Email: email@ioer.edu.vn | vncsp@hnue.edu.vn
Nghiên cứu khoa học
Thông tin khoa học

VỀ SỰ GẮN KẾT GIỮA TRƯỜNG SƯ PHẠM VÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG TRONG PHÁT TRIỂN NGHỀ NGHIỆP CHO GIÁO VIÊN TRẺ

                                          Trương Thị Bích

                          Viện Nghiên cứu Sư phạm - Đại học Sư phạm Hà Nội

 

Tóm tắt. Trong đào tạo và bồi dưỡng giáo viên, sự gắn kết chặt chẽ giữa trường sư phạm và trường phổ thông là một trong những yếu tố quan trọng, không những có ý nghĩa trong quyết định chất lượng sản phẩm nhà giáo được đào tạo mà còn có ý nghĩa trong quá trình phát triển nghề nghiệp của bản thân giáo viên trong thời gian họ hành nghề giáo dục tại trường phổ thông. Điều này đặc biệt có ý nghĩa hơn đối với đội ngũ giáo viên trẻ, những người mới từ môi trường đào tạo với tư cách là người học chuyển sang môi trường giáo dục với tư cách người dạy với rất nhiều những khó khăn hiện hữu.

Bài viết đã định danh một cách khái quát thế nào là giáo viên trẻ; những khó khăn họ đang phải trải qua trong trường phổ thông cũng như những nhu cầu cấp thiết họ cần được sự hỗ trợ từ trường sư phạm. Bài viết cũng đề cập đến những biện pháp để gắn kết giữa trường sư phạm với trường phổ thông trong việc phát triển năng lực nghề nghiệp cho giáo viên trẻ đáp ứng những yêu cầu của đổi mới giáo dục trong bối cảnh hiện nay.

Từ khóa: Giáo viên trẻ, phát triển nghề nghiệp, trường sư phạm, trường phổ thông, sự gắn kết.

 

1. Mở đầu

Đứng trước bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, coi phát triển đội ngũ nhà giáo là khâu then chốt, các trường đại học sư phạm cần đặt nhiệm vụ đào tạo và định hướng phát triển nghề nghiệp cho giáo viên, đặc biệt là đội ngũ giáo viên trẻ như là nhiệm vụ quan trọng và được xây dựng trong lộ trình chiến lược phát triển của nhà trường. Theo đó, các cơ sở đào tạo giáo viên cần gắn kết chặt chẽ với trường phổ thông trong việc triển khai nhiệm vụ đào tạo và bồi dưỡng này bởi nhà trường phổ thông chính là cơ sở giáo dục sử dụng sản phẩm đào tạo của trường sư phạm, là địa chỉ khẳng định những ưu điểm, những bất cập của trường sư phạm qua chất lượng của đội ngũ giáo viên được đào tạo từ trường. Nhận thức được ý nghĩa quan trọng của thực tiễn này, không ít các nhà khoa học đã quan tâm nghiên cứu và đã có những công trình nghiên cứu thực sự có giá trị trong việc nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên cũng như hỗ trợ giáo viên nhất là giáo viên trẻ trong quá trình phát triển nghề nghiệp của họ ở trường phổ thông.

Công trình nghiên cứu của Thomas (2003) cho rằng  trường phổ thông là nơi “tiêu thụ sản phẩm” của trường sư phạm. Điều đó cho thấy quan hệ giữa trường phổ thông và trường sư phạm là mối quan hệ cung - cầu [1]. Trong giai đoạn đào tạo ban đầu tại trường sư phạm để chuẩn bị cho sinh viên có đủ năng lực đáp ứng các yêu cầu cơ bản trong hoạt động nghề ở trường phổ thông, mối quan hệ giữa trường sư phạm và trường phổ thông được thiết lập bởi các hoạt động tổ chức cho giáo sinh thực hành, kiến tập và thực tập sư phạm [2],[3]. Việc học tập trong giai đoạn tập sự của giáo viên mới vào nghề được xem là giai đoạn chuyển tiếp từ học ở trường sư phạm với giai đoạn hành nghề như một giáo viên chính thức. Ở giai đoạn này giáo viên trẻ vẫn đang trong giai đoạn học “làm nghề giáo viên”. Học tập lúc này diễn ra đồng thời ở hai hình thức chính: (i) học qua kinh nghiệm thực hiện các nhiệm vụ thực tế của người giáo viên ở nhà trường dưới sự hướng dẫn của giáo viên có kinh nghiệm; (ii) học qua các lớp bồi dưỡng, tập huấn định kì của địa phương hoặc của tổ chức có trách nhiệm với việc phát triển nghề nghiệp cho giáo viên trẻ mới vào nghề [4],[5]. Tham gia bồi dưỡng cho giáo viên trẻ ở các lớp học này có thể là các giảng viên các trường sư phạm, các chuyên gia bên ngoài nhà trường, các chuyên viên giáo dục (từ các cấp quản lý hay các trung tâm giáo dục – đào tạo).

