Email: email@ioer.edu.vn | vncsp@hnue.edu.vn
Nghiên cứu khoa học
Các đề tài NCKH

Nghiệm thu đề tài cấp bộ: "MÔ HÌNH LIÊN KẾT TRÁCH NHIỆM GIỮA TRƯỜNG PHỔ THÔNG VÀ TRƯỜNG SƯ PHẠM TRONG TỔ CHỨC THỰC TẬP SƯ PHẠM CHO SINH VIÊN"

Nghiệm thu đề tài cấp bộ:

MÔ HÌNH LIÊN KẾT TRÁCH NHIỆM GIỮA TRƯỜNG PHỔ THÔNG VÀ TRƯỜNG SƯ PHẠM  TRONG TỔ CHỨC THỰC TẬP SƯ PHẠM CHO SINH VIÊN

Mã số: 2009-17-175 

Chủ nhiệm đề tài: TS. Vũ Thị Sơn

Chất lượng giáo dục phụ thuộc vào chất lượng của đội ngũ giáo viên. Cải cách chương trình GDPT sắp tới, sau 2015 đòi hỏi cao về chất lượng giáo viên và thách thức đổi mới ĐTGV. Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để ĐTGV đáp ứng kịp thời với những đổi mới của giáo dục phổ thông.

ĐTGV và giáo dục phổ thông (GDPT) liên hệ với nhau trên nhiều khía cạnh: (i) Sản phẩm từ các cơ sở ĐTGV là nguồn nhân lực chủ chốt trong các TPT; (ii) Giữa phổ thông và sư phạm thường xuyên có sự cộng tác về chuyên môn đóng góp vào sự phát triển của nhau như TSP tham gia BDGV của TPT, hay TPT tham gia hướng dẫn SV trong TTSP,... Tuy nhiên, sự cộng tác hỗ trợ giữa các TSP và TPT, đặc biệt trong TTSP cho SV chưa có tính hệ thống, tuỳ thuộc vào bối ảnh của từng trường.

      Học phần TTSP có vị trí then chốt trong chương trình ĐTGV: TTSP mang lại cho sinh viên những hiểu biết về thực tiễn; TTSP được diễn ra ở TPT nên sinh viên có cơ hội để kết gắn những kiến thức lí thuyết đã học với thực tế. Những trải nghiệm ban đầu ở nhà trường, với HS và GV xây dựng nền tảng cho sự gắn bó và tình cảm nghề nghiệp; TTSP đặc thù ở tính chất thực hành, vận dụng lí thuyết vào trong thực hành, thực tập xử lý, giải quyết các tình huống thực trong bối cảnh cụ thể làm phát triển năng lực nghề nghiệp (NLNN). Điều đó cho thấy TTSP chứa đựng tiềm năng to lớn cho PTNN-GV và chất lượng và hiệu quả tổ chức TTSP có khả năng ảnh hưởng đến nhiều yếu tố khác.

      Thời gian qua nhiều hội thảo khoa học về đào tạo nghiệp vụ sư phạm, TTSP và trường thực hành được tổ chức ở các TSP đã chỉ ra những hạn chế ở việc học tập của SV trong TTSP. Một số nghiên cứu thực tiễn đã nêu ra những khó khăn sinh viên gặp phải trong giai đoạn TTSP do sự thiếu thống nhất giữa đào tạo ở TSP và yêu cầu của TPT, giữa kì vọng của sinh viên với những hạn chế của thực tế lớp học và năng lực hướng dẫn của GVHD, cơ hội để học hỏi thêm từ GV ở TPT, ... Mặt khác, có những ý kiến cho rằng T3T và GVHD thiếu động lực để cộng tác với TSP; quyền lợi của TPT, GV, HS chưa được tính đến trong liên kết trong TTSP.

      Sự cộng tác trách nhiệm giữa TSP và TPT trong tổ chức TTSP được xem như một phần quyết định đối với chất lượng TTSP. Mặt khác, TTSP còn như điểm kết nối giữa TSP và TPT cũng như nhiều thành phần, yếu tố  của giáo dục và đào tạo. Điều đó nảy sinh câu hỏi về khả năng liên kết TSP và TPT trong TTSP và cách để tăng cường hiệu quả của sự liên kết giữa TSP và TPT trong PTNN-GV. Những câu hỏi này cần phải được giải quyết thấu đáo trên cơ sở những luận cứ khoa học xác đáng và những dữ liệu khách quan. 

      Để độc giả hiểu kỹ hơn vấn đề nghiên cứu này, chúng tôi xin giới thiệu phần tóm tắt đề tài của tiến sĩ Vũ Sơ

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chương 1 - Một số khái niệm công cụ

1.1          Thực tập sư phạm

Trong nghiên cứu này thuật ngữ TTSP được dùng theo nghĩa rộng để chỉ chung hình thức học nghề của SVSP tại các cơ sở giáo dục (gọi chung là trường thực tập, viết tắt là T3T). TTSP như một  phần tất yếu trong chương trình ĐTGV, đảm bảo cho việc gắn kết lí luận và thực tiễn, học với hành trong đào tạo năng lực nghề dạy học. Định nghĩa này nhấn mạnh 3 thuộc tính cơ bản của TTSP: (i) Diễn ra tại CSGD, gắn với thực tiễn giáo dục và thu hút sự tham gia của các thành viên ở TPT và cán bộ quản lý giáo dục của địa phương; (ii) Hướng trực tiếp vào gắn kết, vận dụng kiến thức lí luận được học trong các môn học ở TSP vào trong thực hành, quan sát, tìm hiểu và TTGD&CN của GV; (iii) Là thời kì SV học nghề (rèn luyện tay nghề) tại môi trường thực thông qua hoạt động thực tiễn.

1.2          Phát triển nghề nghiệp giáo viên

Từ điển giáo dục Greenwood (Collins III & O’Brien 2003) xác định: “Trong giáo dục, PTNN bao gồm các quá trình và hoạt động có mục đích, hệ thống và liên tục được thiết kế để nâng cao kiến thức, kĩ năng và thái độ nghề của các nhà giáo dục để họ có thể nâng cao học tập của HS” (tr. 284). Ở đây, PTNN bao hàm cả sự phát triển của GV và thành tích học tập của HS.  

