thầy hãy hết sức tế nhị, tránh đừng để phụ huynh cũng như HS đó bị tổn thương. Khi HS mắc lỗi, GV không nên nóng nảy quá. GV không thể giáo dục HS với một chút ít nhiệt tình mà hãy cố gắng sống hết mình với các em. Yêu thương và bao dung, nghiêm  khắc và dạy dỗ, dùng lời nói  và tình thương để tác động đến tâm hồn HS; GV hãy kiềm chế, bình tĩnh, kiên trì và mềm mỏng trước mọi hành vi chưa đúng của HS.

2.3. Làm thế nào để phát triển năng lực dạy học cho giáo viên phổ thông đáp ứng yêu cầu của giáo dục 4.0?

             CMCN 4.0 và GD 4.0 đem đến nhiều cơ hội mới cho những đổi mới về GD, nhưng cũng đầy thách thức đối với năng lực đội ngũ GV. Làm thế nào để GV có những năng lực DH đáp ứng yêu cầu của GD 4.0 là một bài toán không thể giải quyết tức thời mà cần phải đi một chặng hành trình dài. Một điều chắc chắn rằng, chúng ta không thể bỏ 2 triệu thầy cô giáo hiện nay sang bên cạnh để đưa 2 triệu thầy cô giáo mới được đào tạo vào để thay thế, chúng ta phải bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ GV hiện nay bằng các phương thức phù hợp.

Chúng ta đều biết rằng, năng lực mang tính cá nhân hóa, nó là phẩm chất bên trong của mỗi cá nhân nên việc phát triển năng lực DH cho GV phải được thực hiện trước hết bởi chính GV. Tự bản thân mỗi GV phải thấm nhuần quan điểm : Một nghề đặt trong bối cảnh học suốt đời, từ đó có ý thức, trách nhiệm nghề nghiệp, danh dự cá nhân và nhà trường để cố gắng phát triển năng lực bản thân bằng nhiều con đường khác nhau như: qua đào tạo, bồi dưỡng; qua trải nghiệm thực tiễn; qua tham gia sinh hoạt chuyên môn, học hỏi kinh nghiệm đồng nghiệp và qua tự học, tự nghiên cứu. Mục đích của việc phát triển năng lực DH là nhằm gia tăng mức độ thích ứng của bản thân, đáp ứng tốt hơn việc giảng dạy trong nhà trường, phù hợp với yêu cầu của  xã hội và thời đại trong bối cảnh cuộc CMCN đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng.

Muốn phát triển được năng lực DH cho GV, ngoài những nỗ lực tự bồi dưỡng của chính bản thân GV, các cấp quản lí GD  cần thực hiện những biện pháp sau:

- Trước hết, khuyến khích GV tích cực đổi mới PPDH bằng việc áp dụng các PPDH tích cực (nêu và giải quyết vấn đề, DH tình huống, ĐH định hướng hành động, DH dự án...). Đồng thời, vận dụng các phương pháp gắn với công nghệ hiện đại như DH tích hợp khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (Giáo dục STEM) để GV có được năng lực khoa học công nghệ.

- Thứ hai, xác định rõ mục tiêu phát triển nguồn nhân lực 4.0 và các yêu cầu cần đạt (chuẩn đầu ra) của các bậc học phổ thông trong nền GD 4.0. Từ đó, xây dựng các chương trình đào tạo GV trong các trường sư phạm; tổ chức bồi dưỡng (dài hạn, ngắn hạn) cho GV  những tri thức mới về DH, về khoa học sư phạm , đặc biệt là năng lực tin học, năng lực ứng dụng công nghệ thông tin, khai thác và sử dụng thiết bị, phương tiện công nghệ và những phần mềm ứng dụng trong DH, GD.

