Email: email@ioer.edu.vn | vncsp@hnue.edu.vn
Nghiên cứu khoa học
Thông tin khoa học

MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ QUẢN LÝ CHUYÊN MÔN ĐỐI VỚI CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG NGOÀI CÔNG LẬP Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC

                                             Trương Thị Bích                 

                                 Viện Nghiên cứu Sư phạm – Trường ĐHSP Hà Nội

Tóm tắt. Trong suốt thời gian dài, giáo dục Việt Nam bao gồm cả giáo dục công lập và giáo dục ngoài công lập luôn song hành tồn tại. Trong bối cảnh đổi mới “căn bản và toàn diện giáo dục, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” thì giáo dục ngoài công lập càng có cơ hội phát triển và khẳng định vị thế của mình bên cạnh giáo dục công lập, nhất là ở các thành phố lớn, các trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa trọng điểm của cả nước. Bài báo này đề cập đến một số giải pháp về quản lý chuyên môn đối với các trường phổ thông ngoài công lập tại thành phố Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục. Đó là các giải pháp về quản lý đổi mới công tác tuyển sinh, quản lý phát triển chương trình nhà trường, quản lý đổi mới phương pháp dạy học, quản lý chất lượng giáo dục. Việc thực hiện đồng bộ các giải pháp về chuyên môn bên cạnh các giải pháp về cơ chế - chính sách, về tổ chức - nhân sự, về tài chính - cơ sở vật chất đã góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của các trường phổ thông ngoài công lập tại thành phố Hà Nội. Trong đó có không ít các trường đã tạo nên thương hiệu với các chương trình giáo dục tiên tiến, hiện đại, các phương pháp dạy học tích cực, trở thành tấm gương điển hình, thu hút đông đảo phụ huynh và học sinh trên địa bàn Thủ đô.

Từ khóa.  Trường phổ thông ngoài công lập, giải pháp về quản lý chuyên môn, quản lý công tác tuyển sinh, quản lý phát triển chương trình nhà trường, quản lý phương pháp dạy học, quản lý chất lượng giáo dục.

1. Mở đầu

Trường ngoài công lập (Non-goverment schools) (NCL) là các trường không được nhà nước đỡ đầu. Loại hình trường này luôn song hành cùng trường công lập và có vai trò quan trọng trong nền giáo dục. Nó góp phần hỗ trợ cho giáo dục công lập, đáp ứng các nhu cầu khác nhau của xã hội, chia sẻ gánh nặng đầu tư của nhà nước [1]. Nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã chứng minh điều này và đồng thời cũng đã chia sẻ những kinh nghiệm quý về các giải pháp phát triển các trường ngoài công lập [2],[3],[4],[5],[6],[7]. Một số công trình nghiên cứu đã đi sâu vào các phương diện quản lý nhà nước và quản trị nhà trường, đưa ra các giải pháp cụ thể trên từng phương diện quản lý như: Một số vấn đề trong công tác tổ chức quản lý các trường phổ thông bán công [8], Xu hướng phát triển giáo dục phổ thông NCL trên thế giới [4], Tác động của quy luật kinh tế thị trường đối với sự ra đời và phát triển trường ngoài công lập [9]. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu tính đến thời điểm hiện tại nhiều nội dung đã không còn phù hợp, đặc biệt là trước công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục ở nước ta hiện nay.

Hà Nội là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị lớn của cả nước. Hiện tại, với loại hình trường NCL, thành phố có 40 trường tiểu học, 20 trường THCS và 92 trường THPT. Riêng THPT, năm 2013 có hơn 20 nghìn học sinh vào lớp 10 NCL (trường công lập là 50 nghìn). Giáo dục phổ thông NCL đang đóng vai trò quan trọng trong giáo dục của TP. Hà Nội. Tuy nhiên, hệ thống này cũng đang gặp nhiều vấn đề cần giải quyết, trong đó có vấn đề về quản lý nhà nước [10].

Từ tình hình nghiên cứu cũng như thực trạng công tác quản lý chuyên môn của giáo dục phổ thông NCL tại Hà Nội, bài viết đã đưa ra các giải pháp quản lý nhà nước, trong đó có giải pháp về quản lý chuyên môn đối với các trường phổ thông NCL trong bối cảnh hội nhập quốc tế và đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới căn bản toàn diện ngành giáo dục có tính đến các yếu tố đảm bảo tính thực tiễn và tính khả thi.

