Email: email@ioer.edu.vn | vncsp@hnue.edu.vn
Nghiên cứu khoa học
Thông tin khoa học

TRÍ TUỆ XÃ HỘI - KHÁI NIỆM, CẤU TRÚC VÀ CÁC BIỂU HIỆN

                                                                                                 Phan Trọng Ngọ

Viện Nghiên cứu Sư phạm, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Telephone: 0912353 678

Email: ngotamly@gmail.com

Tóm tắt. Bài báo đề cập tới các cách tiếp cận hiện có về trí tuệ xã hội, từ đó xác lập một cách hiểu đa diện hơn về trí tuệ xã hội, dựa trên cơ sở quan niệm bản chất của trí tuệ cá nhân không chỉ là những cấu trúc, năng lực liên quan tới hoạt động nhận thức, hiểu biết và tri thức, mà còn là năng lực "bản lĩnh", giúp cá nhân có những quyết định nhạy bén, thông minh, phù hợp trong những hoàn cảnh, tình huống khác nhau. Vì vậy, trí tuệ xã hội cần được hiểu là khả năng nhạy cảm, sắc bén, độc đáo và bản lĩnh, giúp cá nhân có các hành động sáng suốt và hiệu quả trong hoạt động xã hội, được biểu hiện qua các hoạt động nhận thức, thái độ và hành động thiết lập quan hệ xã hội, giao tiếp và ứng xử với người khác. Điều quan trọng, trí tuệ xã hội không phải là năng lực giúp cá nhân có ưu thế, thoả nãm lợi ích riêng của mình, mà là lực thúc đẩy sự tương tác, quan hệ giữa các cá nhân được tốt đẹp hơn, nhân bản và văn minh hơn.       

Từ khoá: Trí tuệ, trí tuệ xã hội, cấu trúc trí tuệ xã hội, các biểu hiện của trí tuệ xã hội

 

1. Mở đầu

             Năm 1920, Thorndike nhận xét: Trí tuệ xã hội là khả năng hành động khôn ngoan trong những giao tiếp xã hội, hiểu người hiểu ta, làm tốt liên hệ giữa người với nhau - Một khái niệm cần cho sự sống còn của xã hội nhưng không được bàn tới nhiều [1]. Gần trăm năm sau, vấn đề trí tuệ xã hội đã được bàn rất nhiều. Tuy nhiên hiện chưa thực sự thống nhất về quan niệm và cấu trúc, do có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Điều này dẫn đến hạn chế việc ứng dụng vào thực tiễn, mặc dù hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng, trí tuệ xã hội góp phần không nhỏ trong sự thành đạt của mỗi cá nhân. Bởi lẽ trí tuệ xã hội tham gia vào giải quyết có hiệu quả các quan hệ xã hội của mọi người trong cuộc sống và trong công việc [1], [2], [3],[4], [5], [6], [7], [8]  

             Ở Việt nam, trong đổi mới chương trình giáo dục phổ thông Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xác định mục tiêu phát triển các năng lực chung ở học sinh: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo [8]. Về lí thuyết cũng như trong thực tế, những năng lực trên đều ít nhiều liên quan trực tiếp tới trí tuệ xã hội, hoặc được phát triển dựa trên cơ sở năng lực này.

            Như vậy, chúng ta đang đứng trước mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển trí tuệ xã hội trong thực tiễn nói chung, trong giáo dục học sinh nói riêng với sự thiếu tường minh thiếu tính xác định của vấn đề này về lí luận. Bài viết này là một cố gắng nhằm góp phần làm sáng tỏ về khái niệm, cấu trúc và biểu hiện của trí tuệ xã hội, làm cơ sở cho việc xác định các giải pháp phát triển trí tuệ quan trọng này ở mỗi cá nhân.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Khái niệm trí tuệ xã hội   