Để đưa ra các biện pháp hỗ trợ nghề nghiệp cho giáo viên trẻ, nhiều công trình đã nghiên cứu về thực trạng đào tạo giáo viên ở các trường sư phạm, về khả năng đáp ứng yêu cầu thực tiễn giáo dục phổ thông của sinh viên năm cuối và giáo viên trẻ cũng như những đề xuất biện pháp bồi dưỡng giáo viên trẻ ở môi trường giáo dục phổ thông [6],[7]; đúc rút ra được những kinh nghiệm quốc tế về đào tạo giáo viên cũng như hỗ trợ giáo viên mới tốt nghiệp ở các nước có nền giáo dục phát triển [8],[9]. Đây thực sự là những bài học có giá trị đối với công cuộc đổi mới giáo dục của đất nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng. Ngoài ra một số nghiên cứu bước đầu đã đề xuất những biện pháp hỗ trợ cho giáo viên trẻ trong những năm đầu tác nghiệp tại trường phổ thông [10], [11]. Một số công trình còn nghiên cứu thực trạng nhu cầu của sinh viên trong thời gian thực tập sư phạm ở trường phổ thông cũng như sự “vênh”, “lệch” giữa cơ sở đào tạo giáo viên và trường phổ thông trong trong đào tạo giáo viên [12],[13], từ đó rút ra những nội dung cần phải đào tạo cho sinh viên để ngay sau khi tốt nghiệp họ có thể tự tin đứng lớp. Nhìn chung, đã có không ít các công trình nghiên cứu về những khó khăn của đội ngũ giáo viên trẻ trong những năm đầu hành nghề dạy học ở trường phổ thông; những bất cập của sinh viên trong thời gian thực tập sư phạm, từ đó đã đề xuất những biện pháp ban đầu trong đào tạo và bồi dưỡng giáo viên. Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu về mối quan hệ chặt chẽ, về sự sự gắn kết giữa trường sư phạm và trường phổ thông trong đào tạo và phát triển nghề nghiệp cho giáo viên trẻ cũng như việc trường sư phạm cần và luôn phải chủ động trong việc bảo hành, bảo trì chất lượng đào tạo giáo viên thì chưa nhiều. Trên thực tế rất cần tiếp tục có những nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này để đảm bảo đạt được những mục tiêu giáo dục, nhất là trong tiến trình đổi mới chương trình, sách giáo khoa được triển khai từ năm học 2020 - 2021.

2. Nội dung

2.1. Giáo viên trẻ và vấn đề phát triển nghề nghiệp cho giáo viên trẻ

Giáo viên trẻ là những người vừa mới bước vào nghề, vào thế giới công việc trong môi trường sư phạm. Đây là bước chuyển đổi phức tạp, có tính chất bước ngoặt trong cuộc đời của họ, nhất là trong một hai năm đầu. Đó là việc thay đổi các mối quan hệ xã hội; từ quan hệ bạn bè, thầy cô trong trường sư phạm đơn giản sang các mối quan hệ với nhiều đối tượng khác nhau, học sinh, đồng nghiệp, cha mẹ học sinh,… có tính tế nhị, phức tạp hơn. Đó là sự thay đổi vị trí, vai trò, chuyển từ là người học sang người dạy, từ việc chỉ chịu trách nhiệm với việc học của mình sang người chịu trách nhiệm về việc học của nhiều học sinh, từ chỗ hoạt động chủ yếu là mang tính lý thuyết sang hoạt động thực hành, thực tiễn đa dạng… Trở thành giáo viên, các em phải chịu trách nhiệm thực hiện các hoạt động sư phạm tại nơi làm việc, trách nhiệm với chất lượng giáo dục học sinh. Tất cả những điều này gây nên những khó khăn không nhỏ cho giáo viên trẻ khi mới bước vào hoạt động nghề nghiệp [Dẫn theo 14].

Tại sao phải phát triển nghề nghiệp cho giáo viên trẻ? Đây là câu hỏi được nhiều quốc gia quan tâm tìm kiếm và đã đưa ra các giải pháp thực hiện. Còn ở Việt Nam, các nghiên cứu gần đây đã cho thấy: Giáo viên trẻ bên cạnh những ưu điểm nổi bật là khả năng đáp ứng tốt kiến thức chuyên môn, cập nhật được những vấn đề đổi mới của giáo dục phổ thông Việt Nam và trên thế giới, tư cách đạo đức tốt, tác phong mẫu mực, chững chạc, nhiệt tình và say mê với công việc, có năng lực tự học, tự bồi dưỡng nhân cách và nâng cao năng lực chuyên môn [1], [2], [7].

Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cũng ghi nhận những khó khăn, hạn chế của giáo viên trẻ ở trường phổ thông [6], [7], [15]. Đó là giáo viên trẻ còn gặp khó khăn trong giải quyết các tình huống sư phạm; trong tìm hiểu đối tượng giáo dục; trong quản lí, giáo dục học sinh; trong công tác chủ nhiệm lớp; trong cách trình bày bài giảng; trong giao tiếp với học sinh; trong sử dụng các phương tiện dạy học; trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh; trong xây dựng và quản lí hồ sơ giáo án; trong kĩ năng tìm hiểu đặc điểm tâm lý và phân loại học sinh; trong kĩ năng tổ chức giờ sinh hoạt lớp, kĩ năng tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp, kĩ năng giáo dục học sinh cá biệt, kĩ năng tư vấn, kĩ năng dạy học tích hợp, dạy học phân hóa, kĩ năng xây dựng và quản lí hồ sơ dạy học, giáo dục. Trong đó, những kĩ năng đạt mức độ thấp nhất là kĩ năng giáo dục học sinh cá biệt, kĩ năng tư vấn, tham vấn, kĩ năng dạy học phân hóa và tích hợp.