2. Nội dung

2.1. Vài nét về thực trạng quản lý chuyên môn đối với các trường phổ thông ngoài công lập của TP. Hà Nội

Thực trạng quản lý chuyên môn đối với các trường phổ thông ngoài công lập của TP. Hà Nội được điều tra khảo sát ở 14 trường, trên địa bàn 5 quận: Quận Cầu Giấy, quận Hà Đông, quận Hai Bà Trưng, quận Thanh Xuân, huyện Phú Xuyên (Hà Tây cũ). Đối tượng khảo sát đa dạng: 41 CBQL (gồm cán bộ Sở GD và ĐT, cán bộ Phòng Giáo dục và Đào tạo, CBQL và giáo viên các trường phổ thông NCL); 512 giáo viên; 920 học sinh và 38 phụ huynh học sinh [10]. Các trường khảo sát được phân bố đều ở các vị trí địa lý: trường nội thành, trường ngoại thành, trường có cơ sở vật chất tốt, trường còn thiếu thốn về cơ sở vật chất,…

* Về công tác tuyển sinh

Theo ý kiến của cán bộ quản lý và giáo viên được khảo sát, chỉ tiêu tuyển sinh của các trường phổ thông dân lập, tư thục trên địa bàn TP. Hà Nội dựa vào các yếu tố: Tỉ lệ số học sinh được quy định vào trường công lập; Chỉ tiêu do cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục quy định; Kế hoạch đào tạo của nhà trường; Năng lực giáo dục của nhà trường. Kết quả khảo sát cho thấy, cán bộ quản lý cấp Sở, Phòng, Trường đều cho rằng, các trường NCL chủ yếu lựa chọn yếu tố "Dựa vào tỉ lệ số học sinh được quy định vào trường công lập" để xác định chỉ tiêu tuyển sinh trường phổ thông NCL. Kết quả phỏng vấn một số cán bộ quản lý cũng cho kết quả tương tự. Hầu hết đều cho rằng, trong cơ chế cạnh tranh hiện tại, trường phổ thông NCL trên địa bàn chỉ có thể tuyển sinh được sau khi trường phổ thông công lập đã tuyển đủ chỉ tiêu. Nếu trường công lập hút học sinh vào nhiều thì trường phổ thông NCL sẽ giảm cơ hội tuyển được đủ học sinh. Đây là một áp lực đối với các trường phổ thông NCL trên địa bàn Thủ đô.

Giống với đánh giá của cán bộ quản lý Trường, phần lớn giáo viên cho rằng chỉ tiêu tuyển sinh của nhà trường chủ yếu "Dựa vào kế hoạch đào tạo của nhà trường" (có 70,7 % giáo viên lựa chọn tiêu chí  này). Bên cạnh đó, tiêu chí "Dựa vào số lượng hồ sơ ứng tuyển" ít được giáo viên lựa chọn. Sở dĩ như vậy vì họ cho rằng việc tuyển sinh vào các trường dân lập, tư thục không phụ thuộc nhiều vào số lượng hồ sơ ứng tuyển của học sinh. Đó chưa phải là căn cứ quan trọng để quyết định chỉ tiêu tuyển sinh của các trường dân lập, tư thục.

Tuy nhiên, qua phỏng vấn một số cán bộ quản lý và giáo viên cũng như phụ huynh của một số trường phổ thông NCL, có thể rút ra các tiêu chí riêng cho các đối tượng trường khác nhau:

- Trường phổ thông NCL “có thương hiệu”: Đây là các trường có cơ sở vật chất tốt, có đội ngũ giáo viên mạnh, có tiêu chí hoạt động phù hợp với đa phần phụ huynh nên việc tuyển sinh dựa vào hai tiêu chí: Dựa vào chỉ tiêu do cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục quy định; Dựa vào kế hoạch đào tạo của nhà trường.

- Trường phổ thông NCL “hạng 2”: Là những trường còn thiếu thốn về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên chưa đủ mạnh, chưa tạo được thương hiệu nên việc tuyển sinh còn rất khó khăn. Tiêu chí tuyển sinh thụ động (Dựa vào nhu cầu xã hội; Dựa vào số học sinh không đủ điều kiện vào các trường công lập, chất lượng đầu vào tương đối thấp). 

Khi được hỏi về chất lượng quy trình tuyển sinh, phần lớn cán bộ quản lý (60%) cho rằng chất lượng quy trình tuyển sinh của các trường phổ thông dân lập, tư thục trên địa bàn Hà Nội ở mức trung bình khá. Trong đó: “Quy trình ra thông báo tuyển sinh” được đánh giá ở mức tốt nhất. Điều này cho thấy ở các trường dân lập, tư thục việc thực hiện ra thông báo tuyển sinh được thực hiện tốt trong toàn bộ quy trình tuyển sinh. Sở dĩ như vậy vì đây giai đoạn đầu tiên, muốn thực hiện tốt quy trình tuyển sinh trước hết phải thực hiện tốt việc thông báo tuyển sinh rộng rãi đến các đối tượng.  “Sự công khai trong quá trình tuyển sinh” được đánh giá ở mức kém nhất, có 37,5% cán bộ quản lý đánh giá nội dung này ở mức yếu. Như vậy, có thể thấy ở khía cạnh nào đó việc công khai quá trình tuyển sinh ở các trường dân lập, tư thục chưa được thực hiện tốt.

* Về quản lý chương trình giáo dục

Kết quả khảo sát về quản lý chương trình giáo dục cho thấy tất cả các trường phổ thông NCL của TP. Hà Nội đều sử dụng chương trình thống nhất của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Một số trường vận dụng chủ động và linh hoạt việc thực hiện thí điểm phát triển chương trình nhà trường; tham gia tổ chức dạy học theo chủ đề, tăng hoặc giảm một số tiết học, bài học để phù hợp với mục tiêu chương trình cũng như trình độ học sinh NCL.