UNESCO xác định PTNN-GV’  các đặc điểm mới, lí thuyết, quan niệm mới trong nghề nghiệp (Gandhe 2010). Guskey (2002) xác định PTNN-GV’là:“những sự cố gắng có hệ thống để tạo ra sự thay đổi ở thực tiễn lớp học của GV, ở niềm tin và thái độ của GV, và ở kết quả học tập của HS” (tr. 381). Như vậy, PTNN-GV bao hàm cả sự thay đổi ở lí thuyết, thực tiễn nghề nghiệp.

Như vậy, khái niệm PTNN-GV đề cập đến sự đổi mới,  tiến bộ của giáo dục với tư cách là một nghề, bao hàm cả lí luận và thực tiễn; các khâu, các thành tố, thành phần trong một hệ thống (mối quan hệ ảnh hưởng lẫn nhau) toàn vẹn và vận động biện chứng. Điều đó cho thấy sự phát triển của GV, thực tiễn nhà trường và lí luận, quan niệm về giáo dục có liên hệ với nhau.

1.3      Mô hình liên kết trách nhiệm giữa trường phổ thông và trường sư phạm

Thuật ngữ ‘mô hình liên kết trách nhiệm giữa TSP và TPT’ (gọi tắt là mô hình liên kết SPT) được dùng để nói đến một mô hình về sự liên kết trách nhiệm giữa 2 loại thiết chế chủ chốt của hệ thống giáo dục - một thiết chế có chức năng giáo dục, còn thiết chế kia có chức năng đào tạo, trong PTNN-GV. Nói cách khác, mô hình liên kết trách nhiệm giữa TSP và TPT được xây dựng vì mục tiêu PTNN-GV. Do đó, mô hình liên kết trách nhiệm SPT có một số đặc tính cốt lõi sau: (1) Sự cộng tác giữa 2 thiết chế được dựa trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi và có trách nhiệm đối với sự PTNNGV; (2) Liên kết giữa TSP và TPT diễn ra trên nhiều mặt, khía cạnh khác nhau không chỉ trong tham gia đào tạo sinh viên trong TTSP mà còn cả bồi dưỡng giáo viên và cải tiến thực tiễn dạy học của TPT, tức là quan hệ qua lại lẫn nhau, nhiều chiều; (3) Liên kết trong TTSP là một hoạt động có tính độc lập nhất định trong mô hình liên kết giữa TSP và TPT. Như vậy, mô hình liên kết trách nhiệm giữa TPT và TSP trong tổ chức thực tập sư phạm (TTSP) cho sinh viên phải đảm bảo:

-         Tuân thủ sự phối hợp, cộng tác trách nhiệm trên cơ sở phân công chức năng trong hệ thống giáo dục có tính pháp lí (Luật Giáo dục. Điều 1, Điều 4, 2005; Điều lệ trường đại học, 2003; Điều lệ trường tiểu học, 2007; Điều lệ trường trung học, 2007).  

-         Trách nhiệm chung để gắn kết các thành phần tham gia phải bao trùm nhiệm vụ tổ chức TTSP cho SV. Điều này có nghĩa nhiệm vụ tổ chức TTSP không được tách khỏi sự liên kết giữa TPT & TSP trong các lĩnh vực, nội dung và nhiệm vụ giáo dục khác.

-   Sự cộng tác, phối hợp của các thành phần (cả bên TSP và TPT), tham gia tổ chức TTSP dựa trên trách nhiệm đã được giao hay được cam kết để bảo đảm mục đích đặt ra. Ở đây, trách nhiệm của các thành viên tham gia vừa với tư cách cá nhân vừa với tư cách tổ chức, tập thể.  

Chương 2. Các mối quan hệ giữa cơ sở ĐTGV và trường phổ thông

         TSP và TPT cộng tác trên các phương diện khác nhau, cả ở phạm vi cá nhân, nhóm hay tổ chức, thiết chế (Ure 2009; ATEE 2006).

2.1      Liên kết trong đào tạo và phát triển giáo viên 

Nghề dạy học gắn với tri thức và phát triển con người. Nó đòi hỏi GV phải nỗ lực học tập liên tục.

2.1.1      Đào tạo ban đầu

Sự hợp tác giữa TSP và TPT chủ yếu diễn ra ở việc tổ chức TTSP cho SV (ATEE 2006) với sự hướng dẫn của giáo viên. Hai phương thức học chính của SV: học bằng quan sát, phân tích, tìm hiểu thực tiễn  học qua tập làm, phân tích và suy ngẫm về những hành xử của mình.  Với học nghề tại TPT, TPT được khai thác ở những vai trò sau: Thứ nhất- TPT được gắn vai trò như địa bàn, hiện trường thực mang những hiện tượng, sự vật, qui luật,... được phản ánh trong các trong các môn học mà SV được học ở TSP;Thứ hai, TPT như địa bàn để học sinh thực hành, thực tập ‘vai’ của GV trong các hoạt động nghề dưới sự hướng dẫn của giáo viên ở TPT (được gọi là giáo viên hướng dẫn/GVHD); Thứ ba, TPT là nguồn ‘kiến thức’ thực tiễn để SV học về việc dạy.

2.1.2      Phát triển giáo viên mới vào nghề

Phát triển giáo viên mới vào nghề (GVTS) có ý nghĩa rất quan trọng. Đây là giai đoạn GVTS ‘vừa làm - vừa học’ dưới hỗ trợ và giám sát của đồng nghiệp có kinh nghiệm. Ba hình thức học chính của GVTS: học qua các lớp bồi dưỡng, tập huấn định kì; học qua dự giờ, phân tích và rút kinh nghiệm các giờ học của đồng nghiệp; học qua làm, qua trải nghiệm việc thực thi các nhiệm vụ ở nhà trường. Sự cộng tác giữa TSP và TPT là để giúp GVTS cũng như GVHD có được cách ‘học cách dạy’  cách ‘dạy cách dạy’ cho phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của mình. 