Từ những khó khăn, hạn chế trên, các nghiên cứu cũng xác định nhu cầu được rèn luyện kỹ năng nghiệp vụ sư phạm của giáo viên trẻ như: Kĩ năng giải quyết tình huống sư phạm; Kĩ năng hiểu biết về nhà trường phổ thông và công việc cụ thể của một người giáo viên; Kĩ năng làm công tác chủ nhiệm; Kĩ năng tìm hiểu đối tượng học sinh; Kĩ năng thuyết trình trước đám đông; Kĩ năng sử dụng phương pháp dạy học hiện đại; Kĩ năng giao tiếp với phụ huynh học sinh; Kĩ năng kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh [7].

Có thể nhận thấy, trong những năm đầu tác nghiệp, giáo viên trẻ đã ý thức được nguyên nhân của những thiếu hụt đó và đặt ra kế hoạch cần phải lấp đầy, bổ sung những kiến thức cũng như kĩ năng sư phạm cần thiết so với yêu cầu thực tế nghề nghiệp của mình. Thực tế này đã đặt ra cho trường sư phạm cũng như trường phổ thông phải đưa ra những biện pháp cụ thể, thiết thực trong rèn luyện và phát triển nghề dạy học cho giáo viên trẻ; trong đó vai trò của nhà trường phổ thông là bồi dưỡng, phát triển nghề nghiệp cho giáo viên còn vai trò của nhà trường sư phạm là để “bảo dưỡng” sản phẩm đào tạo của mình.

2.2. Mối quan hệ gắn kết giữa trường sư phạm và trường phổ thông trong đào tạo và phát triển nghề nghiệp cho giáo viên trẻ

2.2.1. Xây dựng cơ sở pháp lý giữa trường sư phạm và trường phổ thông trong việc tổ chức cho sinh viên thực tập sư phạm và bồi dưỡng cho giáo viên trẻ

Sự gắn kết giữa trường sư phạm và trường phổ thông đã trở thành một vấn đề được đặc biệt quan tâm của các nhà nghiên cứu, chính sách và quản lý giáo dục trong thời đại toàn cầu hoá. Vấn đề này được xem như một điểm nóng để giải quyết cho cải cách giáo dục và đào tạo giáo viên trong việc thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông. Trong việc phát triển nghề nghiệp cho giáo viên trẻ, mối quan hệ giữa trường sư phạm và trường phổ thông phải diễn ra mối quan hệ chuyên môn trên một hay một số phương diện như: (1) Trong đào tạo và phát triển cho giáo viên, trong đó phổ biến nhất là việc đưa sinh viên về trường phổ thông thực tập sư phạm để họ có được năng lực nghiệp vụ sư phạm tốt nhất giúp cho những năm đầu khi dạy ở phổ thông không bị bỡ ngỡ và thực hiện tốt nhiệm vụ được giao; (2) Trong vấn đề tạo mối liên kết trách nhiệm của việc nghiên cứu cải tiến thực tiễn giáo dục và đào tạo; (3) Trong quản lý, đảm bảo chất lượng của giáo dục và đào tạo giáo viên trẻ. Sự tham gia trách nhiệm của mỗi thành viên, bao gồm cả trường sư phạm, trường phổ thông và cơ quan quản lý giáo dục các cấp, là điều kiện để bảo đảm cho chất lượng và hiệu quả của sự gắn kết này và cho kết quả hoạt động từng thành viên.

Sự gắn kết giữa trường sư phạm và trường phổ thông trong việc tổ chức cho sinh viên thực tập sư phạm và bồi dưỡng cho giáo viên trẻ lấy cải tiến thực tiễn lớp học và nhà trường phổ thông làm động lực, phản ánh mối quan hệ quản lý chất lượng bên trong. Vậy sự gắn kết này đầu tiên cần được hỗ trợ bằng quản lý của ngành Giáo dục. Bộ GD&ĐT phải có các văn bản quy định trách nhiệm, hướng dẫn cho các trường sư phạm và trường phổ thông trong việc tổ chức thực tập cho sinh viên cũng như trong việc bồi dưỡng cho giáo viên trẻ. Cụ thể hoá của văn bản này phải xác nhận rằng sự tham gia của giáo viên hướng dẫn vào trong thực tập sư phạm cần được đánh giá và công nhận từ nhiều mức độ khác nhau như: (1) Ở cấp quốc gia tiêu chí này phải đưa vào trong chuẩn nghề nghiệp giáo viên, chuẩn nghề nghiệp giảng viên sư phạm; (2) Ở cấp Sở căn cứ vào tiêu chuẩn trong chuẩn nghề nghiệp giáo viên phải tổ chức đánh giá, xếp loại trường học, cán bộ quản lý, giáo viên trong việc hoàn thành nhiệm vụ hướng dẫn, hỗ trợ sinh viên thực tập sư phạm, giáo viên trẻ; (3) Ở cấp thiết chế ghi nhận thành tích của giáo viên trẻ qua hệ thống chứng chỉ, chứng nhận có liên quan đến lương, thưởng của họ.