Tuy nhiên, qua phỏng vấn giáo viên, có một thực tế tại một số trường phổ thông NCL ở Hà Nội hiện nay là: Nhà trường có chủ trương cắt bớt số tiết dạy ở một số môn không thi tốt nghiệp (những năm trước là cả thi đại học) và tập trung, ưu tiên cho các môn chính, quan trọng, có tính chất quyết định trong các kì thi cuối cấp. Các môn thường bị cắt bớt tiết như: Giáo dục công dân, Thể dục, Âm nhạc, Sinh học. Các môn thường được tăng cường bồi dưỡng là: Toán, Vật lý, Hóa học, Tiếng Anh, Ngữ Văn. Hiện tượng này không xảy ra ở cấp tiểu học và ít xảy ra với cấp THCS. Giải thích nguyên nhân cho thực tế này, có thể là do áp lực thành tích, áp lực tài chính (trường có thành tích học sinh đỗ đạt cao hàng năm sẽ dần trở thành trường có thương hiệu, thu hút được lượng học sinh ngày càng đông).

*Về quản lý việc thực hiện công tác chuyên môn của giáo viên phổ thông NCL

Đại đa số ý kiến của cán bộ quản lý, giáo viên khi được hỏi đều cho rằng các trường phổ thông dân lập, tư thục ở Hà Nội, thường tổ chức đánh giá chuyên môn cho giáo viên dưới hình thức “sinh hoạt chuyên môn” và “dự  giờ”. Sở dĩ như vậy vì đây là hai hình thức phổ biến và được thực hiện thường xuyên ở các trường phổ thông nói chung.

 Giáo viên các trường phổ thông NCL thường sử dụng các phương pháp dạy học hiện đại. Sở dĩ như vậy là ở các trường phổ thông NCL, số lượng giáo viên trẻ tương đối cao; số giáo viên thỉnh giảng cũng chiếm tỉ lệ tương đối (số giáo viên này thuộc biên chế của các trường phổ thông công lập; hoặc là giảng viên từ các trường đại học). Vì vậy mà việc vận dụng các phương pháp giáo dục hiện đại vào giảng dạy đối với các thầy cô là không khó.

* Về quy trình kiểm tra, đánh giá

Các quy trình kiểm tra, đánh giá tại trường dân lập, tư thục ở Hà Nội được cán bộ quản lý và giáo viên đánh giá ở mức khá cao, đặc biệt là “hệ thống đánh giá nội bộ của trường (tự tiến hành đánh giá chương trình, kiểm toán,…)”. Như vậy, theo cán bộ quản lý và giáo viên thì hệ thống đánh giá nội bộ của trường được thực hiện ở mức tốt nhất. Điều đó nói lên rằng hiện nay, tại các trường dân lập, tư thục đã tổ chức việc đánh giá chương trình nhất là công tác tự đánh giá tình hình thu chi tài chính,... trong hoạt động nội bộ của họ ở mức khá cao.

Tóm lại, thực trạng quản lý chuyên môn của các trường phổ thông dân lập, tư thục ở Hà Nội hiện nay đã có nhiều mặt khá tốt, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế trong công tác quản lý của nhà trường. Nhất là trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay, để thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới đạt mục tiêu đặt ra cần phải có những giải pháp hiệu quả trong công tác quản lý chuyên môn của nhà trường.

2.2. Một số giải pháp quản lý chuyên môn đối với trường ngoài công lập ở TP. Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục

2.2.1. Quản lý đổi mới công tác tuyển sinh vào lớp đầu cấp

Một vấn đề được đặt ra hiện nay là có sự cạnh tranh quyết liệt trong công tác tuyển sinh, đặc biệt  giữa các trường công lập và ngoài công lập. Bởi đây là vấn đề sống còn đối với nhà trường, nhất là các trường NCL. Tình trạng đó dẫn đến nhiều trường tuyển sinh vượt chỉ tiêu trong khi chưa đảm bảo được đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất. Giải pháp đề xuất nhằm giúp các trường NCL thuận lợi hơn trong công tác tuyển sinh. Công tác tuyển sinh được công khai minh bạch và cân đối giữa khối công lập và ngoài công lập.

a)    Về công tác truyền thông quảng bá

Các nhà trường cần đa dạng hóa các hình thức quảng bá, tư vấn tuyển sinh. Quảng bá, tư vấn là một trong những biện pháp nhằm đưa thông tin trực tiếp hay gián tiếp đến với đối tượng học sinh và những người có liên quan. Muốn vậy, việc quảng bá, tư vấn phải được thực hiện bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng và thường xuyên, qua việc tuyên truyền trên các kênh phát thanh, truyền hình; bằng các pa-nô, áp-phích và đặc biệt là đưa các thông tin trực tiếp đến các đối tượng qua việc tư vấn qua điện thoại, tư vấn qua email. Bởi vì qua các phương tiện thông tin có lúc chưa truyền tải hết tất cả những thông tin chi tiết đối với công tác giáo dục và các thông tin liên quan. Hơn nữa, đối tượng học sinh và những người liên quan khác, đôi lúc muốn hiểu thêm các vấn đề về giáo dục thì phải có cán bộ tuyển sinh giải thích trực tiếp mới phát huy hiệu quả.