- Thứ ba, xây dựng lại khung năng lực DH của GV theo yêu cầu của GD 4.0 và bổ sung vào chuẩn năng lực nghề nghiệp GV, làm rõ hơn nữa Tiêu chí 15 trong Tiêu chuẩn 5( ứng dụng công nghệ thông tin, khai thác và sử dụng thiết bị công nghệ trong dạy học, giáo dục) của chuẩn nghề nghiệp để mọi GV phải đạt chuẩn. Trên cơ sở đó tiến hành khảo sát, đánh giá năng lực DH của đội ngũ GV các cấp. Từ đó thiết kế chương trình bồi dưỡng sát hợp với nhu cầu và năng lực thực tế của GV. Khi tổ chức bồi dưỡng, cần trao quyền cho GV trước các chương trình bồi dưỡng để họ được lựa chọn nội dung cần nhất theo nhu cầu của chính mình, giúp GV có thể áp dụng ngay vào thực tiễn DH.

- Thứ tư , xây dựng hạ tầng kĩ thuật, công nghệ, chuẩn bị các điều kiện về tổ chức, quản lí, nội dung học liệu, cách thức DH, kiểm tra đánh giá… để triển khai DH E-leaning, đưa GV vào các hoạt động thực hành DH trực tuyến nhằm rèn các kĩ năng, kĩ xảo về  sử dụng các công nghệ GD mới, nhất là công nghệ mô phỏng  với các công cụ, thiết bị thông minh và các phần mềm DH. Vì năng lực chỉ có thể phát triển trong quá trình hoạt động trực tiếp (VD muốn học bơi, phải nhảy xuống nước; muốn lái đò phải trực tiếp cầm mái chèo…). Hoạt động càng nhiều, càng đa dạng và phức tạp càng giúp GV có nhiều kĩ năng và kinh nghiệm. Đây là một trong những biện pháp tốt nhất để GV phát triển NLDH. Đại dịch Covid vừa qua buộc GV phải chuyển sang DH trực tuyến/online là một minh chứng cho việc rèn luyện và nâng cao kĩ năng công nghệ thông tin của tất cả GV.

Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh áp dụng mô hình B-learning (mô hình DH kết hợp hình thức học tập trên lớp với hình thức học hợp tác qua mạng máy tính và tự học). Điều này sẽ  phối hợp được mô hình DH truyền thống với hiện đại trong bối cảnh GD 4.0, đồng thời phát huy được vai trò của người GV trong DH và GD.

- Thứ năm, phát huy vai trò của nhà trường, của nhóm, tổ chuyên môn trong hướng dẫn, bồi dưỡng tại chỗ cho GV, tạo nên cộng đồng học tập trong nhà trường. Việc làm này sẽ tạo nên sự chia sẻ, hợp tác theo nghĩa chân thực nhất trong cộng đồng GV, làm cho những hoạt động bồi dưỡng chuyên môn trở nên sống động, gắn với thực tiễn và có hồn hơn.

Ngoài hình thức bồi dưỡng, sinh hoạt chuyên môn theo cách truyền thống, GV có thể tạo dựng, chia sẻ nhiều nguồn thông tin khác để nâng cao năng lực DH trong bối cảnh công nghệ hiện đại, ví dụ như các website về tài liệu hoặc kinh nghiệm DH, các blog hay đơn giản hơn là các fanpage, group facebook. Chính các GV đã trở thành các chuyên gia đào tạo cho đồng nghiệp thông qua việc chia sẻ ý tưởng và kinh nghiệm DH.

Cũng có thể vận dụng mô hình ứng dụng kỹ thuật hội thảo truyền hình, cho phép nhiều người hội thảo từ xa, với sự xuất hiện của hình ảnh và âm thanh từ một người đến những người còn lại trong công tác phát triển năng lực DH cho GV.

-Thứ sáu, đổi mới cơ chế, cách thức quản lí chuyên môn từ Sở GD&ĐT cho đến các nhà trường phổ thông để giảm áp lực và gánh nặng về hành chính, về hồ sơ, sổ sách và các đầu việc không thuộc chuyên môn để GV không phải căng mình chống đỡ với những đòi hỏi và yêu cầu quá sức của ngành GD, tạo điều kiện cho GV có nhiều thời gian tập trung nâng cao năng lực DH.