2.1.1. Các cách tiếp cận hiện nay về trí tuệ xã hội  

            Từ khi xuất hiện định nghĩa đầu tiên đến nay, các nhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng trí tuệ xã hội là năng lực tâm lí giúp hành động của cá nhân trong các mối quan hệ xã hội trở lên thông minh, sáng suốt và hiệu quả. Tuy nhiên, do khác nhau trong cách tiếp cận về "mối quan hệ xã hội" và hành động của cá nhân, nên giữa các nhà nghiên cứu có sự khác nhau về phạm vi xã hội và hành động xã hội của cá nhân. Khái quát lại, có ba cách tiếp cận: (i) Tiếp cận truyền thống, chuyển dịch quan niệm về trí tuệ nói chung sang trí tuệ xã hội, dựa trên sự phân định các lĩnh vực hoạt động của con người và mở rộng phạm vi hoạt động xã hội. Ngay từ khi khởi xướng nghiên cứu về trí tuệ xã hội, Thorndike đã cho rằng, trí tuệ xã hội là một trong ba thành phần của trí tuệ cá nhân: Trí tuệ trừu tượng (Abstract Intelligence), là năng lực hiểu và quản lí các suy nghĩ, ý tưởng; Trí tuệ cơ học (Mechanical Intelligence), hiểu và quản lí thế giới đồ vật và Trí tuệ xã hội (Social Intelligence), năng lực hiểu và quản lí con người trong quan hệ xã hội [1]. Phát triển quan niệm của Thorndile, nhiều nhà nhà tâm lí học sau này đã mở rộng trí tuệ xã hội như là năng lực trí tuệ nói chung được triển khai trong việc giải quyết các vấn đề, các tình huống nảy sinh trong thực tiễn - Trí tuệ thực tiễn [2], [9], [10], [11],[5]. (ii) Tiếp cận tương tác giữa người với người. Nhiều nhà nghiên cứu giới hạn trí tuệ xã hội vào phạm vi hẹp hơn so với hoạt động thực tiễn nói chung, vào việc thiết lập các quan hệ xã hội, giao tiếp và ứng xử giữa các cá nhân trong cuộc sống. Ở đây, trí tuệ xã hội được hiểu là năng lực hành động thông minh, sáng suốt trong mối quan hệ giữa người với người. Albrecht cho rằng: “Trí tuệ xã hội chính là khả năng thiết lập, duy trì mối quan hệ tốt đẹp với người khác và khiến cho họ sẵn sàng hợp tác” [4].Trí tuệ xã hội là năng lực hiểu tâm tư sâu xa cũng như tâm trạng của người khác [3].Trí tuệ xã hội là khả năng giao tiếp một cách hoà hợp với mọi người xung quanh [8]. Trí tuệ xã hội là trí tuệ thấu cảm, đồng cảm, hoà hợp trong quan hệ, giao tiếp và ứng xử với người khác [5], [7]. Ngày nay, phổ biến quan niệm trí tuệ xã hội được giới hạn trong việc thiết lập các quan hệ xã hội, trong giao tiếp và ứng xử giữa các cá nhân. Tuy nhiên Goleman cũng đã cảnh báo: trí tuệ xã hội giúp cho việc thiết lập quan hệ xã hội trở lên khéo léo, sáng suốt và thông minh, nhưng không phải chỉ nhằm mang lại lợi ích cho một bên, mà phải giúp cho sự tương tác, các quan hệ xã hội, việc giao tiếp giữa các cá nhân được tốt đẹp hơn; mọi người trở lên thân thiện và gần gũi nhau hơn [7].

            Ngoài các quan niệm phổ biến trên, cũng cần lưu ý tới các nghiên cứu cơ sở sinh học - thần kinh của sự kết nối, sự tương tác giữa các cá nhân. Các nghiên cứu về sự hình thành và di truyền gen của các yếu tố thuộc về trí tuệ xã hội của cá nhân [12] ; Các nghiên cứu thực nghiệm của Sperry về chức năng và ưu thế của bán cầu não phải trong việc nhận dạng mô hình, diễn giải những cảm xúc và biểu thị phi ngôn ngữ; sự nhạy cảm trong việc nhận dạng sự thay đổi nhận thức cũng như cảm xúc của người khác trong giao tiếp [13]. Các nghiên cứu sự khác biệt về giới trong trí tuệ xã hội liên quan tới số lượng tiểu khu có chức năng đánh giá hành vi của người khác ở nữ giới và nam [14]. Trong tài liệu Social Intelligence, Goleman đã phân tích cơ sở não - thần kinh của trí tuệ xã hội và đã khẳng định bộ não của con người có tính xã hội, có khả năng kết nối thần kinh giữa người này với người khác khi tiếp xúc với nhau, dẫn đến sự kết nối tâm lí. Các yếu tố cốt lõi của trí tuệ xã hội như thấu cảm, sự hoà điệu v.v trong trí tuệ xã hội đều là sự phối hợp các kết nối thần kinh theo con đường thấp (vùng dưới vỏ) và đường cao (vùng vỏ não), thông qua sự điều phối của hạch hạnh nhân. Goleman cho rằng, việc nghiên cứu các cơ sở não - thần kinh của trí tuệ xã hội mở ra một môn khoa học mới về mối quan hệ của con người [7]

            Như vậy, việc tổng quan (tuy có còn khái lược), các cách tiếp cận về trí tuệ xã hội đã bộc lộ tính phức tạp của vấn đề. Do đó, để có một định nghĩa tường minh về trí tuệ xã hội, cần làm rõ hơn vấn đề trí tuệ trong hoạt động xã hội.

2.1.2. Những vấn đề đặt ra qua các định nghĩa hiện nay về trí tuệ xã hội 

            Đã có rất nhiều định nghĩa về trí tuệ xã hội [2], [2], [3], [5], [11], [15]. Điểm chung giữa các định nghĩa là đều xuất phát từ khái niệm trí tuệ để vận dụng vào lĩnh vực xã hội của cá nhân; vào các hành động thiết lập quan hệ, giao tiếp, ứng xử với người khác; vào hành động với các yếu tố của môi trường xã hội, mà cá nhân sống và tương tác. Điểm khác nhau là do quan niệm về trí tuệ và việc vận dụng vào lĩnh vực xã hội của các nhà nghiên cứu. Điều này làm giảm tính xác định và sự thống nhất về khái niệm này.