Nhà trường cần thông qua các hoạt động như tiếp thị đến từng gia đình bằng nhiều kênh thông tin khác nhau, không ngừng quảng bá giới thiệu về trường, về chương trình giáo dục; tìm hiểu thông tin về các trường trong hệ thống giáo dục trên địa bàn để có kế hoạch tiếp thị; Tăng cường hợp tác giao lưu, tổ chức hội thảo để quảng bá về nhà trường, quan hệ tốt với các doanh nghiệp, cộng đồng dân cư nhằm nắm bắt được nhu cầu, xu hướng giáo dục của cộng đồng và xã hội.

Hoàn thiện quản lý nhà nước về tuyển sinh cũng là giải pháp để các trường tự chủ tuyển sinh được người học phù hợp và có số lượng phù hợp với năng lực giáo dục. Cơ quan quản lý nhà nước cần giao toàn bộ công tác tuyển sinh, từ khâu ra đề cho tới xét tuyển cho các trường. Điều này cũng phù hợp với quy định của Luật Giáo dục. Để đảm bảo chất lượng và công bằng, Nhà nước quy định các tiêu chuẩn đầu vào cơ bản và tối thiểu. Các trường được quyết định các điều kiện tuyển bổ sung về trình độ, kỹ năng, thể lực hay năng khiếu, hình thức tuyển. Điều này giúp các trường thuận lợi hơn khi thực hiện nhiệm vụ giáo dục sau này.

Đổi mới cách thức giao chỉ tiêu tuyển sinh: UBND thành phố Hà Nội cần giao cho các trường quyền quyết định chỉ tiêu tuyển dựa trên tín hiệu nhu cầu của cộng đồng dân cư và hệ thống đảm bảo chất lượng với các tiêu chí chung do Bộ và Sở GD&ĐT Hà Nội quy định. Thay vì giao chỉ tiêu theo kế hoạch tập trung như hiện nay, Sở GD và ĐT nên cân nhắc giao cho các trường chủ động xác định chỉ tiêu tuyển sinh phù hợp với khả năng đào tạo, nghiên cứu, trang thiết bị, khả năng tài chính của mình và nhu cầu xã hội. Trong trường hợp sử dụng phương thức xét tuyển, các cơ quan quản lý nhà nước cần xây dựng và ban hành khung xét tuyển để căn cứ cho các trường chủ động xây dựng phương án tuyển sinh và thông báo công khai để người học, người dân biết và giám sát.

b) Xây dựng đội ngũ làm công tác tuyển sinh

Đội ngũ tuyển sinh của các trường phổ thông NCL của Hà Nội đóng vai trò rất quan trọng, vì thế cần xây dựng đội ngũ này gồm những đối tượng sau:

- Bộ phận chuyên trách làm công tác tuyển sinh: Bộ phận chuyên trách tuyển sinh đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả và chất lượng công tác tuyển sinh của nhà trường. Bộ phận này sẽ xây dựng và triển khai kế hoạch quảng bá, tư vấn tuyển sinh và hoạt động suốt năm học.

- Bộ phận cán bộ, giáo viên: Công tác tuyển sinh là hoạt động của toàn trường, mọi thành viên trong trường phải có trách nhiệm tham gia, để thực hiện được điều này mỗi cán bộ, viên chức trước hết cần phải nhận thức rằng công việc tham gia tuyển sinh của họ có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của nhà trường vì không có học sinh đồng nghĩa với việc trường sẽ không hoạt động được. Để thực hiện được điều này, nhà trường phải có những biện pháp động viên khích lệ, chẳng hạn như giao khoán mức thưởng trên mỗi hồ sơ khi học sinh do cán bộ, giáo viên vận động đã vào học hoặc khen thưởng kịp thời trong các ngày lễ, các dịp tổng kết,... nhằm tạo nên một không khí thi đua, phấn đấu trong mỗi cán bộ, viên chức trong hoạt động tuyển sinh.

- Bộ phận học sinh, cựu học sinh, phụ huynh học sinh, cộng đồng: Huy động lực lượng này tham gia công tác tuyển sinh qua việc động viên các thành phần tích cực quảng bá các chương trình giáo dục và chất lượng giáo dục của nhà trường đến người thân, bạn bè đồng thời có chế độ khen thưởng khi vận động được nhiều người vào học ở trường.

Như vậy, công tác tuyển sinh là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của nhà trường. Để công tác tuyển sinh thật sự có hiệu quả và chất lượng, nhà trường cần phải kết hợp và sử dụng rất nhiều biện pháp để công tác tuyển sinh ngày càng tốt hơn. Các trường cần có cơ chế để tự xây dựng chỉ tiêu tuyển sinh. Tăng cường hợp tác giao lưu, tổ chức hội thảo để quảng bá về nhà trường. Mặt khác, các trường cũng cần có kế hoạch cải tiến chất lượng dạy và học thông qua xây dựng uy tín và thương hiệu của bản thân nhà trường; kết nối và mở rộng các chương trình liên kết.