2.1.3      Phát triển giáo viên thường xuyên

Phát triển giáo viên diễn ra trong suốt quá trình hành nghề để đáp ứng yêu cầu mới của xã hội và là nhu cầu của GV. Các mức thang trong Chuẩn nghề nghiệp GV tương ứng với sự phát triển năng lực nghề và có trách nhiệm nghề quan trọng hơn. Hai phương thức chính để PTGV là: Học tập lẫn nhau trong cộng đồng sư phạm tại nơi công tác; Học thông qua trải nghiệm, suy ngẫm về hoạt động của bản thân. Mặc dù phát triển GVTX chủ yếu diễn ra tại TPT nhưng TSP tham gia với tư cách hỗ trợ cho TPT tiếp cận những tiến bộ, những kết quả nghiên cứu và quan điểm mới.  

2.2      Liên kết trong nghiên cứu cải tiến thực tiễn giáo dục và đào tạo

Giáo dục là quá trình làm biến đổi đối tượng và qua đó, mang lại sự phát triển cho cả chủ thể tác động. Nghiên cứu cải tạo thực tiễn giáo dục mang lại lợi ích đa chiều cho cả thực tiễn (bao gồm người hưởng lợi trực tiếp từ sự thay đổi đó (HS), người thực hiện tác động đó) và khoa học giáo dục và ĐTGV. Giáo dục hiện đại lấy người học và việc học làm trung tâm của mọi nỗ lực, đổi mới trong giáo dục. Vì thế, thực tiễn trường học trở thành đối tượng nghiên cứu phát triển nghề nghiệp.

Trong hệ thống giáo dục chức năng nghiên cứu được chỉ định cho các cơ sở nghiên cứu và các trường đại học. Sự cộng tác cải tiến thực tiễn dạy học và giáo dục thu hút sự tham gia của các thành viên của TPT và TSP như giáo sinh, GVPT, GgVSP, HS,.. sẽ tạo ra môi trường học tập, hỗ trợ lẫn nhau và nhờ đó, mỗi thành viên trở nên có hiểu biết, tự tin và thành thạo nghề nghiệp hơn.

2.3      Sự liên kết trong bảo đảm hiệu quả và chất lượng giáo dục, đào tạo

Mối quan hệ giữa TSP và TPT phản ánh quan hệ giữa cơ sở đào tạo và đơn vị sử dụng sản phẩm đào tạo. ‘Sản phẩm’ đào tạo của các TSP là nguồn nhân lực cho các TPT thực hiện chức năng giáo dục của mình. Quan hệ giữa TSP và TPT phản ánh quan hệ giữa bên cung bên cầu: Một mặt, TPT (sử dụng sản phẩm) giúp TSP (bên cung cấp) nắm bắt được yêu cầu của ‘thị trường’ để từ đó xác định yêu cầu về đầu ra, định hướng ‘nguyên liệu đầu vào’ đến ‘quá trình gia công’ thích hợp. Như vậy, thực tiễn phổ thông chi phối, định hướng mục tiêu ĐTGV của các TSP; Mặt khác, chất lượng học tập của học sinh, của thực tiễn TPT phản ánh phần nào chất lượng, trình độ học tập và phát triển của GV, tức là kiểm định, đánh giá chất lượng ‘sản phẩm’ của đào tạo trong thực tiễn, giúp các TSP có điều chỉnh cần thiết để nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng yêu cầu. Như vậy, thực tiễn phổ thông là trạm ‘OTK’ cho chất lượng đào tạo của các TSP. 

Như vậy, cộng tác giữa TSP và TPT trong ĐTGV có thể diễn ra ở các khía cạnh: (i) Trong đào tạo và bồi dưỡng GV; và (ii) Trong nghiên cứu cải tạo giáo dục và đào tạo; và (iii) Liên kết trách nhiệm bảo đảm chất lượng giáo dục, đào tạo. Ba khía cạnh này không tồn tại tách biệt nhau mà phối hợp lại trong quá trình vận động, cải tạo và hoàn thiện cho mục tiêu giáo dục chung.

Chương 3. Thực trạng liên kết giữa TPT và TSP trong tổ chức thực tập sư phạm

         Các dữ liệu thu được qua các tài liệu, văn bản của cơ quan quản lý và các TSP trong và ngoài nước; qua điều tra trực tiếp của đề tài ở 3 cơ sở (ĐH Cần Thơ, ĐHSP Hà Nội và ĐHSP-ĐH Huế) và các trường thực tập của chúng trong thời gian từ 3.2009 đến 2.2011 được trình bày. Một số thông tin từ một số nghiên cứu khác trong thời gian mới đây cũng được sử dụng và so sánh với số liệu của đề tài.

Phân tích kết quả khảo sát cho thấy liên kết giữa TSP và TPT trong tổ chức TTSP có những hạn chế: TTSP và sự hướng dẫn của TPT được TSP và SV xem là rất quan trọng; Sự cộng tác trong TTSP được tiến hành riêng biệt, tách rời với các lĩnh vực khác như BDGVTX, nghiên cứu, cải tiến thực tiễn,..); (2) Sự tham gia của cơ quan QLGD địa phương (Sở GD-ĐT tỉnh), chủ yếu ở quản lý hành chính, chưa quản lý chất lượng giáo dục HS và PTGV tham gia vào TTSP;  Quyền lợi của T3T, GVHD, HS và TPT chưa được quan tâm đúng mức và tiềm năng của TPT trong phát triển NLNN cho SV còn chưa được khai thác đầy đủ, TPT chưa chủ động; Mỗi TSP đều thu hút nhiều TPT tham gia vào TTSP nhưng cộng tác chủ yếu diễn ra giữa 2 thiết chế hơn là quan hệ giữa TSP với một mạng lưới các T3T của mình. Các TSP chưa có chiến lược phát triển mạng lưới T3T; Công tác hướng dẫn TTSP cho SV chủ yếu mới được thực hiện theo kinh nghiệm cá nhân; (6) Đội ngũ GVPT tham gia TTSP chưa được quản lý, tập huấn và đánh giá để bảo đảm cho việc hướng dẫn TTSP có chất lượng và hiệu quả. Chưa có những đánh giá về kết quả tác động của GVHD đến NLNN của SV.

Chương 4.  Mô hình liên kết trách nhiệm giữa TPT và TSP trong tổ chức TTSP

4.1          Luận điểm chính để xây dựng ‘mô hình liên kết trách nhiệm giữa TSP và TPT’

4.1.1      PTNN-GV là sứ mệnh chung của cả TSP và TPT.

4.1.2      Đào tạo giáo viên là nhằm phát triển năng lực nghề dạy học ở sinh viên

4.1.3      Quan niệm về TTSP hiệu quả

Thứ nhất, ‘TTSP hiệu quả’ mang mục tiêu phức hợp của ĐTGV theo hướng PTNNGV.