            Trong tâm lí học, trí tuệ được nghiên cứu từ lâu và rất phổ biến. Tuy nhiên, hầu hết trong số đó chủ yếu nghiên cứu mặt nhận thức, hiểu biết và tri thức của trí tuệ [16]. Các nghiên cứu mẫu mực về đo lường trí tuệ cũng chủ yếu hướng đến năng lực nhận thức và sáng tạo ý tưởng của cá nhân [17], [6]. Piaget, người được đánh giá là nghiên cứu sâu sắc, đầy đủ, chi tiết về sự phát triển trí tuệ của trẻ em, cũng chủ yếu mô tả tiến trình hình thành và phát triển các thao tác trí tuệ logic- toán, từ các phản xạ có tính sinh học đến các thao tác logic hình thức [18]. Gardner, người được tôn vinh là nhà cách mạng trong nghiên cứu trí tuệ, khi xây dựng lí thuyết về nhiều dạng trí tuệ (The Theory of multiple intelligence), cũng chủ yếu phân tích năng lực nhận thức, kĩ năng và cơ sở thần kinh trong các lĩnh vực khác nhau của mỗi cá nhân [5]. Hầu như chưa có nhà nghiên cứu nào quan tâm tới mặt động lực, mặt bản lĩnh của trí tuệ.

            Thực ra, trí tuệ cần được hiểu theo nghĩa rộng hơn so với các quan niệm hiện có trong tâm lí học. Điều này được thể hiện qua ba điểm sau:

     Trước hết, cần phân biệt hoạt động của cá nhân với trí tuệ trong hoạt động đó.

            Xét tổng quát, đời sống tâm lí của cá nhân được thực hiện qua ba lĩnh vực tương tác chồng lấn lên nhau: Hoạt động nhận thức- thái độ (cảm xúc) và hành động (kĩ năng), được thực hiện bởi các tổ chức, các cấu trúc tâm lí - sinh lí tương ứng, gọi là các cấu trúc "thực thể" (các cấu trúc hoạt động tri giác, tư duy, cảm xúc, với các giác quan, hệ thần kinh, hệ nội tiết, hệ vận động v.v.). Trí tuệ không phải là bản thân các hoạt động đó; cũng không phải là cấu trúc "thực thể" tâm lí cứng chắc, giống cấu trúc hoạt động tri giác, tư duy, cảm xúc hay hành động. Trí tuệ là một "cấu trúc chức năng cơ động", một "cấu trúc tâm lí bậc cao", tham gia vào hoạt động, giúp cho việc tăng cường về tốc độ, mức độ triển khai hoạt động và thành quả của nó cũng như kiểm soát hoặc chấm dứt hoạt động đó.   

     Thứ hai: Trí tuệ trong hoạt động có chức năng lực thúc đẩy hoặc kìm hãm hoạt động của cá nhân  

            Mọi hoạt động của cá nhân như nhận thức- lí luận, thực nghiệm khoa học, hành động ngôn ngữ; hoạt động âm nhạc, hội hoạ, thể thao, giao tiếp hay hành động khám phá bản thân v.v, đều có các đối tượng cụ thể; với các cơ cấu kĩ thuật phù hợp và sản phẩm tương ứng. Trong khi đó, trí tuệ là "cấu trúc chức năng" không có cơ cấu kĩ thuật và sản phẩm riêng. Trí tuệ "hoà tan" trong các hoạt động cụ thể, có chức năng sản sinh ra các năng lực nhạy cảm, sắc bén, sáng suốt, độc đáo và bản lĩnh trong hoạt động. Do tác động của những năng lực này, các hoạt động hay hành động được thực hiện nhanh hơn, nhạy hơn, sắc bén hơn; các sản phẩm hoạt động được rõ ràng, đầy đủ, sâu sắc, độc đáo và kinh tế. Trí tuệ cũng thúc đẩy cá nhân kiểm soát tốt hơn hành động và có thể nhanh chóng quyết định chấm dứt hành động khi không có lợi (chẳng hạn, sự ngừng lại một phản ứng hay sự kiểm soát cảm xúc- trí tuệ cảm xúc v.v,). 

            Trong nghiên cứu cũng như trong thực tiễn, trí tuệ trong hoạt động rất dễ bị đồng nhất với chính hoạt động đó, đặc biệt là với nhận thức và kĩ năng triển khai hoạt động hay hành động, mặc dù, hoạt độngtrí tuệ trong hoạt động không phải là một hay hoàn toàn trùng khớp với nhau. Đối với một diễn viên xiếc, hành động (kĩ năng) tri giác và nhận thức về vận động của các bộ phận cơ thể, kĩ năng điều khiển các vận động đó theo kịch bản là những hành động trong hoạt động xiếc. Những hành động này có thể được hình thành qua học tập, rèn luyện và qua trải nghiệm thực tế. Còn tốc độ, mức độ của các hành động đó cũng như sự độc đáo của sản phẩm hành động phụ thuộc vào năng khiếu, trí tuệ cá nhân trong hoạt động đó.