Đối với cấp quản lý vĩ mô, việc hoàn thiện quản lý nhà nước về tuyển sinh cũng là giải pháp để các trường tự chủ tuyển sinh được người học phù hợp và có số lượng phù hợp với năng lực giáo dục. Nhà nước hoàn thiện cơ chế, giao cho các trường quyền quyết định chỉ tiêu tuyển dựa trên tín hiệu nhu cầu của cộng đồng dân cư và hệ thống đảm bảo chất lượng với các tiêu chí chung do Bộ và Sở GD&ĐT quy định.

2.2.2. Quản lý phát triển chương trình giáo dục nhà trường

Giải pháp nhằm cụ thể hóa chương trình giáo dục quốc gia, làm cho chương trình giáo dục quốc gia phù hợp ở mức cao nhất với thực tiễn cơ sở giáo dục; đổi mới phương pháp dạy học nhằm tăng cường tính tích cực của học sinh trong dạy - học, đáp ứng định hướng phát triển năng lực thực hiện của người học. Vậy nên, việc quản lý phát triển chương trình giáo dục nhà trường cần được thực hiện như sau:

a) Thứ nhất, nâng cao nhận thức của đội ngũ giáo viên nhà trường về phát triển chương trình nhà trường thông qua các hoạt động dạy học, giáo dục; lồng ghép nội dung phát triển chương trình nhà trường vào trong hoạt động sinh hoạt chuyên môn của tổ bộ môn; tổ chức các buổi seminar theo chủ đề liên quan đến phát triển chương trình nhà trường.

b) Thứ  hai, tổ chức các khóa học bồi dưỡng, tập huấn về phát triển chương trình nhà trường

Thực hiện rà soát năng lực của giáo viên nhằm tổ chức các khóa học bồi dưỡng, tập huấn cho giáo viên giúp họ có được một hệ thống kiến thức cơ bản về phát triển chương trình nhà trường; giúp đỡ, bồi dưỡng, hỗ trợ cho giáo viên có đủ năng lực để tham gia vào quá trình phát triển chương trình nhà trường cũng như sẽ trực tiếp hiện thực hóa chương trình đó vào thực tiễn.

c) Thứ ba, khuyến khích giáo viên nghiên cứu về các vấn đề phát triển chương trình nhà trường

Khuyến khích, giúp đỡ, hỗ trợ giáo viên hoặc một nhóm giáo viên thực hiện các nghiên cứu các vấn đề nảy sinh hoặc liên quan đến phát triển chương trình nhà trường trong quá trình thực hiện hoạt động này.

d) Thứ tư, đổi mới sinh hoạt chuyên môn

Hiệu trưởng/cán bộ quản  phụ trách chuyên môn cần tập trung đổi mới sinh hoạt chuyên môn của tổ bộ môn thông qua nghiên cứu bài học, tăng cường các hoạt động dự giờ, thảo luận, rút kinh nghiệm về giáo án, tiết giảng của giáo viên.

e) Thứ năm, thực hiện các hoạt động giao lưu, chia sẻ về kinh nghiệm phát triển chương trình nhà trường

Tăng cường hoạt động giao lưu, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm về phát triển chương trình nhà trường với các cơ sở giáo dục tham gia thí điểm, với các cơ sở giáo dục không tham gia thí điểm thông qua hình thức hội thảo, hội nghị, tham quan học tập,…

f) Thứ sáu, đổi mới kiểm tra, đánh giá các hoạt động phát triển chương trình nhà trường

Thực hiện kiểm tra, đánh giá thường xuyên những điều chỉnh cấu trúc nội dung dạy học, đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục, kiểm tra, đánh giá học sinh, tập hợp những thông tin đó để làm cơ sở điều chỉnh kịp thời nhằm hoàn thiện chương trình nhà trường trước khi áp dụng tiếp cho những khóa tiếp sau.

g) Thứ bảy, đảm bảo điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học

Lập kế hoạch đầu tư hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học đảm bảo điều kiện giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh. Bên cạnh đó, cán bộ quản lý phụ trách chuyên môn cần lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo việc phối hợp giữa nhà trường với phụ huynh học sinh, cộng đồng xã hội hóa việc đầu tư cho nhà trường nhằm tận dụng tối đa các nguồn lực từ bên ngoài cộng đồng và xã hội.

h) Thứ tám, phối hợp với các cơ quan chức năng hoàn thiện các văn bản về phát triển chương trình nhà trường

Thực hiện phối hợp với cơ quan chủ quản, các cơ quan chức năng về quản lý giáo dục tiếp tục hoàn thiện những quy định hoặc quy chế cho giáo viên tham gia thí điểm để giáo viên có được sự động viên khuyến khích nhiều hơn.

