Email: email@ioer.edu.vn | vncsp@hnue.edu.vn
Đào tạo - bồi dưỡng giáo viên

THAM LUẬN VỀ KHOA HỌC SƯ PHẠM

Nguyễn Thị Bình

(Chủ tịch Quỹ Hòa Bình và Phát triển Việt Nam

Nguyên Phó chủ tịch nước CH XHCN Việt Nam

Nguyên Bộ trưởng Bộ GD & ĐT)

Tôi cùng một nhóm anh chị em chuyên gia về giáo dục đang nghiên cứu một đề tài độc lập cấp nhà nước: “Đề xuất các giải pháp cải cách công tác đào tạo giáo viên phổ thông đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục 10-15 năm tới”. Lựa chọn đề tài này, chúng tôi nhận thức rằng, để nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, việc xây dựng chương trình và sách giáo khoa mới là quan trọng nhưng nếu không có một đội ngũ giáo viên có năng lực và phẩm chất thì không thể đạt được mục tiêu như mong muốn. Hiện nay, đề tài của chúng tôi đang ở vào giai đoạn thứ hai, có nhiều vấn đề chúng tôi cần giải quyết liên quan với nội dung của cuộc Hội thảo hôm nay, bởi vậy giữa nhóm nghiên cứu đề tài chúng tôi và các nhà khoa học tham dự Hội thảo này có sự đồng cảm và có thể chia sẻ quan điểm trong nhiều chủ đề.

Tham dự Hội thảo, tôi muốn trình bày với các đồng chí hai vấn đề: một là, vị trí/ vai  trò của người thầy trong bối cảnh mới và hai là, trách nhiệm của trường sư phạm - nơi đào tạo nghề dạy học và hướng nghiên cứu khoa học sư phạm - khoa học về nghề dạy học.

1. Vị trí, vai trò của người thầy trong bối cảnh mới

Từ lâu rồi, nói về vai trò của người thầy, gần như tất cả các nhà giáo dục đều đã chia sẻ một quan điểm chung: “Chất lượng giáo dục, đặc biệt là ở giáo dục phổ thông, không thể vượt qua chất lượng của đội ngũ giáo viên”. Ngày nay, với những tiến bộ về công nghệ thông tin và truyền thông, việc tìm kiếm tri thức trở nên dễ dàng, nên cũng có một số người nghĩ rằng, vai trò của người thầy không còn quan trọng đến thế. Đấy là quan niệm không thật chính xác về vai trò của người thầy. Các công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước vẫn tiếp tục khẳng định, chất lượng giáo viên quyết định chất lượng giáo dục. Vấn đề đặt ra là, trong bối cảnh hiện nay, trước những tác động của xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và đi vào kinh tế tri thức, chức năng, nhiệm vụ của người thầy có gì khác trước?

Rõ ràng, hiện nay người thầy không thể chỉ làm nhiệm vụ truyền thụ tri thức một chiều, nói lại cho học sinh những gì mình biết rồi yêu cầu học sinh tiếp nhận một cách thụ động những tri thức do thầy truyền đạt. Nếu chỉ đơn giản như vậy thì đúng là vai trò của người thầy đang bị suy giảm trước sức mạnh chuyển tải của mạng thông tin. Điều quan trọng trong công việc của người thầy - truyền thụ tri thức hiểu theo tinh thần mới - là, phải làm cho học sinh có tâm thế tích cực, tự giác tìm kiếm tri thức và trang bị cho học sinh phương pháp học hỏi để tiếp cận, chiếm lĩnh và làm chủ tri thức. Muốn vậy, người thầy phải lấy việc rèn luyện tư duy, bồi dưỡng năng lực độc lập suy nghĩ cho học sinh làm mục đích dạy học chứ không phải là chăm chăm vào việc nhồi nhét tri thức vào đầu học sinh, nhằm làm sao cho học sinh ghi nhớ thật nhiều con số và sự kiện.

Hơn thế nữa, giúp học sinh tìm kiếm tri thức và rèn luyện tư duy không phải là nhiệm vụ duy nhất của người thầy. Vì mục đích cuối cùng của giáo dục là phát triển nhân cách mà những gì vừa nói đến (dạy cách học, dạy cách nghĩ) mới chỉ là tạo nên năng lực của học sinh. Nhưng nếu chỉ riêng năng lực thì không đủ tạo nên nhân cách. Nhân tố quyết định tạo nên nhân cách là phẩm chất đạo đức. Bởi vậy, trên con đường dẫn dắt học sinh kiếm tìm tri thức, rèn luyện kỹ năng, người thầy phải dạy cho học sinh cách làm người, nghĩa là giúp các em trở thành những con người trung thực và lương thiện. Muốn thế, người thầy không những là tấm gương cho học sinh về mặt hiểu biết và tư duy mà còn phải là tấm gương về phẩm chất đạo đức. Nếu thầy không mẫu mực trong ứng xử thì làm sao có thể giúp học sinh có kỹ năng sống? Nếu thầy không trung thực và lương thiện làm sao có thể dạy cho học sinh trung thực và lương thiện? Rõ ràng là trong điều kiện hiện nay, giữa hai sức ép, một mặt là xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, khoa học - công nghệ phát triển, mặt kia là tiêu cực xã hội loang rộng, cái xấu đang dội vào nhà trường, thì yêu cầu đối với người giáo viên càng càng nặng, càng cao so với trước đây.