 Thứ ba: Cơ sở sinh lí - thần kinh của hoạt động và của trí tuệ trong hoạt động    

            Cơ sở sinh lí-thần kinh của các hành động nhận thức hay kĩ năng là sự phối hợp hoạt động của các giác quan với các trung khu tương ứng trên vỏ não, còn cơ sở sinh lí- thần kinh của trí tuệ trong hoạt động là sự tương tác mạnh giữa các giác quan với các trung khu dưới vỏ, trung khu thuộc vỏ não và các hoocmon; là sự tương tác mạnh giữa "trường tâm lí" và "trường ý thức", mà trong đó hoạt động đang diễn ra.

            Việc phân định trí tuệ trong hoạt động với bản thân hoạt động, một mặt, giúp hiểu rõ hơn bản chất và chức năng của trí tuệ trong đời sống cá nhân; mặt khác làm sáng tỏ hơn cơ chế, con đường hình thành các hoạt động và phát triển trí tuệ trong các hoạt động, trong đó có trí tuệ xã hội.

2.1.3. Định nghĩa trí tuệ xã hội 

            Từ những phân tích các định nghĩa đã có về trí tuệ và trí tuệ xã hội, cho thấy ở mức khái quát nhất, trí tuệ xã hội là những năng lực nhạy cảm, sắc bén, độc đáo và bản lĩnh giúp cá nhân có các hành động sáng suốt và hiệu quả trong hoạt động xã hội. Tuy nhiên, hoạt động xã hội thực sự là lĩnh vực rộng lớn, từ những hoạt động rất ít quan hệ trực tiếp tới người khác như Điện tín viên hay Thủ thư, đến những công việc phải thường xuyên đối mặt với các quan hệ xã hội, giao tiếp và ứng xử với người khác như quản lí lãnh đạo doanh nghiệp, giáo viên v.v, Với những công việc ít tiếp xúc trực tiếp với người khác, trí tuệ xã hội có vai trò khác với các hoạt động đòi hỏi phải trực tiếp làm việc với người khác, phải thiết lập quan hệ tích cực, giao tiếp và ứng xử hiệu quả. Trong khi đó, cuộc sống của mỗi cá nhân đều phải sống trong các mối quan hệ nhất định, phải giao tiếp và ứng xử với với người khác. Vì vậy, trí tuệ xã hội có thể được hiểu theo nghĩa rộng, ứng với hoạt động xã hội nói chung và theo nghĩa hẹp, ứng việc thiết lập, duy trì các quan hệ, trong giao tiếp và ứng xử với người khác. Trên thực tiễn, quan niệm trí tuệ xã hội theo nghĩa hẹp ngày càng phổ biến và ưu thế. Theo đó, trí tuệ xã hội có thể được hiểu là những năng lực nhạy cảm, sắc bén, độc đáo và bản lĩnh của cá nhân trong các hành động thiết lập và duy trì các quan hệ xã hội, trong giao tiếp và ứng xử với người khác, giúp các hành động đó được sáng suốt và hiệu quả.

2.2. Cấu trúc trí tuệ xã hội 

2.2.1. Tổng quan một số mô hình cấu trúc trí tuệ xã hội 

            Đã có nhiều cấu trúc trí tuệ xã hội được xác lập dựa theo hoạt động xã hội, chủ yếu là hoạt động thiết lập các quan hệ xã hội, giao tiếp và ứng xử xã hội. Ngay từ năm 1920, Thorndike đã chia trí tuệ xã hội thành hai thành phần: Năng lực hiểu biết, kiểm soát người khác và hành vi khôn ngoan trong ứng xử với người khác. Vernon cho rằng, trí tuệ xã hội gồm các thành phần: Hiểu biết xã hội; nhạy cảm thông điệp từ người khác; hiểu người khác; chung sống với mọi người [2]. Marlowe đề xuất mô hình 5 lĩnh vực: Thái độ ủng hộ xã hội, thể hiện qua sự quan tâm tới người khác; Năng lực hoạt động xã hội thể hiện qua sự tương tác hiệu quả với người khác; sự đồng cảm thể hiện năng lực nhận biết cảm xúc, tâm trạng, động cơ của người khác; thể hiện cảm xúc, tâm trạng của bản thân; sự tự tin trong các tình huống xã hội [15]. Theo Albrecht trí tuệ xã hội có các thành phần: Nhận thức tình huống; thể hiện bản thân một cách ấn tượng; tạo sự tín nhiệm; giao tiếp hiệu quả; thấu cảm [4]. Trong tham vọng xây dựng khoa học mới về trí tuệ xã hội, Goleman đề xuất mô hình hai thành phần: Nhận thức xã hội và năng lực xã hội. Trong cả hai thành phần đều có những yếu tố mang tính trực giác (sự đồng cảm sơ khai hay sự đồng điệu) và những yếu tố thuộc phạm vi ý thức (ý thức xã hội, hành động quan tâm lo lắng).