Thứ hai, ‘TTSP hiệu quả’ là một cấu phần của quá trình PTGV, cả đối với người học nghề và người truyền nghề (tức là các GVPT tham gia hướng dẫn TTSP).

Thứ ba, ‘TTSP hiệu quả’ là ‘miền’ giáp ranh giữa cơ sở ĐTGV và cơ sở giáo dục. 

4.2          Cấu trúc của ‘ mô hình liên kết trách nhiệm TNN-GV giữa TSP và TPT

4.2.1      Các thành phần

- Hai bộ phận chính của mô hình SPT đại diện cho 2 loại thiết chế TSP và TPT và giao nhau giữa chúng là đường mô tả TTSP. Có thể hình dung 2 khối/mặt cắt và giao nhau là TTSP.

- Khối hình mô tả TSP sẽ bao gồm 3 thành tố cơ bản: GgV, SV và nội dung học và trọng tâm của mô hình này là việc học nghề của SV, tương tác giữa 3 thành tố trên.

- Khối mô tả TPT sẽ bào gồm 3 thành tố cơ bản: GV, HS và nội dung học và trọng tâm của mô hình này là học tập của học sinh, tương tác giữa 3 thành tố trên.

- Phần giao nhau của 2 khối mô tả TSP và TPT là mô tả TTSP, ở đây sẽ chứa đựng cả 6 thành tố: GV, HS, nội dung học, GgV, SV, nội dung học nghề.

- Phương thức học nghề của SV trong TTSP và sự tham gia của các thành viên từ 2 thiết chế sẽ quyết định hình dạng, qui mô của khối/mặt giao nhau để mô tả TTSP.

4.2.2.     Chức năng của các hợp phần trong mô hình SPT trong tổ chức TTSP

Như mô tả tóm tắt ở trên mô hình liên kết trách nhiệm để PTNN-GV (mô hình SPT) có hai khối phần chính và TTSP là một hoạt động trong mô hình này. Trong mô hình SPT hướng tới mục tiêu PTNN-GV hai khối TSP và khối TPT có chức năng cơ bản sau:

4.2.2.1 Chức năng của hợp phần đào tạo (TSP)

Thứ nhất, TSP trong mô hình SPT phải đảm nhiệm chức năng dẫn đường cho sự PTNN-GV, tức là sự tiến bộ không chỉ của thực tiễn giáo dục mà còn của lí luận, đường lối, quan điểm khoa học giáo dục và khoa học sư phạm. Ở đây nhấn mạnh đến chức năng kéo theo sự đổi mới của thực tiễn nhà trường phổ thông của TSP.

Thứ hai, cơ sở ĐTGV là thành phần chịu trách nhiệm xây dựng chương trình phát triển năng lực nghề cho sinh viên mà TTSP là một cấu phần cốt lõi trong đó. Điều này nhấn mạnh đến chức năng đào tạo của cơ sở ĐTGV.

Thứ ba, với tư cách của một đơn vị để phát triển bền vững chức năng tự cải tạo, hoàn thiện của tổ chức là một nhu cầu tự thân (bao gồm cả sự phát triển của đội ngũ cán bộ, GgV và những quá trình, hoạt động trong đó). Nói cách khác, TSP sẽ luôn luôn phải gắn đào tạo với việc kiểm định chất lượng đào tạo và cải tiến thực tiễn đào tạo cho phù hợp với sự tiến bộ của khoa học sư phạm và thực tiễn đào tạo. Ở đây cần nhấn mạnh đến chức năng tự quản lý, đánh giá và phát triển khoa học sư phạm của TSP.

4.2.2.2 Chức năng của hợp phần giáo dục (tức TPT liên kết)

Thứ nhất, bảo đảm sự phát triển của mọi học sinh theo mục tiêu đặt ra. Điều này trước hết đòi hỏi học tập của HS phải được xem là mục tiêu của mọi hoạt động của nhà trường, kể cả TTSP của sinh viên. Sau đó, sự phát triển của mỗi học sinh ở bất cứ hoàn cảnh hay khả năng nào cũng phải được quan tâm và là trách nhiệm của giáo viên, nhà trường;

Thứ hai, bảo đảm thực tiễn nhà trường không ngừng được cải tiến để nâng cao thành tích học tập của tất cả học sinh. Ở đây nhiệm vụ giáo dục học sinh gắn kết chặt chẽ với việc nghiên cứu và giải quyết những vấn đề, cản trở trong thực tiễn nhà trường. Điều này nhấn mạnh đến việc không ngừng tìm kiếm những giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường trên cơ sở tìm hiểu đối tượng, hoàn cảnh và cải tiến quá trình dạy học và giáo dục.

Thứ ba, phát triển đội ngũ giáo viên của nhà trường trên cơ sở xây dựng văn hoá học tập của cộng đồng nhà trường và học tập suốt đời của mỗi giáo viên. Ở đây nhấn mạnh đến ‘tương tác nghề nghiệp’ giữa các đồng nghiệp trong nhà trường và sự am hiểu về việc học. Điều này đòi hỏi sự quan tâm xây dựng môi trường hợp tác học tập trong chính sách quản lý của nhà trường.

4.2.2.3 Hợp phần hỗ trợ

Mô hình liên kết SPT vận hành trong hệ thống giáo dục. Sự tồn tại của mô hình SPT sẽ thúc đẩy sư phát triển của hệ thống giáo dục nói chung và của từng thành phần trong mô hình. Vì thế, nền tảng chính sách, quản lý giáo dục các cấp làm cơ sở xây dựng cho mô hình liên kết SPT có thể vận hành thuận lợi. Mặt khác, đơn vị có chức năng quản lý chất lượng giáo dục nói chung, cơ quan quản lý giáo dục (QLGD) sẽ tham gia quản lý chất lượng mô hình liên kết SPT đối với PTNNGV. Điều đó có nghĩa là cơ quan QLGD địa phương sẽ chịu trách nhiệm về những công việc sau:

()      Đưa tiêu chí về sự PTGV, trong đó có đào tạo SV vào hệ thống tiêu chí đánh giá TPT cũng như đánh giá, xét nâng bậc GV;

()      Theo dõi và đánh giá chất lượng của mô hình liên kết SPT thông qua đánh giá sự phát triển của thực tiễn nhà trường, bao gồm cả sự tiến bộ của GV và đặc biệt, kết quả học tập của học sinh;

()      Xây dựng qui hoạch phát triển qui mô và chất lượng của mô hình liên kết SPT trong vùng.

