Email: email@ioer.edu.vn | vncsp@hnue.edu.vn
Nghiên cứu khoa học
Thông tin khoa học

KHUNG TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ TƯ DUY PHÊ PHÁN Ở HỌC SINH PHỔ THÔNG

Nguyễn Thị Kim Dung

Viện Nghiên cứu Sư phạm, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

 Tóm tắt: Các nghiên cứu cho thấy, tư duy phê phán trở thành một trong những năng lực quan trọng đối với mỗi cá nhân trong thế kỉ 21. Bài viết đi sâu phân tích tổng quan các nghiên cứu nước ngoài về tư duy phê phán, bao gồm: các quan niệm về tư duy phê phán, các tiêu chí đánh giá tư duy phê phán và trên cơ sở đó, tác giả đề xuất khung tiêu chí đánh giá tư duy phê phán ở học sinh phổ thông Việt Nam. Khung tiêu chí đánh giá tư duy phê phán bao gồm 5 thành tố cơ bản. Đó là: nhận dạng vấn đề, giải thích, phân tích, đánh giá và đưa ra kết luận. Bên cạnh đó còn có các thành tố về thái độ, phẩm chất trí tuệ như: tính tò mò, sự cởi mở, trung thực, công bằng, minh bạch, rõ ràng…

 Từ khóa: Tư duy phê phán, khung tiêu chí, tiêu chí, đánh giá, học sinh phổ thông.

 

1. Đặt vấn đề

Tư duy phê phán (TDPP) rất cần thiết để con người có thể đưa ra những quyết định, những hành động phù hợp. Nhất là trong xã hội hiện đại, khi con người luôn phải đối mặt với nhiều vấn đề gay cấn của cuộc sống, luôn phải xử lí nhiều nguồn thông tin đa dạng, phức tạp... thì TDPP càng trở nên quan trọng đối với mỗi cá nhân [1]. Olver & Utermohlen (1995) cho rằng do sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, khối lượng thông tin có sẵn hiện nay là vô kể. Người học cần những hướng dẫn để loại những thông tin sai lệch hoặc không đúng, không phải tiếp nhận chúng một cách thụ động. Người học “phát triển và vận dụng có hiệu quả các kỹ năng TDPP vào các nghiên cứu học thuật của mình, vào các vấn đề phức tạp mà họ phải đối mặt và vào các lựa chọn có phê phán mà họ sẽ buộc phải thực hiện do có sự bùng nổ thông tin và những biến đổi công nghệ nhanh chóng khác” [2, tr.1]. Còn Beyer luận chứng rằng để sống thành công trong xã hội hiện đại, mọi người phải có khả năng tư duy một cách có phê phán để đưa ra những quyết định có cơ sở về các công việc của bản thân và xã hội. Nếu người học học cách tư duy một cách có phê phán, thì họ có thể sử dụng tư duy tốt như là sách cẩm nang cho đời sống của mình, cũng như giúp họ phân loại những gì là chính xác và những gì không,và từ đó cho họ một nền tảng vững chắc, thực tế để giải quyết vấn đề hoặc xử lý sự việc [3].