            Nhìn chung, các mô hình trí tuệ xã hội chủ yếu dựa theo các thành phần của việc thiết lập quan hệ xã hội, giao tiếp và ứng xử với người khác; của việc thích ứng với môi trường xã hội thay đổi. Đồng thời nhấn mạnh các yếu tố nhận thức, hiểu biết, thấu cảm và năng lực hành động của cá nhân trong quan hệ, giao tiếp và ứng xử. Tuy nhiên, cũng trong các mô hình cấu trúc hiện có, các yếu tố về thái độ cá nhân trong các hành động xã hội ít được đề cập công khai, điều này có thể dẫn đến coi nhẹ các yếu tố này trong trí tuệ xã hội.

 2.2.2. Cấu trúc trí tuệ xã hội 

            Trí tuệ không phải là "cấu trúc thực thể", mà là cấu trúc chức năng cơ động; là những năng lực nhạy cảm, sắc bén, độc đáo và bản lĩnh của cá nhân trong các hành động cụ thể. Vì vậy, việc xác định cấu trúc của trí tuệ xã hội, một mặt phải thể hiện được các năng lực của trí tuệ xã hội, mặt khác cần dựa vào các thành phần của hành động (hoạt động). Trong trường hợp ở đây là các hành động thiết lập quan hệ xã hội, giao tiếp và ứng xử với người khác trong các tình huống. Theo đó, cấu trúc trí tuệ xã hội của cá nhân cần thể hiện các năng lực trí tuệ cá nhân trong nhận thức- thái độ và hành động thiết lập các quan hệ xã hội, hành động giao tiếp và ứng xử. Đồng thời, các năng lực trí tuệ cần bao hàm cả những năng lực được hình thành theo con đường thấp và theo con đường cao [7], tức là năng lực trí tuệ trực giácnăng lực trí tuệ ý thức. Những năng lực này được thể hiện trong các thành phần sau đây:     

(i) Năng lực nhận thức của cá nhân trong thiết lập quan hệ, giao tiếp và ứng xử với người khác:

            Nhận thức về người khác trong quan hệ, trong giao tiếp và ứng xử;

            Nhận thức về bản thân trong quan hệ, trong giao tiếp và ứng xử;

             Nhận  thức về hoàn cảnh giao tiếp và các quy định trong giao tiếp;

            Hiểu biết về cách thức và về kĩ năng quan hệ, giao tiếp và ứng xử;

            Nhận thức về vai trò quan hệ xã  hội trong cuộc sống cá nhân;

(ii) Năng lực thái độ của cá nhân trong thiết lập quan hệ, giao tiếp và ứng xử với người khác:

            Tôn trọng, đồng cảm với người khác;

            Thái độ đối với bản thân trong quan hệ, giao tiếp và ứng xử với người khác;

             Tôn trọng các quy định, các quy tắc văn hoá trong quan hệ, giao tiếp và ứng xử;

            Thái độ đối với hoạt động giao tiếp và ứng xử;

            Thái độ đối với việc phát triển các quan hệ xã hội trong cuộc sống

(iii) Năng lực hành động trong quan hệ, giao tiếp và ứng xử với người khác:

            Hành động nhận cảm trong quan hệ, giao tiếp và ứng xử với người khác;

            Tác động của bản thân đến đối tượng giao tiếp;

            Hành động hợp tác, khuyến khích đối tượng trong giao tiếp;

             Kiểm soát và điều chỉnh bản thân trong giao tiếp;

             Duy trì, phát triển các quan hệ xã hội.

            Như vậy, cấu trúc trí tuệ xã hội với tư cách là trí tuệ trong hoạt động thiết lập các quan hệ xã hội, trong hoạt động giao tiếp và ứng xử với người khác của cá nhân, có 3 nhóm năng lực tương ứng với 3 lĩnh vực hoạt động tâm lí (nhận thức- thái độ- hành động) ứng với các hoạt động nêu trên. Trong mỗi nhóm năng lực có các năng lực thành phần phù hợp với nội dung của các hành động và được biểu hiện qua hệ thống việc làm cụ thể.

            Ngoài các nhóm năng lực trên, trong trí tuệ xã hội cũng cần lưu ý đến động cơ,mục đích của cá nhân trong việc thiết lập quan hệ, hành động giao tiếp và ứng xử. Theo Goleman [7], trí tuệ xã hội không phải mang đến cho một cá nhân nào đó lợi thế trong giao tiếp hay sử dụng quan hệ, giao tiếp nhằm lợi ích cho riêng mình mà cần hướng đến quan hệ, giao tiếp thông minh, sáng suốt, theo nghĩa làm cho quan hệ, giao tiếp được tốt đẹp hơn, giúp cho cả hai bên đều tốt hơn, hạnh phúc hơn.    