2.2.3. Quản lý đổi mới phương pháp dạy học

Giải pháp quản lý đổi mới phương pháp dạy học nhằm các mục đích sau:

- Tạo điều kiện cho học sinh được tham gia nhiều hoạt động ngoại khoá: dã ngoại, giao lưu, các phong trào thi đua,…; phát huy tốt năng khiếu của từng học sinh qua công tác giáo dục thể chất, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục kỹ thuật hướng nghiệp dạy nghề phổ thông.

- Sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động học tập của học sinh như: dạy học dự án, dạy học giải quyết vấn đề, ... Việc tăng cường vận dụng các PPDH tiên tiến nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh là chủ thể nhận thức các nội dung học tập.

Vậy nên việc quản lý đổi mới phương pháp dạy học, các nhà trường phổ thông NCL cần:

a) Chỉ đạo đổi mới có hiệu quả chương trình, nội dung và phương pháp dạy học,  theo xu thế dạy học hiện đại

Yêu cầu hoạt động giáo dục ở trường phổ thông NCL luôn đòi hỏi phải có nội dung chương trình, phương pháp dạy học phù hợp đáp ứng yêu cầu giáo dục chất lượng cao. Do vậy, việc thực hiện chương trình, nội dung, phương pháp dạy học và giáo dục luôn là sự quan tâm hàng đầu của trường. Chương trình, nội dung, phương pháp phải phù hợp với đặc điểm, yêu cầu của trường phổ thông NCL.

Thực hiện tốt nội dung chương trình giảng dạy của Bộ, Sở GD&ĐT. Đây là tiêu chí nhà trường phải thực hiện theo chương trình giáo dục thống nhất cả nước. Tuy nhiên, việc giảng dạy được cải tiến theo tiêu chí ứng dụng hiệu quả phương pháp giảng dạy hiện đại nhằm giúp học sinh tiếp thu nhanh, hiểu sâu, nhớ lâu, đồng thời phát huy tốt năng khiếu của từng học sinh.

Chú trọng chương trình giảng dạy nâng cao, giúp học sinh lĩnh hội kiến thức không chỉ cơ bản mà đòi hỏi kiến thức nâng cao của chương trình phổ thông theo từng bậc học.

- Về thực hiện nội dung, chương trình dạy học, cần nghiên cứu, chọn lọc các chương trình dạy học để áp dụng, trên cơ sở phù hợp với tình hình đặc điểm của từng địa bàn.

- Về phương pháp dạy học, phải thực hiện có hiệu quả phương pháp dạy học tiên tiến. Song song với việc tích cực khai thác các thiết bị dạy học hiện đại, phương pháp dạy học được đổi mới theo yêu cầu.

Thực hiện đổi mới phương pháp dạy học cần đảm bảo: Học sinh phải biết tự học, tự khám phá kiến thức, biết sử dụng sách giáo khoa, sách tham khảo, tài liệu,… ở thư viện, khai thác các phần mềm ứng dụng vào học tập. Học sinh biết phản hồi tích cực, rút được kiến thức cho mình sau mỗi buổi học; phải có phương pháp tự học phù hợp, hiệu quả, phấn đấu đạt yêu cầu ở cả 6 bậc: biết, hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp và đánh giá.

b) Phối hợp các hình thức tổ chức dạy học một các linh hoạt:

Trong dạy học ở trường phổ thông có nhiều hình thức tổ chức khác nhau như: dạy học cá nhân, dạy học theo nhóm, dạy học theo lớp, dạy học ngoài trời, trò chơi học tập, tham quan, khảo sát địa phương, ngoại khoá,…

Việc thực hiện có hiệu quả chương trình, nội dung, PPDH, hình thức dạy học tiên tiến luôn là yêu cầu hàng đầu của phát triển trường PT chất lượng cao hiện nay, nhằm tạo ra các sản phẩm chất lượng cho xã hội.

2.2.4. Tăng cường quản lý chất lượng giáo dục trong các nhà trường phổ thông ngoài công lập tại Hà Nội

Giải pháp đưa ra nhằm khắc phục tình trạng buông lỏng trong quản lí chất lượng, giúp cho các trường phổ thông NCL phát triển bền vững, khẳng định được thương hiệu và trở thành địa chỉ tin cậy của phụ huynh và học sinh.

a) Thứ nhất, nhà trường cần tuân theo các bước để thực hiện đảm bảo chất lượng là:          

- Xây dựng được mục tiêu, nhiệm vụ từng năm học theo các tiêu chuẩn, phương hướng, nhiệm vụ từng năm học của Bộ và Sở GD&ĐT để đề ra mục tiêu, nhiệm vụ cho trường mình.

- Xây dựng nội dung, chương trình, hình thức tổ chức học.

- Tổ chức học tập kinh nghiệm tiên tiến, vận dụng cải tiến liên tục hoạt động dạy và hoạt động học.

- Xây dựng tiêu chuẩn và tuyển sinh nghiêm túc.

- Tuyển chọn giáo viên đủ số lượng, chất lượng, dạy đủ các môn theo quy định.

- Mua sắm, bảo quản, sửa chữa cơ sở, phòng học, đồ dùng dạy học đảm bảo các điều kiện vệ sinh học đường cho học sinh.

- Xây dựng các tổ chức gọn nhẹ xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, lựa chọn đúng người đúng năng lực phụ trách.