Vì thế, TDPP được coi là quan trọng trong mọi lĩnh vực khoa học, ở mọi lứa tuổi và trong mọi hoạt động vì nó tạo điều kiện cho con người phân tích, đánh giá, giải thích, và xây dựng lại những suy nghĩ của mình, bằng cách đó làm giảm rủi ro vận dụng, hành động, hay suy nghĩ với một niềm tin sai lầm. TDPP sẽ làm rõ mục tiêu, khảo sát các giả định, nhận định về những giá trị tiềm ẩn bên trong, đánh giá các minh chứng, hoàn thành các hành động, và đánh giá các kết luận. TDPP nảy sinh khi chúng ta nhận định, đánh giá, quyết định, hay giải quyết một vấn đề; nói chung, khi chúng ta phải suy tính xem mình phải làm gì hay tin vào điều gì, và làm điều đó một cách có lập luận và có suy nghĩ dựa trên thực tế. Đọc, viết, nói và nghe đều có thể diễn ra một cách có tinh thần phê phán hoặc không. TDPP là điều cốt lõi để trở thành một người đọc có trình độ hay một người viết thực sự có đẳng cấp. Học sinh phát triển năng lực TDPP,  bởi vì các em học để phát triển và đánh giá kiến thức, làm rõ những khái niệm và ý tưởng, tìm kiếm các khả năng, quan tâm đến những phương pháp thay thế, giải quyết vấn đề và ra quyết định, phát triển lập luận và sử dụng các minh chứng chứng minh cho lập luận của mình. TDPP đòi hỏi HS suy nghĩ rộng và sâu hơn khi sử dụng các kĩ năng, hành vi và thái độ như lập luận, logich, trí tưởng tượng và sáng tạo trong tất cả các lĩnh vực học tập ở trường học và trong cuộc sống của chúng ở ngoài nhà trường.

Với vai trò và tầm quan trọng như thế nên TDPP đã trở thành nội dung nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới từ rất sớm và vẫn là chủ đề nóng hiện nay như Bloom 1956; Watson & Glaser, 1980; Modjeski & Michael, 1983;  Glaser, 1985; Primack, 1986; Wilson, 1988; Silverman & Smith, 2002; Giancarlo, Blohm & Urdan, 2004; Paul & Elder, 2005; Richard P. và Linda E., 2007; Yildirim &Ozkahraman, 2011; P. Griffin , 2012; Shu-Yuan Chao, et all, 2013; R. Rosnawati, Badrun Kartowagiran, Jailani,2015; Alfaro-LeFevre, R., 2016; ….Tuy nhiên cho đến nay, TDPP vẫn chưa có một quan niệm thống nhất. Các nhà nghiên cứu mô tả chúng theo nhiều quan điểm khác nhau. Khi đề cập đến TDPP, suy nghĩ đầu tiên xuất hiện trong đầu là J. Dewey [4], [5], [6]. Theo Gundogdu (2009), Dewey cho rằng TDPP là quá trình suy nghĩ tích cực, đánh giá cẩn thận dựa trên các bằng chứng và kết quả nhưng mang tính phản tỉnh và cởi mở cũng như có kiểm soát [4]. Các học giả khác (Paul & Elder, 2005; Giancarlo, Blohm & Urdan, 2004; Silverman & Smith, 2002; Scriven & Paul, 1996; Angelo, 1995; Rudinow & Barry, 1994; Wilson, 1988; Primack, 1986; Glaser, 1985 ; Modjeski & Michael, 1983) đã xem TDPP là quá trình rèn luyện trí tuệ của việc thao tác hóa khái niệm, vận dụng, phân tích, tổng hợp và đánh giá thông tin một cách tích cực, chủ động dựa trên các quan sát, kinh nghiệm, phản tỉnh, lập luận hoặc giao tiếp, như là sự hướng dẫn tới niềm tin và hành động [5, tr. 10].

Từ góc độ giáo dục, Bloom (1956) tuyên bố rằng quá trình TDPP bao gồm đánh giá các ý tưởng, giải pháp, lập luận và bằng chứng. Enni (2011) thì cho rằng "TDPP là tư duy phản tỉnh có suy luận tập trung vào việc quyết định cái gì nên tin hay làm gì." [7, tr. 190]., bao gồm các kỹ năng và thái độ TDPP Yildirim và Ozkahraman (2011) định nghĩa TDPP là quá trình tìm kiếm, thu thập, đánh giá phân tích, tổng hợp và khái niệm hóa thông tin như sự hướng dẫn để phát triển tư duy của một người dựa trên tự nhận thức và khả năng sử dụng thông tin này bằng cách bổ sung sự sáng tạo và chấp nhận rủi ro [8]. Richard P. và Linda E. (2007) cho rằng TDPP là quá trình phân tích và đánh giá tư duy nhằm cải thiện nó. TDPP bao gồm kiến thức về các thành tố cơ bản nhất trong tư duy (các yếu tố của tư duy) và các tiêu chuẩn trí tuệ cơ bản nhất cho tư duy (tiêu chuẩn trí tuệ phổ quát) [6].