2.3. Các biểu hiện của trí tuệ xã hội 

            Trí tuệ xã hội được biểu hiện qua các năng lực nhạy cảm, sắc bén, sáng suốt, độc đáo và bản lĩnh trong các hành động thiết lập quan hệ, hành động giao tiếp và ứng xử của cá nhân; giúp cá nhân đạt hiệu quả cao về nhận thức, thái độ và hành động trong các lĩnh vực đó. Cụ thể là trong các biểu hiện sau: 

 2.3.1. Các biểu hiện của trí tuệ cảm xúc về nhận thức của cá nhân trong hoạt động thiết lập quan hệ, hành động giao tiếp và ứng xử với người khác.

- Nhận thức về người khác trong thiết lập quan hệ, trong giao tiếp và ứng xử

Nhận ra sự thay đổi nét mặt, cử chỉ của người khác khi nói chuyện

Nhận ra cảm xúc của người khác do tác động của mình

Hiểu tính cách của người khác trong giao tiếp 

Hiểu ý muốn của người khác trong giao tiếp với mình   

Nhận ra sự thay đổi thái độ của người khác qua tín hiệu phản hồi trong giao tiếp 

- Nhận thức về bản thân trong trong thiết lập quan hệ, trong giao tiếp và ứng xử

Hiểu thói quen của mình trong giao tiếp

Hiểu địa vị, điều kiện của mình trong giao tiếp với người khác     

Hiểu ý muốn của mình trong quan hệ, giao tiếp

Nhận ra điểm mạnh, điểm yếu của mình trong quan hệ, giao tiếp

Hiểu cách điều chỉnh ý nghĩ, cảm xúc của mình theo diễn biến của tình huống

- Nhận thức về hoàn cảnh giao tiếp và các quy định trong giao tiếp

Hiểu tình huống diễn ra cuộc giao tiếp giữa mình với người khác 

Hiểu quy định về quan hệ giữa trẻ em với người lớn

 Hiểu quy định về ứng xử có văn hoá nơi công cộng (rạp chiếu phim, siêu thị v.v )   

Hiểu quy định về quan hệ với bạn cùng giới, bạn khác giới 

Nhận ra các mối quan hệ giữa các thành viên trong lớp và giữa các nhóm trong lớp  

 - Hiểu biết về cách thức và về kĩ năng giao tiếp hiệu quả

Hiểu cách gây ấn tượng với người khác trong giao tiếp 

Hiểu cách sử dụng ngôn ngữ, cử chỉ để thuyết phục người khác  

Hiểu cách lắng nghe, phản hồi lại với người khác trong giao tiếp

Hiểu các nguyên tắc trong giao tiếp với các đối tượng khác nhau     

Biết cách nhận ra các xung đột trong giao tiếp

- Nhận thức về vai trò của quan hệ xã hội trong cuộc sống cá nhân

Hiểu tầm quan trọng của quan hệ xã  hội trong đời sống của mình

Nhận ra các quan hệ xã hội tích cực, các quan hệ tiêu cực trong tập thể

Hiểu cách duy trì các quan hệ xã hội tích cực của mình trong cuộc sống

Hiểu cách ứng phó với sự thay đổi các quan hệ trong nhóm 

Hiểu cách khai thác các mối quan hệ xã hội vào việc phát triển bản thân 

2.3.2. Các biểu hiện của trí tuệ cảm xúc về thái độ của cá nhân trong hoạt động thiết lập quan hệ, hành động giao tiếp và ứng xử với người khác