2.2.2. Xây dựng mối quan hệ cộng tác giữa trường sư phạm và trường phổ thông trong phát triển nghề nghiệp cho giáo viên trẻ

Mối quan hệ cộng tác ở đây thể hiện cả vai trò, trách nhiệm, nội dung công việc của cả trường sư phạm và trường phổ thông. Ở đây, khái niệm phát triển giáo viên trẻ được dùng để nói đến sự nỗ lực học tập của giáo viên trẻ để hoàn thiện những kiến thức, nhất là kĩ năng còn thiếu và yếu trong quá trình đào tạo ở trường sư phạm; để nâng cao năng lực nghề nghiệp cho bản thân, đáp ứng tốt hơn với những yêu cầu đang đặt ra trong các hoạt động giáo dục của nhà trường, nhất là trong các lần đổi mới giáo dục. Phát triển nghề nghiệp cho giáo viên trẻ không có nghĩa với việc họ đi học để có bằng cấp cao hơn chuẩn yêu cầu đặt ra đối với giáo viên dạy ở một trình độ, cấp học nào đó. Điều cần nhấn mạnh là hệ quả tất yếu của phát triển nghề nghiệp cho giáo viên trẻ chính là sự hoàn thiện năng lực nghề nghiệp của mình; giúp cho học sinh học tập tốt nhất dẫn đến chất lượng giáo dục của nhà trường sẽ được nâng lên. Như vậy, khái niệm phát triển nghề nghiệp cho giáo viên trẻ nhấn mạnh về mặt định tính hơn là về mặt định lượng và nói đến hiệu quả thực tế của sự phát triển của giáo viên trẻ. Điều đó cho thấy, phát triển nghề nghiệp cho giáo viên trẻ gắn với sự học tập không ngừng, liên tục của giáo viên, từ trong đào tạo ban đầu tại trường sư phạm, đến học trong giai đoạn mới vào nghề (giai đoạn tập sự) và bồi dưỡng thường xuyên trong quá trình đang làm việc tại trường, cho mục tiêu chất lượng của giáo viên nói riêng và của giáo dục nói chung.

2.2.2.1. Các giai đoạn phát triển nghề nghiệp của giáo viên trẻ tại trường phổ thông

a) Trong giai đoạn đào tạo ban đầu, sinh viên được đưa xuống trường phổ thông để làm quen với sinh hoạt ở nhà trường, quan sát các hoạt động của các thành viên của nhà trường như học sinh, giáo viên, cha mẹ học sinh, cộng đồng, các nhân viên khác..; tìm hiểu và tập làm các công việc của người giáo viên trong môi trường thực dưới sự hướng dẫn và quản lý của giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn và cán bộ quản lý của trường phổ thông. Rất nhiều những kiến thức, kĩ năng và kinh nghiệm dạy học và giáo dục, giáo sinh thu hoạch được từ trong hoạt động ở trường phổ thông. Có thể nói, trường phổ thông là nơi giáo sinh học trong thực tiễn, về thực tiễn và để thực hành những điều đã được học trong các bài học lí thuyết. Do vậy, trường phổ thông được xem là nơi giúp giáo sinh học thông qua tiếp xúc với thực tiễn sinh động nhà trường, bằng tìm tòi, trải nghiệm và thực hành những kĩ năng nghề trên nền lí luận  đã được trang bị, tức là gắn học lí thuyết với học từ thực tế. Do đó, cần hiểu đầy đủ hơn về vai trò của trường phổ thông trong đào tạo giáo viên, tránh xem trường phổ thông chỉ là địa bàn thực hành, thực địa của trường sư phạm. Chính vì thế, trường phổ thông tham gia đào tạo ban đầu như một đối tác giúp giáo sinh có kĩ năng và kinh nghiệm hoạt động nghề trong hoàn cảnh thực tiễn.

b) Giai đoạn tiếp theo, giáo viên trẻ với công việc học tập trong giai đoạn tập sự của khi mới vào nghề được xem là giai đoạn chuyển tiếp từ học ở trường sư phạm với giai đoạn hành nghề như một giáo viên chính thức. Ở giai đoạn này giáo viên trẻ vẫn đang trong giai đoạn học “làm nghề giáo viên”. Học tập lúc này diễn ra đồng thời ở hai hình thức chính: (1) Học qua kinh nghiệm thực hiện các nhiệm vụ thực tế của người giáo viên ở nhà trường phổ thông dưới sự hướng dẫn của giáo viên có kinh nghiệm; (2) Học qua các lớp bồi dưỡng, tập huấn định kì do trường sư phạm tổ chức và trường sư phạm có trách nhiệm trong việc phối hợp với giáo viên phổ thông bù đắp những thiếu hụt, “lỗi nghề nghiệp”, “những khiếm khuyết” trong đào tạo cho giáo viên trẻ; giúp cho giáo viên trẻ bổ sung thêm kiến thức, kĩ năng, từng bước tự hoàn thiện mình để có thể đạt được yêu cầu của người giáo viên đứng lớp.

c) Trong giai đoạn bồi dưỡng, phát triển nghề nghiệp cho giáo viên tại trường phổ thông thì giáo viên trẻ đóng vai trò như những giáo viên khác. Sự gắn kết giữa trường sư phạm và trường phổ thông chủ yếu diễn ra ở các hoạt động bồi dưỡng chuyên môn theo chuyên đề, bồi dưỡng thường xuyên. Sự tham gia của giảng viên đại học trong phát triển nghề cho giáo viên chủ yếu với tư cách chuyên gia về lĩnh vực, vấn đề cụ thể. Và vấn đề bồi dưỡng cho giáo viên là nhằm phát triển năng lực của giáo viên nói chung, giáo viên trẻ nói riêng để đáp ứng với các yêu cầu mới do sự thay đổi của xã hội, giáo dục, nhà trường mang lại. Đây là hình thức bồi dưỡng nâng cao cho giáo viên không chỉ để cập nhật thông tin, nhiệm vụ mới mà còn là cung cấp những kiến thức khoa học mới có liên quan và những kết quả nghiên cứu giáo dục mới.