Nói tóm lại, cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về TDPP. Các nhà nghiên cứu mô tả theo nhiều cách tiếp cận khác nhau với các nội hàm đa dạng thể hiện khái niệm về nhận thức, thái độ, quá trình và kĩ năng. Tuy nhiên, phần lớn các định nghĩa giải thích về TDPP đều nhấn mạnh tầm quan trọng của khả năng lập luận và sự rõ ràng. Cũng chính vì có nhiều quan niệm khác nhau nên khi đi sâu phân tích các thành tố, tiêu chí đánh giá TDPP cũng rất đa dạng. Do đó, việc xác định tháng đánh giá gặp nhiều khó khăn do thiếu một khung tiêu chí thống nhất. Bài viết sẽ đi sâu làm rõ các thành tố, tiêu chí đánh giá TDPP của các nghiên cứu nước ngoài và từ đó đề xuất khung tiêu chí đánh giá TDPP cho học sinh trung học Việt Nam.

 

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Các thành tố và tiêu chí đánh giá tư duy phê phán qua các công trình nghiên cứu

Liên quan đến việc phát triển một công cụ đo lường tư duy của con người, Treffinger (1986) chỉ ra rằng không có lý thuyết duy nhất, được chấp nhận thống nhất và cũng không có công cụ đánh giá nào được chấp nhận phổ biến, trong khi Starko (2004) nói rằng việc sử dụng một công cụ tư duy điển hình phụ thuộc vào nhu cầu và mục đích của nhà phát triển nó, và các lý thuyết và định nghĩa khác nhau về TDPP sẽ hỗ trợ các loại đánh giá khác nhau. Theo một số nhà phát triển công cụ đánh giá tư duy (Torrance, 1984; Watson-Glaser, 1980; Taylor & Getzels, 1975), tiêu chí chung để chọn đánh giá tư duy là: (1) Nó phải phù hợp với lý thuyết về tư duy; (2) Nó phải phù hợp với hành vi tư duy sáng tạo và phê phán trong thế giới thực; (3) nó phải đơn giản hóa khía cạnh khác của hành vi tư suy (4) nó phải hấp dẫn người trả lời; (5) nó phải được xây dựng để một người có thể phản hồi về kinh nghiệm của họ bất kể những gì có thể có; (6) nó phải mang lại dữ liệu đáng tin cậy cho các khía cạnh có ý nghĩa của suy nghĩ, và cuối cùng, (7) các tài liệu kiểm tra, đánh giá, hướng dẫn quản trị, giới hạn thời gian và thủ tục cho điểm phải được nêu rõ ràng và phù hợp [9]. Chính vì thế, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra những thành tố và tiêu chí đánh giá TDPP khác nhau dựa vào quan niệm cũng như nhu cầu, mục đích cụ thể của họ.

Năm 2001, Paul và Elder đã giới thiệu khung TDPP giúp học sinh nắm vững các chiều cạnh suy nghĩ của mình thông qua việc xác định các phần tư duy và đánh giá việc sử dụng các phần này. Khung này bao gồm ba yếu tố chính [5]:

-          Các yếu tố của lập luận, đó là: mục đích, câu hỏi, quan điểm, dữ liệu, suy luận, những đề xuất và sự thừa nhận;

-          Các tiêu chuẩn trí tuệ, đó là: rõ ràng, đúng đắn, chính xác, phù hợp, độ sâu, độ rộng, logic, ý nghĩa và thẳng thắn (không thiên vị);

-          Các đặc điểm trí tuệ, đó là: khiêm tốn, kiên định, đồng cảm, chính trực, kiên trì, tự tin và công bằng.