- Xây dựng nề nếp, phối hợp hoạt động gắn các tổ chuyên môn, phòng ban thông suốt các thông tin quản lý hai chiều.

- Có kế hoạch vận động cán bộ quản lý và giáo viên của trường tham gia tìm hiểu về công tác giáo dục và phương hướng giáo dục của ngành giáo dục.

- Ban Giám hiệu cùng với Tổ trưởng chuyên môn và các bộ phận liên quan căn cứ chỉ đạo của Bộ và Sở GD & ĐT đề ra mục tiêu nhiêm vụ cho trường mình.

- Đặt ra những quy định khen thưởng và kỷ luật đối với việc thực hiện nội qui học tập.

- Ban Thi đua khen thưởng đặt ra những qui định khen thưởng và kỷ luật đối với việc thực hiện nội quy học tập, thống nhất về quy định học tập của học sinh, để làm căn cứ xây dựng nề nếp, ngăn ngừa những hành vi sai trái ; phối hợp với Đoàn Thanh niên, phòng giám thị tổ chức kiểm tra ở tất cả các lớp hàng ngày, từ đó đánh giá xếp loại thi đua theo từng đợt.

- Chỉ đạo giáo viên phân loại trình độ học sinh, bồi dưỡng học sinh giỏi, giúp đỡ học sinh yếu.

Ban Giám hiệu chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn kết hợp Tổ trưởng bộ môn phân loại để biết được số lượng học sinh giỏi, học sinh yếu ở các lớp để kịp thời có biện pháp, hình thức bồi dưỡng học sinh giỏi và phụ đạo học sinh yếu. Giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn thường xuyên theo dõi mức độ tiến bộ của học sinh yếu và trình độ được nâng cao của học sinh giỏi.

b) Thứ hai, chỉ đạo việc soạn giáo án và thông báo nội dung chi tiết từng môn học

Ban giám hiệu giao cho các tổ trưởng bộ môn soạn thảo chương trình chi tiết từng môn học. Sau đó chỉ đạo cho giáo viên bộ môn biên soạn giáo án và cùng với giáo viên chủ nhiệm tổ chức hướng dẫn các em cách thức học để lĩnh hội từng nội dung học tập; giúp học sinh biết rõ từng nội dung học tập theo từng môn, từng học kỳ.

- Động viên, giám sát, kiểm tra đánh giá việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên.

- Tổ chức lấy ý kiến giáo viên về tình hình đổi mới phương pháp, phương tiện dạy học, phân tích và đánh giá để tìm ra những ưu điểm và hạn chế.

- Chú trọng đến chính sách, kịp thời động viên, khuyến khích để tác động giáo viên thực hiện đổi mới phương pháp dạy học.

- Chỉ đạo việc hướng dẫn học sinh tìm được những phương pháp học tập thích hợp cho từng nội dung, từng bài học cụ thể.

Mỗi học kỳ, Ban giám hiệu phân công cho các tổ bộ môn tổ chức ít nhất một buổi trao đổi, giới thiệu và hướng dẫn phương pháp học tập tích cực và phù hợp với học sinh. Ban giám hiệu tăng cường chỉ đạo đảm bảo đầy đủ trang thiết bị, giáo trình, tài liệu phục vụ học tập cho học sinh.

c) Thứ ba, tăng cường quản lý các hình thức tổ chức, thời gian học tập của học sinh, nhất là hoạt động tự học

Chỉ đạo phương châm giờ nào việc nấy, chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm theo dõi mọi sinh hoạt học tập của học sinh ở trường cũng như tại nhà qua việc phối hợp với giáo viên bộ môn và cha mẹ học sinh.

Việc học tập của học sinh được diễn ra với nhiều hình thức, từ học chính quy trên lớp đến học ngoài giờ lên lớp, thực hành thí nghiệm tại trường, từ việc học với giáo viên và việc tự học được quy định tùy theo hình thức học tập. Trong từng hình thức, học sinh sẽ đạt được kết quả học tập của từng nội dung khác nhau, cách thức quản lý cho từng hình thức cũng có những đặc trưng riêng. Ngoài việc vạch kế hoạch quản lý rõ ràng cụ thể, BGH nên có những hình thức quản lý về cách tổ chức, chỉ đạo phân công và kiểm tra đánh giá lại các kết quả đạt được. Tùy vào mỗi hình thức học tập mà Ban giám hiệu nên chỉ đạo sự phối hợp giữa các chủ thể giáo dục trong nhà trường để quản lý hoạt động học tập của học sinh.

Xây dựng các nhóm học tập và các phong trào thi đua tại trường để kích thích tính chủ động, tích cực học tập của học sinh.

Xây dựng thời gian học tập chính khóa theo thời khóa biểu cụ thể, rõ ràng và ổn định. Có kế hoạch cụ thể về thời gian tự học và được theo dõi, quan tâm, giúp đỡ để từng bước học sinh làm chủ được thời gian, làm chủ được hoạt động học của mình.

d) Thứ tư, nâng cao chất lượng quản lý quá trình giảng dạy của giáo viên.