()      Tạo ra những danh hiệu và quyền lợi để khuyến khích và công nhận sự tham gia đóng góp của các tập thể, cá nhân vào sự nghiệp PTNNGV.

Như vậy, sự tham gia của cơ quan QLGD trong mô hình liên kết SPT như cơ quan pháp l‎‎í, kiểm định và quản lý chất lượng.

4.2.3 Trung tâm của mô hình - Thực tiễn trường phổ thông

Thực tiễn trường học ‎trong hệ thống giáo dục không chỉ phản ánh đời sống sinh động của giáo dục mà còn là thành tố, môi trường và phương tiện của ĐTGV. Thực tiễn trường học cần được xem là trung tâm của PTNN-GV. Ở đây thực tiễn trường học cần được xem xét ở trạng thái vận động và phát triển. Một mặt, thay đổi thực tiễn trường học là điều kiện của PTNN-GV. Mặt khác, tìm tòi và thúc đẩy sự thay đổi của thực tiễn sẽ dẫn đến sự phát triển lí luận, khoa học giáo dục để từ đó thúc đẩy sự phát triển của thực tiễn ĐTGV và khoa học sư phạm, tức là PTNN-GV.

Thực tiễn trường học trong mô hình liên kết SPT là thành phần tham gia vào quá trình ĐTGV. Điều đó nhấn mạnh việc đưa thực tiễn trường học trở thành đối tượng được nghiên cứu để phát triển lí luận giáo dục và khoa học sư phạm, đồng thời để cải tạo, đổi mới, hoàn thiện nó. Điều này có liên quan với việc thực hiện TTSP theo phương thức nghiên cứu để PTNN-GV. Như vậy, phần trung tâm có chức năng cơ bản sau:

Thứ nhất, là đối tượng mục tiêu của các hoạt động nghiên cứu, đào tạo-bồi dưỡng GV.

Thứ hai, kết nối, tích hợp các hoạt động diễn ra cho mục tiêu PTNN-GV, bao gồm lợi ích cho cả  TSP, TPT.

Thứ ba, hoạt động TTSP lôi cuốn các thành viên của cả hai khối.

4.3          Cơ chế vận hành của mô hình liên kết SPT 

4.3.1   Nghiên cứu sự vận động của thực tiễn trường học dưới tác động hợp tác sư phạm

PTNN-GV là phạm trù khoa học phản ánh nhiều yếu tố và các mối quan hệ tương tác lẫn nhau trên cả hai bình diện: (1) sự phát triển của các thành viên trong lĩnh vực nghề (như giáo viên, học sinh,...); (2) sự phát triển của chính nghề dạy học. Nói cách khác, PTNN-GV tích hợp, hoà quện sự phát triển của lí luận và thực tiễn, nghiên cứu và hành động. Điều này một mặt đòi hỏi thực tiễn trường học phải được đối xử như một đối tượng để nghiên cứu và tác động nhằm cải tiến và không ngừng đổi mới. Mặt khác, tiếp cận PTNN-GV đòi hỏi cách nhìn tích hợp, toàn diện, hệ thống (không tách biệt, xé lẻ) trong việc giải quyết nhiệm vụ giáo dục và đào tạo.

Sự phân tích ở trên cũng đã cho thấy thực tiễn TPT có chức năng rất đặc biệt: (1) phản ánh đồng thời sự PTGV và sự tiến bộ của học sinh; (2) là thành tố của quá trình ĐTGV, kết nối nhiều lĩnh vực, nhiều hoạt động. Điều đó khẳng định thực tiễn TPT đã chứa đựng được nhiều yếu tố có liên quan với PTNN-GV. Do đó, cách thức thúc đẩy sự phát triển của thực tiễn trường học như thế nào  đó để dẫn đến sự PTNN-GV một cách tổng thể, bao gồm cả GV, học tập của học sinh, lí luận và thực tiễn ĐTGV buộc phải thu hút sự tham gia của các thành phần vào nghiên cứu sự vận động của thực tiễn trường học dưới tác động sư phạm. Như vậy, nghiên cứu tác động cải tiến thực tiễn trường học với sự tham gia của cả TSP và TPT sẽ là cơ chế bảo đảm cho sự PTNN-GV liên tục.

4.3.2   Nghiên cứu tác động cải tạo thực tiễn

Nghiên cứu tác động cải tạo thực tiễn”, viết tắt NCTĐ (trong tiếng Anh là action research) được xác định là một phương thức nghiên cứu trong đó hai hoạt động vốn tách biệt, hành động và nghiên cứu, cùng gắn lại với nhau (Cohen và Manion 1994). Guskey (2000) đã chỉ ra rằng Ý tưởng về NCTĐ là cách tốt nhất để xác định và điều tra những vấn đề giáo dục tại chính nơi vấn đề đó xuất hiện: tại lớp học và tại trường học. Thông qua việc tích hợp nghiên cứu tác động vào các bối cảnh này và để những người đang hoạt động trong môi trường đó tham gia vào các hoạt động nghiên cứu, các phát hiện sẽ được ứng dụng ngay lập tức và vấn đề sẽ được giải quyết nhanh hơn” (Dự án Việt – Bỉ sách đã dẫn, tr.3).

4.3.3   Phương thức đào tạo giáo viên dựa trên NCTĐ cải tiến thực tiễn

Phương thức đào tạo dựa trên tìm tòi, nghiên cứu đã được khẳng định ưu điểm do phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo cho SV trong việc xây dựng kiến thức, rèn luyện tư duy phê phán và hiểu biết thực tế. Mặt khác, trong mô hình SPT phương thức ĐTGV dựa trên NCTĐ thực tiễn còn đảm bảo cho sự PTNN-GV được bền vững và đồng bộ. Ở đây đề cập đến 3 dấu hiệu cơ bản của việc học theo hướng nghiên cứu trong ĐTGV, cụ thể trong TTSP như sau:

Thứ nhất, cải tạo thực tiễn TPT như con đường chủ yếu để sinh viên học về nghề dạy học.