Mason (2008) cho thấy có ba thành tố quan trọng của TDPP, đó là (1) các kỹ năng lập luận phê phán (như khả năng đánh giá một lập luận đúng đắn); (2) các phẩm chất, cụ thể là: thái độ phê phán (hoài nghi, xu hướng đặt câu hỏi thăm dò) và cam kết bày tỏ những thái độ đó; định hướng đạo đức thúc đẩy TDPP; 3) kiến thức nền tảng trong các lĩnh vực cụ thể, như: khái niệm về TDPP (một điều kiện đủ và điều kiện cần thiết); kỷ luật, trong đó người ta có thể suy nghĩ chắc chắn [8].

Sau đó, Enni (2011) nói rằng có 12 tiêu chí về kỹ năng TDPP được tóm tắt trong năm giai đoạn như sau. 1. Làm rõ/phân loại nền tảng (làm rõ cơ bản): Giai đoạn này được chia thành ba tiêu chí: hình thành câu hỏi; phân tích những tranh luận; hỏi và trả lời câu hỏi. 2. Đưa ra lý do cho một quyết định (các căn cứ ra quyết định). Giai đoạn này được chia thành hai tiêu chí: Đánh giá độ tin cậy của các nguồn thông tin; quan sát và đánh giá các báo cáo về kết quả quan sát. 3. Tổng kết (suy luận). Giai đoạn này bao gồm ba tiêu chí: Đưa ra và đánh giá suy luận; đưa ra và đánh giá quy nạp; và đánh giá. 4. Làm rõ thêm (làm rõ nâng cao). Giai đoạn này được chia thành hai tiêu chí: Đưa ra định nghĩa và đánh giá định nghĩa; xác định các giả định. 5. Khẳng định và tích hợp (giả định và tích hợp). Giai đoạn này được chia thành hai tiêu chí: phỏng đoán và tích hợp [8].

Alfaro-LeFevre, R. (2016) đã đưa ra các tiêu chí TDPP của cá nhân. Đó là: tự tin; chân thật; giao tiếp hiệu quả; ham hiểu biết và tò mò; linh hoạt với từng ngữ cảnh; phản hồi và tự điều chỉnh; phân tích và hiểu biết sâu sắc; Logic và trực giác;  Tự tin và không nản lòng; Chân thật và liêm chính; trách nhiệm, cẩn thận và cận trọng; cởi mở và công bằng; nhạy cảm với sự đa dạng; sáng tạo, thực tế và thực tiễn; hiệu quả, dũng cảm, kiên nhẫn và bền bỉ; linh hoạt; định hướng cải tiến…[10].

Trong cuốn sách Tư duy Phê phán, Beyer lý giải tỉ mỉ những gì ông xem là các khía cạnh thiết yếu của TDPP [3]. Đó là:

(1) Các tâm thế: Những người TDPP đều hoài nghi, có óc cởi mở, đánh giá công minh, tôn trọng chứng cứ và lập luận, tôn trọng tính rõ ràng và chuẩn xác, xem xét các quan điểm khác nhau, và sẽ thay đổi các lập trường khi cơ sơ sở hành động buộc họ phải làm như vậy.

(2) Các tiêu chí: Để tư duy một cách phê phán, cần phải áp dụng các tiêu chí. Cần có những điều kiện, và những điều kiện đó phải đáp ứng cho điều gì được coi là có thể tin cậy. Cho dù người ta có thể luận chứng rằng mỗi lĩnh vực bộ môn có những tiêu chí khác nhau, thì vẫn có một số tiêu chí nào đó áp dụng cho tất cả các bộ môn. “… một khẳng định phải … được dựa trên các dữ liệu phù hợp và xác đáng; dựa trên các nguồn đáng tin cậy; chuẩn xác; không định kiến; tránh các ngụy luận logic; nhất quán về mặt logic và có cơ sở vững chắc.” (tr. 12).

(3)   Luận chứng: là một phát biểu hay một mệnh đề bảo vệ chứng cứ. TDPP bao hàm việc tìm hiểu, đánh giá và xây dựng các luận chứng.