Lý luận và thực tiễn đã khẳng định thông qua dạy học, giáo viên không chỉ dạy cho học sinh kiến thức, kỹ năng mà còn hình thành cho các em phương pháp học, phương pháp hoạt động sáng tạo. Vì vậy muốn học sinh tự quản lý được các hoạt động học, giáo viên phải dạy cho học sinh các kỹ năng, phương pháp học thông qua dạy từng bài trong quá trình dạy học.

Mục đích của việc làm này là giáo viên tự quản lý hoạt động giảng dạy, nâng cao chất lượng quá trình dạy để dạy cách học, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tự học của từng học sinh.

3. Kết luận

Giáo dục phổ thông NCL tại Hà Nội hiện đã đáp ứng một phần nhu cầu học tập của nhân dân Thủ đô ngày càng tăng mạnh mà hệ thống trường công lập không đáp ứng kịp. Để phát triển loại hình trường này, bên cạnh các giải pháp quan trọng về quản lý nhà nước như giải pháp về tài chính – cơ sở vật chất, về tổ chức – nhân sự, về cơ chế - chính sách thì giải pháp về quản lý chuyên môn cũng đặc biệt quan trọng. Nếu như các giải pháp trên là những giải pháp điều kiện thì giải pháp về quản lý chuyên môn là giải pháp cốt lõi, trọng tâm. Một trường học có đội ngũ giáo viên giỏi, tâm huyết, trách nhiệm; lãnh đạo nhà trường biết chú trọng công tác tuyển sinh; quan tâm đến phát triển chương trình nhà trường sao cho phù hợp; tích cực trong đổi mới phương pháp dạy học và cập nhật những chương trình dạy học tiên tiến, hiện đại luôn là môi trường giáo dục chất lượng, hiệu quả, là địa chỉ tin cậy của đông đảo nhân dân trên địa bàn, góp phần quan trọng vào công cuộc đổi mới giáo dục của thành phố Hà Nội nói riêng, của đất nước nói chung.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.    Richard Aldrich, 2004, Public or Private education – lesson from history, Routledge Publications.

2.    Laurence Wolff, Juan Carlos Navarro, Pablo González, 2005, Private education and public policy in Latin America, Partiership forEducation Revitalization in the America (PREAL) publication.

3.    Han Minh, 2004, No-government/private education in China ,The National Centre of Educatin development Reasearch publications.

4.    Mạc Văn Trang, Đỗ Thị Bình, 2005. Xu hướng phát triển giáo dục phổ thông ngoài công lập trên thế giới, Tạp chí Giáo dục, số 115, tháng 6.

5.    Meeting the challenges of secondary education in Latin America and East Asia - Emanuala di Gropello - World Bank publications.

6.    The role of the private sector in education in Vietnam - Paul Glewwe. Harry Anthony Patrinos - World Bank publications. 1997.

7.    Trương Thị Bích. Kinh nghiệm quốc tế và những bài học cho Việt Nam về quản lý giáo dục Việt Nam ngoài công lập. Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP Hà Nội, ISSN 2354 – 1075, Volume 63, Issue 2A, 2018, tr. 214-223.

8.    Nguyễn Văn Đản, 1998. Một số vấn đề trong công tác tổ chức quản lý các trường phổ thông bán công. Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số tháng 5/1998, tr. 6-10.

9.    Phạm Tuấn Hùng, 2008. Tác động của quy luật kinh tế thị trường đối với sự ra đời và phát triển trường ngoài công lập. Tạp chí Khoa học Giáo dục, tháng 10 năm 2008.

10.    Trương Thị Bích. Các giải pháp quản lý nhà nước đối với các trường phổ thông dân lập, tư thục tại Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục. Đề tài NCKHGD Sở KH&CN TP. Hà Nội; mã số 0X1-12/01-2016-3.

ABSTRACT

Some solutions on professional management for non-public schools  in Hanoi city in the context of education innovation                                                            

                                                                                          Truong Thi Bich

           Institute for Education Research, Hanoi National University of Education

Vietnamese education, including both public and non-public, has always co-existed for a long time. In the context of renewing "basic and comprehensive education for meeting the requirements of industrialization and modernization in the conditions of a socialist-oriented market economy and international integration", there are more opportunities for non-public education to develop and assert their position beside public education, especially in big cities, the key economic - political - cultural centers of the country. This paper addresses some of the professional solutions for non-public schools in Hanoi in the context of educational innovation. These are solutions for management innovations on admissions, school-based curriculum development, teaching method, and educational quality.. The synchronous implementation of professional solutions in addition to the solutions on mechanism - policy, organization - personnel, finance - facilities which has contributed to improving the education quality of non-public schools in Hanoi. In which, many schools have created brands with advanced, modern education programs, positive teaching methods, and become a role model, attracting a huge number of parents and students in the capital city.

Keywords: Non-public high schools, solutions for professional management, admission management, school-based curriculum development management, teaching method management, education quality management.

Publish: 8/21/2020 - Views: 139 - Lastest update: 8/21/2020 3:00:04 PM
Tin cùng chuyên mục