Thứ hai, nội dung, nhiệm vụ học của sinh viên sư phạm được dựa trên việc tìm tòi, nghiên cứu các vấn đề của thực tiễn trường học. Vì thế, tình huống, vấn đề của thực tiễn trở thành đơn vị học tập về nghề, tức là gắn kết, tích hợp kiến thức lí luận với thực tiễn, gắn học lí thuyết với thực hành. Thực tiễn TPT trở thành đối tượng để nghiên cứu, phân tích, lí giải, công nhận và tác động. Ở đây đối tượng học (là thực tiễn TPT) được tồn tại trong tính chỉnh thể, phức hợp, độc đáo và thực tế. Như vậy, chuyển việc học coi trọng kiến thức lí thuyết đơn lẻ của các môn học riêng rẽ, chủ yếu diễn ra tại giảng đường đại học, xa rời thực tiễn, tách rời học và hành sang lối học tìm tòi nghiên cứu về thực tiễn TPT và coi trọng kiến thức thực tiễn. Điều đó cho thấy thực tiễn TPT vừa mở ra khả năng để người học kết nối, lí giải những kiến thức đã học vừa để khám phá thực tiễn, phát hiện ra những vấn đề cũng như những quan hệ, qui luật mới, riêng của thực tiễn TPT.

Thứ ba, hợp tác bình đẳng, dân chủ giữa các thành phần tham gia vào PTNN-GV trong quá trình tiến hành NCTĐ cải tạo thực tiễn trường học.

Tóm lại, việc chuyển đổi sang phương thức học nghề của sinh viên sư phạm theo hướng NCTĐ cải tạo thực tiễn TPT đã nhấn mạnh việc học từ thực tiễn, trong thực tiễn và vì sự phát triển của thực tiễn TPT. Phương thức ĐTGV theo hướng nghiên cứu như vậy sẽ mang đến những kết quả tích hợp “3 trong 1” cả chất lượng ĐTGV, cả sự tiến bộ của nghiên cứu khoa học giáo dục và sư phạm đồng thời cả sự cải thiện thực tiễn nhà trường, tức là đưa đến PTNN-GV.

4.3.4      Tổ chức TTSP cho sinh viên

         Việc tổ chức TTSP cho SV trong mô hình liên kết trách nhiệm vì PTNN-GV đòi hỏi:

         Thứ nhất, TTSP cũng như các hoạt động liên kết khác giữa TSP và TPT là một phần trong chương trình hoạt động của TSP cũng như TPT, như 1 nhiệm vụ chuyên môn.

Thứ hai, mạng lưới các trường thực tập (T3T) của từng TSP được phân loại trên cơ sở các nhiệm vụ TTSP được giao.

Thứ ba, thành lập bộ phận phụ trách TTSP trong TPT.

Thứ tư, xây dựng hệ thống nhiệm vụ của SV trong TTSP theo hướng gắn kết nghiên cứu hợp tác giữa GgV – SV - GV cho mục tiêu chất lượng tác động sư phạm, bao gồm: Tìm hiểu về HS, GV, lớp học, nhà trường và tình hình giáo dục thực tế của nhà trường, của địa phương; Tìm hiểu kiến thức thực tiễn về nghề sư phạm; Thực hành và trải nghiệm những tác động sư phạm được diễn ra trong môi trường thực;

Thứ năm, quản lí chất lượng và hiệu quả liên kết tổ chức TTSP cho SV trên các bình diện phát triển GV, phát triển nhà trường, đặc biệt học tập của HS cũng như  công tác đào tạo. 

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1.             Kết luận

1.1       Sự liên kết giữa TSP và TPT là vấn đề được các nhà nghiên cứu, chính sách và quản lý giáo dục quan tâm. Sự liên kết này được coi là điểm nóng cần giải quyết trong cải cách giáo dục và ĐTGV sắp tới. Trong hệ thống giáo dục mối quan hệ giữa TSP và TPT tồn tại trên 3 lĩnh vực chính: (i) trong đào tạo và phát triển GV, chủ yếu là trong TTSP của SV ở TPT; (ii) trong nghiên cứu cải tiến thực tiễn giáo dục và đào tạo; (iii) trong quản lý, đảm bảo chất lượng của giáo dục và ĐTGV. Sự tham gia trách nhiệm của mỗi thành viên, bao gồm cả ở TSP, TPT và cơ quan QLGD các cấp, là điều kiện bảo đảm chất lượng và hiệu quả của sự cộng tác giữa TSP với TPT và cho kết quả hoạt động của mỗi thành viên cũng như của sự liên kết.

1.2       Sự liên kết trách nhiệm giữa TSP và TPT trong đào tạo và phát triển giáo viên là nhân tố thúc đẩy chất lượng và sự đổi mới của giáo dục và ĐTGV. Thứ nhất, cộng tác trách nhiệm giữa TSP và TPT sẽ kết nối đào tạo ban đầu với bồi dưỡng giáo viên đang hành nghề. Điều này hàm ý rằng sự tham gia của các thành viên ở TPT vào đào tạo cho sinh viên là cơ hội để phát triển năng lực của họ (tức là học qua hướng dẫn, dạy người khác học) cũng như tạo ra môi trường học tập trong nhà trường. Thứ hai, cộng tác trách nhiệm giữa TSP và TPT theo quan điểm người học là trung tâm sẽ tích hợp các quá trình phát triển giáo viên với nghiên cứu cải tiến thực tiễn giáo dục - đào tạo và đảm bảo chất lượng dạy học thực tế ở TPT vào bảo đảm kết quả học tập của học sinh, như giá trị cốt lõi của việc học nghề của SV tại TPT.