- Tôn trọng, đồng cảm, thấu cảm với người khác

Tôn trọng cá tính của người khác trong quan hệ, giao tiếp 

Thấu cảm, đồng cảm với người khác trong giao tiếp

Nhạy bén với sự thay đổi tâm trạng của người khác trong giao tiếp

Chân thành, quan tâm, thân thiện với người khác trong quan hệ, giao tiếp 

Tinh thần hợp tác, gắn kết, chia sẻ trong quan hệ, giao tiếp 

-Đối với bản thân trong giao tiếp

Tin tưởng người khác, ngay cả khi mình bị đối xử không đúng trong quan hệ

Tự tin trong quan hệ, giao tiếp và ứng xử với mọi người

Tôn trọng bản thân trong giao tiếp và ứng xử với mọi người

Khiêm tốn, nhường nhịn người khác trong quan hệ, giao tiếp, ứng xử

Suy nghĩ theo hướng tích cực trong giao tiếp

- Tôn trọng các quy định, các quy tắc văn hoá trong quan hệ, giao tiếp

Tôn trọng hoàn cảnh riêng của mỗi người trong giao tiếp

Tôn trọng các quy định của nhóm, của tập thể trong giao tiếp

Tôn trọng các cam kết với bạn trong quan hệ, giao tiếp

Tôn trọng các quy tắc giao tiếp, ứng xử có văn hoá nơi công cộng 

Tôn trọng các quy định về ứng xử với người lớn trong giao tiếp   

- Thái độ đối với hoạt động giao tiếp

Quan tâm việc tạo ấn tượng tốt đối với người khác trong giao tiếp     

Quan tâm đến việc phối hợp với người khác, tạo sự hoà hợp trong giao tiếp   

Chú ý vào việc thuyết phục, gây ảnh hưởng đến người khác trong giao tiếp  

Sẵn sàng tiếp thu sự phản hồi, góp ý của người khác để điều chỉnh bản thân 

Chú ý vận dụng những kiến thức, kĩ năng để điều khiển quá trình giao tiếp  

- Thái độ đối với việc phát triển các quan hệ xã hội trong cuộc sống

Coi trọng việc duy trì các quan hệ tích cực của mình với mọi người

Nhu cầu thiết lập các quan hệ tốt đẹp với mọi người

Tôn trọng các quan hệ của các thành viên trong nhóm, trong tập thể 

Tích cực, chủ động hợp tác với người khác nhằm phát triển quan hệ xã hội   

Tinh thần trách nhiệm trong duy trì các quan hệ với người khác     

2.3.3. Các biểu hiện của trí tuệ cảm xúc về hành động của cá nhân trong hoạt động thiết lập quan hệ, hành động giao tiếp và ứng xử với người khác

-  Hành động nhạy cảm trong giao tiếp

Phát hiện những biểu hiện thoáng qua trên nét mặt người khác khi tiếp xúc

Nắm bắt nhanh các tín hiệu không lời của người khác

Đặt mình vào vị trí và tâm trạng của người khác khi tranh luận hay phản ứng

Sử dụng cử chỉ, ngôn ngữ để thể hiện sự đồng cảm của mình với người khác  

Sử dụng cử chỉ để thể hiện sự chăm chú lắng nghe người khác

- Tác động của bản thân đến đối tượng giao tiếp

Tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp bằng cử chỉ, ngôn ngữ và trang phục

Tác động đến người khác bằng hành vi và ngôn ngữ của mình

Truyền cảm xúc tích cực đến người khác bằng uy tín của mình

Lôi cuốn, hấp dẫn suy nghĩ và cảm xúc của người khác theo ý của mình 

Cảm hoá người khác bằng ngôn ngữ và bằng sức mạnh của bản thân

- Hành động hợp tác, khuyến khích đối tượng trong giao tiếp

Khơi gợi ở người khác các suy nghĩ, cảm xúc tích cực trong giao tiếp

Phối hợp điệu bộ, cử chỉ của mình với của người khác tạo ra sự hoà hợp

Phát hiện, kiểm soát các xung đột trong giao tiếp

Phối hợp với mọi người xử lí linh hoạt tình huống bất thường trong quan hệ    

Duy trì sự thấu hiểu và đồng cảm giữa các thành viên trong nhóm 

- Kiểm soát và điều chỉnh bản thân trong giao tiếp

Kiểm soát, duy trì sự cân bằng cảm xúc trong quá trình giao tiếp và ứng xử

Sử dụng cảm xúc của bản thân để tác động đến người khác

Làm chủ hành vi và ngôn ngữ của mình khi tiếp xúc với người lạ

Thể hiện thái độ và chính kiến của mình một cách mềm mỏng, nhẹ nhàng

Điều chỉnh hành vi và ngôn ngữ của mình phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp

- Duy trì, phát triển các quan hệ xã hội

Tập trung vào điểm chính trong quan hệ và giao tiếp, không cố chấp chi tiết nhỏ

Phát huy mọi khả năng của mình và của người khác để duy trì quan hệ tốt đẹp 

Tận dụng mọi cơ hội để gặp gỡ, duy trì các quan hệ tốt đẹp với bạn và người thân

Đấu tranh, bảo vệ quan hệ tích cực của mình với bạn, khi bị cấm đoán, ngăn cản

Khéo léo ứng xử với người khác để duy trì các quan hệ tốt đẹp trong cuộc sống

            Như vậy, các năng lực trí tuệ xã hội có thể được lượng hoá  qua 75 chỉ báo các việc làm cần thiết của cá nhân trong hoạt động xã hội nói chung, trong thiết lập quan hệ, hành động giao tiếp, ứng xử với người khác. Dựa vào các chỉ báo đó, nhà nghiên cứu có thể thiết kế công cụ đo lường trí tuệ xã hội của cá nhân.