2.2.2.2. Tại trường sư phạm: Đào tạo giáo viên luôn thích ứng với sự đổi mới của giáo dục

a) Phát triển chương trình đào tạo giáo viên theo hướng gắn kết với chương trình giáo dục phổ thông, đào tạo ra giáo viên có đủ trình độ và năng lực vận hành hiệu quả chương trình phổ thông mới

Nhiệm vụ của trường sư phạm vô cùng quan trọng khi đặt viên gạch đầu tiên cho tri thức nghề nghiệp dạy học ở sinh viên; trang bị cho các thế hệ giáo viên tương lai trở thành những công dân có tầm nhìn hướng ra thế giới, có bản lĩnh và hoài bão, tâm huyết với nghề dạy học. Chương trình đào tạo giáo viên cần gắn bó chặt chẽ với chương trình giáo dục ở trường phổ thông. Một trong những yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra của chương trình giáo dục phổ thông tổng thể là phát huy năng lực của người học, vận dụng có hiệu quả kiến thức vào thực tiễn, đáp ứng công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chính vì vậy chương trình đào tạo giáo viên ở trường sư phạm cần phải được hiệu chỉnh cho phù hợp nhằm cung cấp sản phầm đầu ra cho ngành giáo dục - đào tạo những người thầy có đủ trình độ và năng lực vận hành hiệu quả chương trình giáo dục phổ thông mới. Các trường sư phạm nói riêng, các cơ sở đào tạo giáo viên nói chung cần xác định bốn định hướng cho chương trình giáo dục đào tạo giáo viên trong bối cảnh thay đổi: Giáo dục tập trung phát triển năng lực; học tập tích hợp; mở cửa trường đại học ra xã hội; đánh giá thúc đẩy quá trình học tập. Đào tạo giáo viên trong bối cảnh hội nhập hiện nay là một trong những nhiệm vụ cấp bách và sống còn, quyết định tới chất lượng giáo dục, tới công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam. Để có thể thực hiện được những nhiệm vụ đó, các cơ sở đào tạo giáo viên khi phát triển chương trình giáo dục cần hướng vào những phẩm chất, năng lực để đáp ứng yêu cầu của một nền giáo dục luôn thay đổi. Với hệ thống những năng lực cơ bản, người giáo viên sẽ có đủ khả năng đào tạo những lớp học sinh phổ thông Việt Nam trở thành những công dân của thế kỷ 21, sẵn sàng đi vào cuộc sống lao động hoặc học cao hơn trong một thế giới không ngừng biến động. Đó sẽ là nơi cung cấp nguồn nhân lực có năng lực cạnh tranh trong thời kì hội nhập và toàn cầu hóa, góp phần nâng cao vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế.

Theo như tinh thần trên, chương trình đào tạo giáo viên tại các trường sư phạm cần thay đổi, hiệu chỉnh theo hướng tăng cường tính thực hành; phát triển năng lực chuyên môn, năng lực sư phạm, năng lực ứng phó với các tình huống phát sinh. Cần kết hợp mô hình đào tạo nối tiếp và song song bởi mỗi loại mô hình đều có những ưu điểm và nhược diểm, đều có những bất cập và vượt trội; kiểm soát chuẩn tốt nghiệp đầu ra; xây dựng chuẩn hệ thống kiểm định chất lượng; tăng cường cho sinh viên nghiên cứu khoa học,…

b) Phát triển nghề nghiệp cho sinh viên tại môi trường thực địa

Việc phát triển nghề nghiệp cho sinh viên phải gắn bó chặt chẽ với môi trường giáo dục phổ thông. Bốn năm học trong trường sư phạm, sinh viên được học rất nhiều kiến thức từ Tâm lí học, Giáo dục học, Giáo dục quốc phòng, Giáo dục thể chất, Logic học đến các môn học chuyên ngành, các môn học về Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn. Tuy nhiên nội dung lý thuyết đang nhiều mà nội dung thực hành đang thiếu. Vậy cần phải xây dựng chương trình đào tạo cân đối, hợp lí giữa các môn học cơ bản với các môn học về rèn nghề, phát triển kĩ năng sư phạm. Cần giảm tính lí thuyết, hàn lâm trong các môn học để tăng cường tính thực tiễn, phải bám sát hơn nữa với chương trình dạy học ở trường phổ thông. Phần lớn sinh viên khi xuống trường phổ thông thực tập mới nhận ra rằng các môn Tâm lí học, Giáo dục học được đào tạo ở trường sư phạm chưa giúp họ được nhiều trong việc nắm bắt tâm lí học sinh, trong việc xử lí các tình huống dạy học và giáo dục, trong công tác chủ nhiệm, trong việc tổ chức các hoạt động tập thể, trong việc lập một kế hoạch công tác,…     

Đa số sinh viên cho rằng khi về phổ thông học mới bắt đầu có những hình dung đầy đủ và rõ nét về người giáo viên. Thời gian thực tập sư phạm 5 tuần mới đủ để các em “bắt chước” và “làm theo” chứ chưa đủ tự tin để chủ động thực hiện một cách sáng tạo, linh hoạt các nhiệm vụ dạy và học ở trường phổ thông. Sinh viên phải được hình dung sớm hơn chức năng, nhiệm vụ của người giáo viên phổ thông trong thực tiễn để sớm có sự định hướng rèn luyện ngay từ khi bước chân vào trường sư phạm. Và để đến khi ra trường, các em mới có thể nhanh chóng tác nghiệp ngay từ những ngày đầu làm nghề dạy học. Vậy muốn phát triển nghề nghiệp cho sinh viên tại môi trường thực địa phải:

* Tổ chức cho sinh viên về trường phổ thông ngay từ năm học thứ nhất

Dạy học là một nghề, vì vậy, quá trình học nghề không thể thoát li thực tế dạy học. Ngay từ năm thứ nhất, nên bố trí cho sinh viên có từ 1 đến 2 tuần tiếp xúc với nhà trường phổ thông. Mục đích là để sinh viên làm quen với giáo dục phổ thông với tư cách người giáo viên. Những tuần đầu này, sinh viên chỉ nghe các báo cáo về giáo dục ở địa phương. Sinh viên sẽ từng bước hiểu về vị trí, vai trò của người giáo viên trong công tác giảng dạy cũng như công tác chủ nhiệm. Từ những quan sát ban đầu, sinh viên sẽ xác định cho mình những yêu cầu rèn luyện để trở thành một giáo viên thực thụ. Sang năm thứ hai, vẫn tiếp tục cho sinh viên xuống trường phổ thông nhưng nội dung thay đổi đó là họ dự giờ để nắm được yêu cầu và cách thức tiến hành một bài dạy. Sinh viên tham gia làm công tác chủ nhiệm để nắm được các nội dung cần phải thực hiện và cách thức thực hiện các nội dung đó. Tham gia tìm hiểu tâm lí đối tượng học sinh, tham gia tìm các biện pháp để giáo dục học sinh nói chung và học sinh cá biệt nói riêng. Với các nội dung này, sinh viên bước đầu đã rèn được một số phẩm chất, năng lực cần thiết của người giáo viên: tự tin trước học sinh, ý thức được vị trí, vai trò của mình trong nhà trường, trong việc giúp đỡ, giáo dục học sinh. Bước đầu nắm được yêu cầu, nội dung và cách thức thực hiện các thao tác nghề nghiệp. Sang năm thứ ba, sinh viên xuống trường phổ thông để làm công tác chủ nhiệm, dự giờ và chuẩn bị soạn bài để dạy thử một số tiết. Ở năm thứ ba này, SV đã cơ bản nắm được các hoạt động dạy học, giáo dục trong nhà trường PT, hình dung được những nhiệm vụ, những công việc mà người giáo viên phổ thông phải đảm nhiệm. Và đến năm thứ tư, năm cuối cùng, sinh viên xuống trường phổ thông để thực tập lần cuối. Thời gian này, sinh viên đã tích luỹ cho mình bản lĩnh nghề nghiệp, các thao tác nghề nghiệp, các kĩ năng dạy học - giáo dục,… từ các đợt xuống phổ thông trước đó. Vì vậy, chắc chắn kết quả lần xuống trường phổ thông này sẽ đạt kết quả cao. Cách thức tổ chức cho sinh viên về trường phổ thông ngay từ năm đầu chắc chắn góp phần đào tạo những giáo viên có trình độ chuyên môn vững vàng, có năng lực sư phạm, có bản lĩnh nghề nghiệp, yêu nghề,… đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông.

* Mời giáo viên phổ thông giàu kinh nghiệm lên lớp, dạy mẫu cho sinh viên trong quá trình rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên

Là những người trực tiếp gắn bó với giáo dục phổ thông, hơn ai hết, giáo viên phổ thông là người truyền đạt tốt nhất kiến thức từ sách giáo khoa tới học sinh. Và chắc chắn cũng là người xử lí tốt nhất các tình huống sư phạm xảy ra trong quá trình giáo dục. Trước khi đưa sinh viên xuống các trường phổ thông để thực tập sư phạm, trường sư phạm nên có kế hoạch mời giáo viên phổ thông về nói chuyện, trao đổi với sinh viên về các hoạt động dạy học - giáo dục ở trường phổ thông, về kinh nghiệm lên lớp, kinh nghiệm làm chủ nhiệm lớp,... 

* Trường sư phạm cử giảng viên về trường phổ thông giám sát hoạt động thực hành của sinh viên

Là người trực tiếp xây dựng chương trình, tổ chức dạy học - dạy nghề cho giáo viên tương lai, giảng viên sư phạm cần phải am hiểu môi trường phổ thông, nắm bắt chính xác và khách quan những ưu điểm cũng như nhược điểm của sinh viên trong những lần cọ xát với thực tế môi trường ấy để có hướng điều chỉnh, bổ sung trong kế hoạch dạy học và giáo dục của mình.

* Tổ chức các buổi hội thảo khoa học về đào tạo giáo viên có sự tham gia của giáo viên phổ thông

Các buổi hội thảo khoa học là cơ hội rất tốt để trường sư phạm và trường phổ thông gắn kết trên các phương diện: thực tế cập nhật khoa học sư phạm trong nước và trên thế giới; trình độ chung của giáo viên phổ thông; những thuận lợi, những khó khăn của họ; điều kiện cơ sở vật chất; trình độ, các khía cạnh tâm lí của học sinh phổ thông. Từ sự gắn kết này, trường sư phạm có thể tiếp nhận để cải tiến, cải cách, đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy học; đưa hoạt động học ở trường sư phạm gần với hoạt động dạy ở trường phổ thông.