1.3       TTSP trong chương trình ĐTGV giữ vị trí vô cùng đặc biệt không chỉ đối với quá trình rèn luyện kĩ năng, xây dựng tình cảm và bản lĩnh nghề nghiệp của SV mà còn vì khả năng tạo ra sự phát triển toàn diện. Thực trạng tổ chức TTSP hiện nay đã bộc lộ một số hạn chế như: TTSP tách rời với BDGVTX, nghiên cứu, cải tiến thực tiễn; Tổ chức TTSP - thiếu phối hợp chuyên môn chặt chẽ giữa TSP và TPT;Cộng tác TSP với TPT chủ yếu là quan hệ giữa 2 đơn vị hơn là giữa TSP với một mạng lưới các T3T; Các T3T thiếu chủ động, thiếu động lực tham gia TTSP (không được ghi nhận từ TSP hay Bộ GD-ĐT; Hướng dẫn TTSP cho SV chủ yếu được thực hiện theo kinh nghiệm cá nhân của GV, không được tập huấn, quản lý; Sự tham gia vào TTSP của QLGD địa phương giới hạn ở quản lý hành chính, chưa quản lý chất lượng giáo dục; Chất lượng tham gia của T3T, GVHD đến SV – chưa được quan tâm, đánh giá. Nguyên nhân chủ yếu là tính chất đặc thù của việc học nghề của SVSP ở TPT còn chưa được xác định rõ và vai trò của TPT trong ĐTGV còn chưa được nhận thức và khai thác đầy đủ các tiềm năng của TPT. Phương thức học của SV ở TPT còn chưa phù hợp, quá nhấn mạnh vào việc thực hành công việc, học theo mẫu của GV mà chưa chú trọng phát triển năng lực tư duy phê phán, sáng tạo và phong cách riêng

1.4       Tăng cường liên kết trách nhiệm giữa TSP và TPT được xem là yếu tố quyết định cho việc cải cách ĐTGV theo hướng hình thành NLNN đáp ứng yêu cầu của thực tiễn TPT. Mô hình liên kết trách nhiệm giữa TSP và TPT vì sự PTNN-GV (mô hình liên kết SPT) là nền tảng cho đổi mới của lí luận và thực tiễn không chỉ của giáo dục mà cả của ĐTGV. Với mục tiêu PTNN-GV, sự tiến bộ của thực tiễn trường học (bao gồm người học, đội ngũ GV) và sự tiến bộ ở lí luận, quan niệm, tư tưởng giáo dục luôn gắn kết, hoà quện với nhau. Nói cách khác, PTNNGV kết nối, tích hợp sự thay đổi ở thực tiễn với tiến bộ về lí luận; gắn phát triển của GV với việc cải tiến thực tiễn lớp học (mà kết quả của nó là thành tích học tập của HS sẽ được nâng lên); tích hợp đào tạo và phát triển của GV. Điều đó để nhấn mạnh đến quan điểm tích hợp trong cải cách giáo dục và phát triển giáo viên.

1.5       Mô hình liên kết SPT với 2 thành phần chính: TSP giữ vai trò dẫn đường cho quá trình tìm tòi, phát hiện và giải quyết vấn đề của thực tiễn giáo dục và ĐTGV. Mục đích nghiên cứu thực tiễn trường học vừa để cải tiến thực tiễn vừa để phát triển lí luận về giáo dục và về ĐTGV; TPT giữ vai trò tổ chức ‘tương tác nghề nghiệp’ giữa các đồng nghiệp ở các trình độ, kinh nghiệm khác nhau, trong đó hoạt động nghề nghiệp là đối tượng trao đổi và nghiên cứu. Mô hình liên kết SPT đặt thực tiễn trường học vào trung tâm và sự vận động của thực tiễn trường học dưới sự hợp tác NCTĐ của các thành viên của TSP và của TPT là cơ chế đưa đến PTNN-GV. Trong mô hình liên kết SPT, TTSP là hoạt động cốt lõi thực hiện cơ chế vận hành của mô hình SPT.

1.6       Trong mô hình liên kết SPT hoạt động TTSP bằng phương thức nghiên cứu tác động cải tạo thực tiễn trường học thúc đẩy sự vận động và phát triển của từng thành phần tham gia và sự PTNN-GV tổng thể. Điều này nhấn mạnh đến sự tích hợp các nhiệm vụ trong TTSP: (i) Học tập của học sinh làm trung tâm – là mục tiêu trọng tâm của việc học nghề và dạy nghề; (ii) Sự phát triển kiến thức, kĩ năng và tình cảm nghề nghiệp của giáo viên và của GSh là kết quả của các tương tác nghề nghiệp trong quá trình tham gia hợp tác nghiên cứu tác động cải tạo thực tiễn trường học; (iii) Sự phát triển khoa học giáo dục và khoa học sư phạm là kết quả của sự hợp tác nghiên cứu giữa GgV, GV và GSh trong thực hiện các nhiệm vụ TTSP. Nói cách khác, TTSP là một hoạt động then chốt được tích hợp trong chương trình liên kết tổng thể vì mục tiêu PTNNGV.  Điều này có nghĩa là phương thức học nghề trong TTSP phải theo hướng nghiên cứu cải tạo thực tiễn trường học và thu hút sự hợp tác của các thành phần tham gia vào mô hình. Cụ thể các nhiệm vụ TTSP của SV hướng vào: Tìm hiểu về HS, GV, lớp học, nhà trường và tình hình giáo dục thực tế của nhà trường, của địa phương; Tìm hiểu kiến thức thực tiễn về nghề sư phạm; và Thực hành và trải nghiệm những tác động sư phạm được diễn ra trong môi trường thực.

1.7       Việc tổ chức TTSP cho SV trong mô hình SPT đòi hỏi : Thứ nhất, TTSP cũng như các hoạt động liên kết khác giữa TSP và TPT là một phần trong chương trình hoạt động của TSP cũng như TPT, như 1 nhiệm vụ chuyên môn. Thứ hai, mạng lưới các trường thực tập (T3T) của từng TSP được phân loại trên cơ sở các nhiệm vụ TTSP được giao. Thứ ba, thành lập bộ phận phụ trách TTSP trong TPT. Thứ tư, xây dựng hệ thống nhiệm vụ của SV trong TTSP theo hướng gắn kết nghiên cứu hợp tác giữa GgV – SV - GV cho mục tiêu chất lượng tác động sư phạm. Thứ năm, quản lí chất lượng và hiệu quả liên kết tổ chức TTSP cho SV trên các bình diện phát triển GV, phát triển nhà trường, đặc biệt học tập của HS cũng như  công tác đào tạo.