3. Kết luận

            Trong đời sống, mỗi cá nhân luôn phải "tắm mình" trong hai hệ thống tương tác: Quan hệ, giao tiếp, ứng xử với người khác; tương tác với các đối tượng vật lí và với các đối tượng còn lại. Trong đó, quan hệ, giao tiếp, ứng xử với người khác có vai trò quyết định sự phát triển tâm lí, nhân cách; quyết định sự thành đạt và hạnh phúc của cá nhân. Việc thiết lập quan hệ xã hội, giao tiếp, ứng xử với người khác có thể được thực hiện theo bản năng, theo thói quen nhằm thích ứng với hoàn cảnh. Tuy nhiên, để làm chủ các quan hệ xã hội, làm chủ các hành vi giao tiếp và ứng xử, con người cần có sự tham gia của trí tuệ, tức là cần có trí tuệ xã hội, với nghĩa là khả năng nhạy cảm, sắc bén, độc đáo và bản lĩnh, giúp cá nhân có các hành động sáng suốt và hiệu quả trong hoạt động xã hội, được biểu hiện qua các hoạt động nhận thức, thái độ và hành động thiết lập quan hệ xã hội, giao tiếp và ứng xử với người khác; là sự kết hợp giữa hoạt động của các cấu trúc tâm - sinh lí bậc thấp với hoạt động của các cấu trúc tâm- sinh lí bậc cao của cá nhân. Trí tuệ xã hội không phải là năng lực tri tuệ nhằm mang lại cho cá nhân những ưu thế, những lợi ích riêng của cá nhân, trên cơ sở chi phối và tác động tiêu cực đến người khác, mà là năng lực thúc đẩy sự tương tác, việc thiết lập các quan hệ xã hội, giao tiếp giữa các cá nhân được tốt đẹp hơn; mọi người trở lên đồng cảm, thân thiện và gần gũi nhau hơn.     

 

 


TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Thorndike, E.L., (1920). Intelligence and it'use. Harpe's Magazine,140, 227-235.
  2. Vernon, P.E., (1933). Some characteristics of the good judge of personality. Jounal of Social Psychology, 4, 42-57.    
  3. O'Sullivan, M., Guilford,J.P., & deMille,R. (1965); Measurement of  Social intelligence. Report from the Psychological Laboratory, University of Southern California, No. 34.
  4. Albrecht, K., (2006), Social intelligence: the new science of success, Jossey- Bass, AWiley Imprint.
  5. Gardner, H.,(1983), Frames of mind: the theory of multiple intelligence, New York: Basic. 
  6. Sternberg, K.J., (2000), Handbook of intelligence, 2nd ed, Cambridge, U.K.: Cambridge University Press.
  7. Goleman D., (2006), Social Intelligence: The New Science of Human Relationships. Bantam.
  8. Tony Buzan (2016). Sức mạnh của trí tuệ xã hội. NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
  9. Welchsler, D., (1958). The measurement and appraisal of adult intelligence, 4th ed. Baltimore: Williams & Wilkins.
  10. Kihlstrom, J.F., & Cantor, N. (1987). Personality and Social intelligence, Prentice Hall College Div.
  11. Ford, M.E.,& Tisak, M.S., (1983), A further search for social intelligence. Journal of Educational Psychology, 75,196-206  
  12. Richard Dawkins, (1976). The Selfish gen. New York: Oxford University Press.
  13. Pink, D. H., (2008). Một tư duy hoàn toàn mới. NXB lao động- xã hội.
  14. Allan và Barbara (2011). Ngôn ngữ cơ thể. NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
  15. Marlowe, H.A.,(1986). Social intelligence: Evidence for multidimensionality and construst independence. Jounal of Education Psychology,78,52-58
  16. Phan Trọng Ngọ (Chủ biên, 2001). Tâm lí học trí tuệ. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
  17. Guilford, J.P, (1967),  Nature of  human intelligence. New York: McGraw - Hill
  18. Piaget, J. (1950). The Psychology of intelligence. (M. Percy & D. E. Berlyne, Trans). New York: Harcourt Brace

 

Bài báo là sản phẩm của đề tài Nghiên cứu trí tuệ xã hội của học sinh THCS đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới". Mã số: B 2019-SPH-07; Do PGS. TS Phan Trọng Ngọ là chủ nhiệm

 

ABSTRACT

Social intelligence - concept, structure and symbols

       Phan Trong Ngo

Institute for Educational Research, Hanoi National University of Education

 

The article addresses existing approaches to social intelligence, thereby establishing a more comprehensive understanding of social intelligence. The dominant perspective is that intelligence is not only the competence related to awareness and knowledge, but also the "bravery" capacity, helping individuals to make sharp, intelligent and appropriate decisions in different situations. Social intelligence needs to be understood as the ability to be sensitive, sharp, unique and brave, to help individuals take wise and effective actions in social activities, manifested through cognitive activities, attitudes and actions that establish social relationships, communication with others. Social intelligence is not an ability to help individuals have the advantage to satisfy their own interests, but rather to promote better interpersonal and human interaction and relationships.

Keywords:Intelligence, social intelligence, structure of social intelligence, manifestations of social intelligence

 

 

 

Publish: 9/7/2020 - Views: 477 - Lastest update: 9/7/2020 3:34:07 PM
Tin cùng chuyên mục