2.2.3. Xây dựng mối quan hệ cộng tác giữa trường sư phạm và trường phổ thông trong việc tổ chức các nghiên cứu cải tạo thực tiễn

Việc tổ chức nghiên cứu cải tạo thực tiễn được trường sư phạm phối hợp, cộng tác với trường phổ thông tổ chức thực hiện với nhiệm vụ nghiên cứu giáo dục rất đa dạng nhưng loại hình nghiên cứu ứng dụng hướng đến cải tiến thực tiễn (gắn chủ yếu với việc áp dụng những lí thuyết, lí luận vào thực tiễn để nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục) có tính phổ biến và gắn thực tế nhiều hơn trong nhiều vấn đề trong đó có mảng phát triển năng lực nghề nghiệp cho giáo viên trẻ.

Trước hết, trong các nghiên cứu nhằm vào cải tạo thực tiễn ở trường phổ thông, các thành viên nghiên cứu của trường sư phạm và trường phổ thông cùng tham gia vào nghiên cứu, phát hiện và giải quyết những vấn đề đang tồn tại trong nhà trường ở cả khâu quản lý, tổ chức dạy học, giáo dục của giáo viên trẻ. Với cách thức nghiên cứu đặt tại trường phổ thông và do các thành viên của trường sư phạm và trường phổ thông thực hiện cùng với một số chuyên gia bên ngoài sẽ mang lại lợi ích nhiều mặt. Trước hết, kết quả từ nghiên cứu sẽ giúp trường phổ thông hiểu được chính mình, nắm được các vấn đề đang tồn tại của giáo viên trẻ, đưa ra những giải pháp thiết thực để phát triển năng lực nghề cho giáo viên trẻ; chính vì vậy những giải pháp đưa ra sẽ sát thực và khả thi hơn.

Hơn nữa, khi giáo viên phổ thông đặc biệt là giáo viên trẻ tham gia vào nghiên cứu với tư cách là những người hoạt động thực tiễn - nghiên cứu (không phải như một người hỗ trợ hay người cung cấp thông tin), họ sẽ tham gia đóng góp với nhà trường như những chủ nhân thực sự. Do đó, giáo viên trẻ trở nên mạnh dạn, tự tin và có năng lực hơn. Mặt khác, hợp tác cùng với các chuyên gia nghiên cứu là giảng viên sư phạm, các thành viên ở trường phổ thông sẽ học tập được những kĩ năng nghiên cứu và giải quyết vấn đề. Do đó, giáo viên trẻ trở nên mạnh dạn, tự tin và có năng lực hơn. Ở mức độ cao, trường phổ thông có thể tổ chức nghiên cứu để tìm giải pháp cho một vấn đề riêng, các giảng viên hay cán bộ nghiên cứu của trường sư phạm có thể được mời như chuyên gia bên ngoài cùng phối hợp. Ngược lại, từ phía trường sư phạm khi tham gia hợp tác với trường phổ thông sẽ nắm rõ hơn về thực tiễn nhà trường và có được những thông tin, kết quả nghiên cứu để làm phong phú cho vốn hiểu biết về trường phổ thông, từ đó đưa ra những cải tiến, bổ sung cho nội dung đào tạo giáo viên trong trường sư phạm.

3. Kết luận

Trong sự nghiệp đào tạo và bồi dưỡng giáo viên, việc gắn kết chặt chẽ giữa trường sư phạm với trường phổ thông là vô cùng cần thiết. Quá trình đào tạo không thể thoát li thực tế trường phổ thông. Ngược lại, kết thúc một khoá đào tạo 4 năm không phải là đã kết thúc “sự học” của một giáo viên. Việc tự học, tự bồi dưỡng để không ngừng nâng cao chất lượng giảng dạy là công việc luôn song hành cùng người giáo viên trong suốt cuộc đời dạy học. Và địa chỉ tin cậy của họ chính là trường sư phạm, nơi tập trung các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học đầu ngành, những người thầy tâm huyết và trách nhiệm với sự nghiệp đào tạo giáo viên nói riêng và với công cuộc đổi mới giáo dục nói chung.

Trong quá trình đào tạo và bồi dưỡng giáo viên, nếu sự gắn kết này được thực hiện tốt, chắc chắn sinh viên khi tốt nghiệp ra trường sẽ đích thực là “niềm kiêu hãnh” khi đem những kiến thức mới nhất, tiên tiến nhất về trường phổ thông “hành nghề” dạy học. Và giáo viên phổ thông chắc chắn cũng tự trau dồi, hoàn thiện năng lực nghề nghiệp của mình để tiếp tục là những tấm gương dạy tốt; đáp ứng các yêu cầu của xã hội hiện đại.

Để cung cấp cho xã hội những giáo viên có đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu mới của giáo dục phổ thông, cũng là cần thu thập thông tin về ưu điểm và hạn chế của sản phẩm đào tạo giúp cho việc điều chỉnh chương trình đào tạo, nội dung, cách thức đào tạo,… trường sư phạm cần có trách nhiệm với đội ngũ giáo viên, đặc biệt là giáo viên trẻ trong việc tiếp tục cung cấp cho họ những khóa bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ để cập nhật thông tin khoa học hiện đại, để bù đắp những thiếu hụt, những khó khăn họ gặp phải trong những năm đầu làm nghề dạy học. Việc này chỉ có thể thực hiện được bằng sự gắn kết giữa trường sư phạm với trường phổ thông trên cơ sở khung pháp lý với những mối quan hệ cộng tác cụ thể. Với quy trình “bảo hành”, “bảo trì” trong đào tạo giáo viên, cùng với việc xây dựng được chương trình đào tạo chất lượng, nội dung, cách thức đào tạo hiệu quả và gắn kết với phổ thông sẽ đào tạo được những thế hệ giáo viên giỏi về chuyên môn, bản lĩnh, năng động về nghiệp vụ sư phạm, hoàn thiện về nhân cách, đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục - đào tạo nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng.