(4)   Lập luận: năng lực rút ra một kết luận từ một hay nhiều tiền đề. Để làm điều đó đòi hỏi phải khảo sát các quan hệ lôgic của các phát biểu hay các dữ liệu.

(5)   Quan điểm: Cách chúng ta nhìn thế giới, định hình sự kiến tạo của mình về ý nghĩa. Trong quá trình nhận thức, những người TDPP xem xét các hiện tượng từ nhiều quan điểm khác nhau.

(6)   Các quy trình áp dụng các tiêu chí: Các kiểu hình tư duy khác đều sử dụng một quy trình chung. TDPP sử dụng nhiều quy trình. Các quy trình này bao gồm việc đặt câu hỏi, tạo ra các phán đoán, và nhận diện các giả thuyết.

Nghiên cứu của P. Griffin và cộng sự (2012) thì cho rằng kĩ năng TDPP bao gồm 6 tiêu chí: Diễn giải, phân tích, đánh giá, suy luận, giải thích và tự điều chỉnh. Bên cạnh đó còn có các tiêu chí liên quan đến thái độ và giá trị như: tính tò mò, suy nghĩ cởi mở, công bằng, linh hoạt và trung thực [11].

Đánh giá chung: Từ phân tích các nghiên cứu có liên quan đến TDPP nói chung và các tiêu chí đánh giá TDPP, chúng ta dễ dàng nhận thấy có một số điểm chung đó là: TDPP được xem xét như là một quá trình với các thành tố chủ chốt như Nhận diện vấn đề, phân tích, đánh giá, suy luận, giải thích và đưa ra quyết định. Bên cạnh đó một khía cạnh được đặc biệt nhấn mạnh đó là thái độ và những đặc điểm trí tuệ có liên quan như tính tò mò, suy nghĩ cởi mở, linh hoạt và trung thực, minh bạch, công bằng, tôn trọng chứng cứ và lập luận, tôn trọng tính rõ ràng và chuẩn xác….

2. 2. Đề xuất khung tiêu chí đánh giá tư duy phê phán ở học sinh trung học Việt Nam

Trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu về TDPP, các thành tố và tiêu chí ở trên, chúng tôi đề xuất khung tiêu chí đánh giá TDPP bao gồm TDPP bao gồm 5 thành tố cơ bản. Đó là: nhận dạng vấn đề, giải thích, phân tích, đánh giá và đưa ra kết luận. Bên cạnh đó còn có các thành tố về thái độ, phẩm chất trí tuệ như: tính tò mò, sự cởi mở, trung thực, công bằng, minh bạch, rõ ràng… Chúng được phân tích lồng ghép vào các tiêu chí của các thành tố cơ bản của TDPP.

TT

Thành tố

Tiêu chí

1

Nhận dạng vấn đề

· Xác định bản chất, nội dung chính của vấn đề, tình huống, sự vật, hiện tượng…;

· Chia nhỏ vấn đề thành các phần;

· Thu thập thông tin về vấn đề, sự vật, hiện tượng,... từ nhiều nguồn khác nhau;

· Sắp xếp các thông tin thu thập được theo từng phần nội dung và có hệ thống;

· Đưa ra các câu hỏi rõ ràng và chính xác về vấn đề;

· Thể hiện câu hỏi theo nhiều cách khác nhau để làm rõ nghĩa và phạm vi;

· Nhận dạng quan điểm của mình và tìm kiếm các quan điểm của người khác;

· Tìm kiếm thông tin ngược với ý kiến của mình cũng như những thông tin ủng hộ;

· Đảm bảo tất cả các thông tin sử dụng là rõ ràng, chính xác và phù hợp với câu hỏi của vấn đề;

· Đảm bảo thu thập đủ thông tin;

· Tò mò và quan tâm để có được những thông tin tốt;

· Cởi mở, công bằng và linh hoạt trong việc chú ý đến những quan điểm khác thay thế.