2.            Kiến nghị

Quá trình nghiên cứu và kết quả của đề tài đã dẫn đến một số kiến nghị sau:

2.1       Nghiên cứu này đã giới thiệu mô hình liên kết SPT, thiết lập mối quan hệ trách nhiệm chung giữa TSP và TPT vì sự PTNN-GV. Mô hình lí thuyết được phát triển theo hướng cải cách ĐTGV định hướng phát triển năng lực thực hiện ở SV. Tuy nhiên, mô hình lí thuyết này cần được thử nghiệm để kiểm chứng trong thực tiễn về giá trị và mức độ khả thi của nó.

2.2       Mô hình liên kết trách nhiệm vì PTNN-GV kết nối, tích hợp được nhiều lĩnh vực hoạt động với nhau và do đó, hoạt động giáo dục và ĐTGV không bị tách rời, riêng biệt và cản trở nhau. Vì thế, sự áp dụng mô hình liên kết SPT sẽ có thể mang đến hiệu quả cao và tác động đến nhiều mặt. Tuy nhiên, mô hình SPT thu hút sự tham gia tự giác của nhiều thiết chế giáo dục và đào tạo cũng như cơ quan quản lí giáo dục vì trách nhiệm PTNN-GV. Trong hoàn cảnh hiện nay, cam kết trách nhiệm của mỗi thiết chế vì PTNN-GV còn chưa được ‎nhận thức và chưa được kiểm định chính thức nên vẫn cần những qui định có tính pháp lí của Nhà Nước, ngành để tổ chức TTSP được xem là trách nhiệm phát triển chuyên môn của các thiết chế giáo dục. Đây có thể điểm khởi đầu để mô hình SPT thể hiện được hiệu quả và từ đó sẽ có điều kiện thuận lợi để đi vào cuộc sống.

2.3       Mô hình SPT sẽ hiệu quả cao nếu phương thức học trong TTSP theo hướng nghiên cứu tác động cải tạo thực tiễn trường học. Trong chương trình ĐTGV, học phần TTSP là một thành phần quan trọng và có tính chỉnh thể. Vì thế, học phần TTSP phải hướng đến những yêu cầu phục vụ tìm hiểu và cải tạo thực tiễn và do đó xây dựng hệ thống nhiệm vụ học tập cho SV tại TPT. Với phương thức học bằng nghiên cứu các nhiệm vụ phải được cấu trúc hệ thống để sự tham gia của SV ở các mức độ phức tạp phù hợp. Vì thế, việc nghiên cứu, chuẩn bị những nhiệm vụ học tập cho SV trong TTSP cần được tiến hành từng bước.

2.4       Nghiên cứu chỉ ra rằng tham gia liên kết với TSP trong TTSP sẽ mang lại nhiều lợi ích cho TPT nói riêng và nghề nghiệp giáo viên nói chung. Vì thế, các cấp quản lý cần định hướng phát triển nhà trường phổ thông theo hướng tham gia vào liên kết với TSP để PTNN-GV như một trách nhiệm pháp lí. Vì thế, cần có những điều khoản trong Luật Giáo dục, trong Điều lệ nhà trường phổ thông, các văn bản, qui định  về liên kết giữa TSP và TPT. Bên cạnh đó, cần đưa ra những tiêu chí đánh giá nhà trường, đánh giá GV về nhiệm vụ hướng dẫn SV, bồi dưỡng đồng nghiệp.

2.5       Việc tham gia cộng tác cùng TSP trong các lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu là quyền lợi và trách nhiệm của TPT. Điều đó để nhấn mạnh rằng các cấp quản lý và TSP cần xây dựng chiến lược phát triển mạng lưới TPT liên kết ở mỗi địa phương để tạo động lực cho các TPT có hướng phấn đấu, mang lại lợi ích chung cho cả ĐTGV, chất lượng thực tiễn giáo dục. Đồng thời, các TSP cần có những hình thức ghi nhận, đánh giá sự tham gia của GVHD vào TTSP.

2.6       Nghiên cứu cải tiến thực tiễn hoạt động dạy và học trong TPT là động lực cho mô hình PTNNGV. Tuy nhiên, những lí luận về nghiên cứu tác động thực tiễn và nghiên cứu bài học còn chưa được phổ biến ở các TPT hiện nay. Vì thế, TSP và các cấp quản lý giáo dục cần có kế hoạch giới thiệu, áp dụng mô hình này trong thực tiễn.

2.7       Để từng bước áp dụng mô hình liên kết để PTNN-GV vào thực tiễn cần có một số những điều chỉnh trước mắt trong qui định về TTSP. Cụ thể: Xác định yêu cầu học tập và phát triển kĩ năng nghề (chuẩn đầu ra) của học phần TTSP; Thiết kế hệ thống nhiệm vụ TTSP gắn với việc tìm hiểu và nghiên cứu tác động thực tiễn để phát triển kĩ năng và kinh nghiệm nghề; Cụ thể hoá các tiêu chí và công cụ đánh giá về những kĩ năng nghề một cách khách quan để GVHD làm cơ sở để hướng dẫn và trao đổi với SV; Xác định cụ thể những nhiệm vụ của GVHD và GgV cố vấn của TSP tại TPT; Tăng cường tự đánh giá của SV và đánh giá của GVHD và GgV cố vấn cho những sản phẩm thu hoạch học tập của SV tại TPT.

2.8       Hiện nay, hầu hết GVHD được huy động từ nguồn GVPT vào tham gia hướng dẫn sinh viên TTSP mà chưa được trải qua những huấn luyện, bồi dưỡng cần thiết cả về trách nhiệm, kĩ năng chuyên môn và tâm lí sư phạm. Thực tiễn cho thấy hiệu quả hướng dẫn TTSP cũng không đồng đều do phụ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm cá nhân của GVHD. Vì thế, các TSP cần đưa nội dung bồi dưỡng cho GVHD như một trách nhiệm không chỉ đối với chất lượng ĐTGV của TSP mà đối với các TPT và GVPT tham gia TTSP.

 

 

Publish: 4/22/2015 - Views: 488 - Lastest update: 4/24/2015 3:49:32 PM
Tin cùng chuyên mục