Lời cảm ơn. Bài báo là sản phẩm nghiên cứu đề tài cấp Trường: Nghiên cứu phát triển năng lực dạy học cho giáo viên trẻ ở trường THPT đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. MS: SPHN19- 04VNCSP.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.                                                                                                               Thomas, E. (2003). Partnership and partnership change in teacher education. Xem trong: Razdevšek-Pučko,C.  (2006), Partnership in teacher education: are we speaking the same laguage? 31st Annual ATEE (Association of Teacher Education in Europe) Conference. www.pef.uni.lj.si

2.      Lampert, M. (2010). Learning teaching in, from, and for practice: what do we mean? Journal of teacher education 2010;61;21. www.jte.sagepub.com

3.                                                                                                               ALTC (Australian Learning and Teaching Council), (2009). Practicum partnership: exploring models of practicum organisation in teacher education for a standard-based profession. Final report. VCDE, the University of Melbourne, RMIT university, Victorian institute of teaching. www.altc.edu.au

4.      Nâng cao trình độ giáo viên ở Singapore: Gắn chặt với bồi dưỡng tại chỗ. Http://etep.moet.gov.vn/tintuc/chitiet?Id=208.

5.      Trải nghiệm hệ thống giáo dục ở Canada, http://www.baobinhphuoc.com.vn/content/trai/nghiem-he-thong-giao-duc-o-canada-68745.

6.      Nguyễn Thị Kim Dung. Thực trạng đào tạo giáo viên – nhìn từ khả năng đáp ứng yêu cầu thực tiễn giáo dục PT của sinh viên năm cuối và giáo viên trẻ. Tạp chí Giáo dục và Xã hội, số 10 (68), tháng 10/2011, Tr. 13-15, ISSN 1859-3917.

7.      Đào Thị Oanh, 2010. Nhu cầu của giáo viên trẻ đối với nội dung rèn luyện nghiệp vụ sư phạm. tr. 81-88, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Nâng cao chất lượng nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên các trường đại học sư phạm. ĐHSP Hà Nội, 2010.

8.      Trương Thị Bích. Một số vấn đề về phát triển nghề nghiệp giáo viên ở Malaysia và Singapore và bài học cho Việt Nam. Kỷ yếu Hội thảo khoa học Quốc tế, 2017, Tr. 179-192.

9.      Tào Thị Hồng Vân. Vai trò hỗ trợ giáo viên trẻ tại trường phổ thông ở các nước châu Âu. Tạp chí Dạy và học ngày nay, số 2/2018, Tr. 70-74.

10.  Trương Thị Bích. Vai trò của trường đại học sư phạm trong phát triển nghề nghiệp cho giáo viên trẻ. Tạp chí Khoa học, Trường ĐHSP Hà Nội, Volume 63, issue 2A, 2018. Tr. 23-32.

11.  Trần Thị Yến. Giải pháp hỗ trợ hoạt động nghề nghiệp của trường đại học sư phạm đối với giáo viên trẻ ở trường phổ thông. Tạp chí Khoa học, ĐHSP Hà Nội, Volume 63, Issue 217, Tr. 188-197.

12.  Nguyễn Thị Cảnh, 2010. Lắng nghe ý kiến của sinh viên khi thực tập sư phạm ở trường phổ thông. Kỷ yếu Hội thảo khoa học Nâng cao chất lượng nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên các trường đại học sư phạm. Hà Nội. Tr.153-157.

13.  Nguyễn Thành Thi. Từ “học” đến “hành” và “tập” – khoảng cách cần phải rút ngắn trong đào tạo giáo viên. Kỉ yếu hội thảo khoa học Nâng cao chất lượng nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên  các trường đại học sư phạm, trang 260, năm 2010.

14.  Nguyễn Thị Kim Dung, 2017. Phát triển năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên trẻ theo hình thức học tập tại chỗ thông qua mạng internet. Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế Phát triển đội ngũ nhà giáo đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo. Đại học Huế, tr. 78-86.

15.  Đinh Quang Báo, 2011. Báo cáo thực trạng đào tạo giáo viên phổ thông ở Việt Nam. Quỹ Hòa bình và phát triển Việt Nam.

 

ABSTRACT

Partnership between education university and high school

on young teachers’ professional development

  Truong Thi Bich

             The  Institute for Education Research, Hanoi National University of Education

 

In training and in-service training of teachers, the partnership between education universities and high schools is one of the important factors, not only play as the key point in teacher training quality but also have significant influence in the process of teachers’ self-development in high school practice. This is especially meaningful for young teachers who have just left the training environment as a learner to switch to an educational environment as a teacher with many existing difficulties.

The article generally identifies what a young teacher is; the difficulties they are facing in high school as well as the urgent situation that they need support from education university. The paper also discusses measures to connect education university with high schools in developing professional competence for young teachers to meet the requirements of educational innovation in the current context.

Keywords: Young teachers, professional development, education university, high school, partnership.

 

Publish: 10/9/2020 - Views: 107 - Lastest update: 10/9/2020 11:52:51 AM
Tin cùng chuyên mục