2

Giải thích

· Giải thích ý nghĩa của dữ liệu thu thập được;

· Xem xét, giải thích các tình huống, vấn đề, sự vật, hiện tượng từ nhiều quan điểm khác nhau;

· So sánh có phê phán các quan điểm khác nhau và xác định những khía cạnh mạnh, yếu của chúng;

· Phát hiện các mâu thuẫn và sai lầm phổ biến trong các lập luận;

· Các giải thích, trình bày phải đúng, rõ ràng, đầy đủ bằng chứng, tỉ mỉ, công tâm, phản ánh sự thật và có thể kiểm tra, xác minh được;

· Tự tin, cởi mở và công bằng trong các giải thích.

3

Phân tích

· Phân tích các phần riêng biệt tương tác với nhau như thế nào để tạo ra kết quả tổng thể trong hệ thống phức tạp;

· Kiểm tra các ý tưởng, xác định, phân tích các lập luận và nhận ra sự sáng tạo trong các lập luận trái chiều;

· Phân tích, so sánh, đối chiếu, lí giải các thông tin thu thập được, đặc biệt là các thông tin trái chiều.

· Phân tích những mặt tích cực, hạn chế của vấn đề, tình huống, sự vật, hiện tượng đó, xem xét một cách thấu đáo, sâu sắc và có hệ thống;

· Phân tích, xác nhận những thông tin thiếu hụt, tìm kiếm thêm thông tin cần thiết;

· Phân tích và đánh giá một thông tin đã có theo các quan điểm khác cho vấn đề đã đặt ra nhằm làm sáng tỏ và khẳng định lại tính chính xác của vấn đề; đảm bảo độ sâu, độ rộng của vấn đề;

· Phân tích dữ liệu rõ ràng và chính xác, có hệ thống và logic, khẳng định độ tin cậy của thông tin;

· Những trình bày, phân tích, cách xem xét giải quyết vấn đề phải dựa trên những bằng chứng, minh chứng khách quan, đảm bảo sự công bằng.

4

Đánh giá

· Đánh giá có hệ thống và toàn diện;

· Tổng hợp và đưa ra những kết nối giữa thông tin và tranh luận;

· Phân tích hiệu quả và đánh giá bằng chứng, những tranh luận, những quan điểm và niềm tin;

· Đánh giá, xem xét, phân biệt cái bình thường với bất bình thường; xác định những rủi ro từ cái bất bình thường;

· Đánh giá, kiểm tra độ chính xác và tin cậy của dữ liệu thu thập được;

· Đánh giá trung thực về những thành kiến của chính mình;

· Sẵn sàng quan tâm hoặc xem lại quan điểm của ai đó mặc dù đã chốt lại;

· Đánh giá ý tưởng mới và lựa chọn ý tưởng tốt nhất;

· Đảm bảo sự công bằng trong đánh giá tất cả các quan điểm.

5

Kết luận

· Dựa trên các phân tích, đánh giá bằng chứng, dự đoán những thay thế và rút ra kết luận;

· Chỉ suy luận những gì mà chứng cớ ngụ ý nói đến;

· Kiểm tra các suy luận về độ bền vững/ổn định của chúng với nhau;

· Đưa ra kết luận và giải pháp rõ ràng, có lập luận vững chắc và đầy đủ.

 

3. Kết luận

            Tư duy phê phán là một trong những năng lực rất quan trọng, cần thiết của con người nói chung và học sinh trong thế kỉ 21. Có nhiều định nghĩa khác nhau về TDPP cũng như các tiêu chí đánh giá TDPP trong các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài. Tuy nhiên, có một điểm chung mà các nghiên cứu đều nhấn mạnh đến những khía cạnh của lập luận, tìm kiếm các dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau, xem xét vấn đề từ nhiều quan điểm, phân tích, giải thích vấn đề phải dựa trên các mình chứng đầy đủ, khách quan, đảm bảo sự công bằng. Những kết luận rút ra phải phù hợp với minh chứng thu thập được, phải cởi mở tư duy, sẵn sàng tiếp nhận những suy nghĩa, lập luận trái chiều, những giải pháp mới, lạ nhưng hiệu quả. Tùy theo mục đích, đối tượng, ngành nghề… mà các tiêu chí, chỉ số đánh giá TDPP có thể khác nhau. Trên cơ sở các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài, bài báo đã đề xuất Khung tiêu chí đánh giá TDPP ở học sinh Việt Nam. Để khung tiêu chí này có thể sử dụng trong đánh giá TDPP của học sinh Việt Nam, rất cần những nghiên cứu tiếp theo để xây dựng bộ công cụ và thử nghiệm độ tin cậy, độ giá trị và khách quan của chung.