-Cuối cùng, cải tiến chế độ tiền lương và chính sách tuyển dụng, nâng cao vị thế của người thày trong xã hội để lựa chọn những người có năng lực vào nghề và gắn bó với nghề. Đây chính là một trong những động lực quan trọng góp phần nâng cao chất lượng và năng lực đội ngũ GV.

Chỉ khi nào chúng ta thực hiện được những biện pháp trên đây thì năng lực DH của GV mới có thể  đáp ứng yêu cầu của GD 4.0.

3. Kết luận

Chất lượng của một nền GD phụ thuộc trước hết vào năng lực DH của người GV và năng lực  đội ngũ GV phản ánh đầy đủ nhất tiềm lực của một nền giáo dục. Bất kể  thời đại nào, không có thầy giỏi cả về năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm thì khó có thể có một nền GD có chất lượng trong tương lai. R.Roysingh – một chuyên gia giáo dục của UNESCO từng khẳng định: Chất lượng của một nền giáo dục không vượt quá tầm chất lượng những GV làm việc cho nó. Hội nghị quốc tế về giáo dục lần thứ 45 họp tại Giơ-ne-vơ (Thụy Sĩ) bàn về giáo dục cho thế kỷ XXI cũng nhấn mạnh: “Muốn có một nền giáo dục tốt, cần phải có những GV tốt”..Bởi vậy, việc phát triển năng lực DH cho đội ngũ GV phổ thông là khâu đột phá để thực hiện sứ mệnh người thầy trong thời đại GD 4.0. Muốn vậy, ngành giáo dục& đào tạo phải có những giải pháp chiến lược bắt đầu từ khâu tuyển chọn đầu vào, đổi mới chương trình đào tạo GV trong các trường sư phạm, tiến hành bồi dưỡng, đào tạo lại đội ngũ GV các cấp để kịp thời trang bị cho họ những năng lực cần thiết trong thời đại cách mạng công nghệ mới.

 

Tài liệu tham khảo

1. Phạm Thị Kim Anh, 2018. Phát triển năng lực DH cho GV phổ thông đáp ứng chương trình GD mới. (T/C Giáo dục &XH. Tháng 8/2017, tr65-69

 2. Trương Thị Bích, 2019. Biện pháp phát triển năng lực dạy học cho sinh viên Đại học sư phạm đáp ứng yêu cầu cách mạng công nghiệp 4.0. Educational Sciences, 2019, Volume 64, Issue 2A, pp. 3-17.

3. Các số liệu thống kê internet Việt Nam năm 2018, https://www.dammio.com.

4. Nguyễn Thị Kim Dung (chủ biên),2015., Đào tạo nghiệp vụ sư phạm theo định hướng hình thành năng lực nghề cho sinh viên trong các trường đại học sư phạm. NXB Đại học sư phạm.

5. Thế Đan-Vai trò của giáo viên thay đổi thế nào trong thời đại cách mạng 4.0. https://funix.edu.vn/tin-tuc-funix/vai-tro-cua-giao-vien-thay-doi-the-nao-trong-thoi-dai-cach-mang-4-0-2/

6. Bùi Minh Đức- 8 yêu cầu đối với giáo viên trung học phổ thông hiện nay. http://etep.moet.gov.vn/tintuc/chitiet?Id=301. Ngày 6.3.2018.

7. Hà Thị Lan Hương (2019), Đề xuất một số năng lực sư phạm 4.0 của sinh viên đại học sư phạm. HNUE JOURNAL OF SCIENCE. Educational Sciences, 2019, Volume 64, Issue 1, pp. 38-49.

8. Bốn nhóm  kĩ năng củaTổ chức Đánh giá và Giảng dạy Các Kĩ năng của Thế kỷ 21, gọi tắt là AT21CS (Assessment and Teaching of 21 Century Skills) tại Đại học Melbourne -Úc).

 

 

 

 

 

Publish: 1/21/2021 - Views: 123 - Lastest update: 1/21/2021 10:47:15 AM
Tin cùng chuyên mục