 

Lời cảm ơn. Bài viết này là kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học cấp trường: Nghiên cứu xây dựng bộ công cụ đánh giá năng lực tư duy phê pháp cho học sinh THCS; Mã số: SPHN 19 - 02 VNCSP

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

[1]. Nguyễn Thị Kim Dung (2015), Yêu cầu của xã hội thế kỉ 21 và những năng lực cốt lõi cần có đối với HS Việt Nam sau 2015, Tạp chí Khoa học, Vol 60, No 8,  Tr. 3-9

[2]. Oliver, H. & Utermohlen, R. (1995), An innovative teaching strategy: Using critical thinking to give students a guide to the future, Eric Document Reproduction Services No. 389 702

[3]. Beyer, B. K. (1995), Critical thinking Indiana: Phi Delta Kappa Educational Foundations. Google Scholar

[4]. Okan Sarigoz (2012), Assessment of the high school students’ critical thingking skills, Social and Behavioral Sciences 46, Pp. 5315 – 5319

[5]. Foundation of Critical Thinking (2007), Elements of reasoning based on Paul-Elder Framework, https://www.criticalthinking.org/, khai thác ngày 20 tháng 12 năm 2019

[6]. Richar P. and Linda E. (2007), The Miniatute Guide to Critical Thinking to: Critical Thinking Concepts and Tools, 27th International Conference on Critical Thinking, Near University of California at Berkeley July 23-26, 2007, www.criticalthinking.org

[7]. R. Rosnawati, Badrun Kartowagiran, Jailani (2015), A formative Assessment Model of Critical Thinking in Mathematics Learning in Junior High School, Research and Evaluation in Education Journal Volume 1, Number 2, Pp. 186-198  Available online at: http://journal.uny.ac.id/index.php/reid

[8]. Tan Hian Nio, et all ( 2017), Study on critical thinking skills basic prospective students primary teacher, International Journal of Contemporary Applied Sciences, Vol. 4, No. 1,  www.ijcas.net

[9]. Chua Yan Piawa (2010), Building a test to assess creative and critical thinking simultaneously, Social and Behavioral Sciences 2, Pp 551- 559

[10].  Alfaro-LeFevre, R. (2016), Critical Thinking Indicators (CTIs),  www.AlfaroTeachSmart.com , khai thác ngày 8/1/2020

[11].  P. Griffin et all (2012), Assessment and teaching of 21st century skills, Springer Science+Business Media B.V

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ABSTRACT

The Framework for evaluating critical thinking of school students

Nguyen Thi Kim Dung

Institute for Educational Research, Hanoi National University of Education

 

Many studies show that critical thinking becomes one of the most important competencies for individuals in the 21st century. The article overviews international studies of critical thinking, including: Concept, evaluation criteria and based on that, the author proposes a framework for evaluating critical thinking in Vietnamese school students. The framework for evaluating critical thinking consists of 5 basic components. They are: problem identification, explanation, analysis, evaluation and drawing conclusions. Besides, there are elements of attitudes and intellectual characteristics such as curiosity, openness, honesty, fairness, transparency and clarity.

Keywords: critical thinking, framework, criteria, evaluation, school students.

 

 

Publish: 9/29/2020 - Views: 130 - Lastest update: 9/29/2020 8:30:40 AM
Tin cùng chuyên mục