Ngay các nước thuộc OECD (OECD là tên viết tắt của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for Economic Cooperation and Development), thành lập năm 1961 trên cơ sở Tổ chức Hợp tác Kinh tế Châu Âu (OEEC) với 20 thành viên sáng lập gồm các nước có nền kinh tế phát triển trên thế giới như Mỹ, Canada và các nước Tây Âu. Hiện nay, số thành viên của OECD là 30 quốc gia, gồm Mỹ, Canada, Áo, Bỉ, Đan Mạch, Pháp, Đức, Hy Lạp, Iceland, Ireland, Ý, Luxembourg, Hà Lan, Na Uy, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sỹ, Thổ Nhĩ Kỳ, Anh, Nhật Bản, Phần Lan, Úc, New Zealand, Hàn Quốc, Mexico, Cộng hòa Séc, Hungary, Ba Lan, Cộng hòa Slovakia ), với trình độ phát triển cao, họ vẫn tiếp tục dành sự quan tâm đặc biệt đến vấn đề đổi mới chính sách đối với giáo viên để có một đội ngũ giáo viên có chất lượng. Năm 2005, trong một văn kiện, tổ chức này đã yêu cầu các nước thành viên đặt vấn đề chính sách giáo viên vào chương trình nghị sự quốc gia, “coi giáo viên là nguồn lực quan trọng nhất trong nhà trường, ..., coi nâng cao kết quả giáo dục và thực hiện công bằng xã hội phụ thuộc chủ yếu vào việc bảo đảm học sinh được học những giáo viên dạy có chất lượng cao.” Chúng ta cũng được biết ở các nước như Phần Lan, Đức, Hàn Quốc,… người giáo viên được đặc biệt coi trọng, chẳng những được tôn vinh về tinh thần mà cả trong chính sách đãi ngộ.

Nước ta, cũng như các nước đang phát triển khác, để phát triển kinh tế, xây dựng xã hội văn minh, rất cần phải có nguồn nhân lực có chất lượng. Điều đó đặt ra những đòi hỏi cao ở giáo dục và từ đó đòi hỏi cao ở đội ngũ giáo viên. Nhưng trong thực tế, vì điều kiện kinh tế, vật chất của chúng ta hạn hẹp, mặt khác cũng do nhận thức và quyết tâm chưa đủ nên chúng ta đang đứng trước một tình hình rất đáng lo ngại là chất lượng của nền giáo dục có nhiều yếu kém, bất cập và đội ngũ giáo viên cũng đang giảm sút về chất lượng cũng như về động lực. Vì vậy theo tôi, để thực hiện chủ trương của Đại hội XI, “đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục” thì vấn đề cần phải đặc biệt quan tâm và quyết tâm đổi mới chính là xây dựng đội ngũ nhà giáo ở tất cả các cấp học, trên tất cả các bình diện từ đào tạo, tuyển dụng cho đến bồi dưỡng, đãi ngộ. Nhất thiết phải như vậy vì đội ngũ giáo viên chính là nguồn nhân lực tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng.  Mặc dù vai trò của đội ngũ giáo viên quan trọng như vậy nhưng tôi nhận thấy, từ trước đến nay lãnh đạo ngành giáo dục chưa có sự quan tâm thích đáng/ đầy đủ đối với việc xây dựng nguồn nhân lực của ngành, kể từ tổ chức cho đến chỉ đạo mặt công tác này. Tôi có thể nói như thế vì có một sự thực là, trong ba cuộc cải cách giáo dục trước đây, cũng như trong hơn hai chục năm đổi mới vừa qua, vấn đề cải cách sư phạm chưa hề được đề ra và thực hiện.

2. Trách nhiệm của trường sư phạm - nơi đào tạo nghề dạy học và hướng nghiên cứu khoa học sư phạm - khoa học về nghề dạy học.

Chúng ta đều có chung một quan niệm, dạy học là một nghề, và là nghề đặc biệt vì nó liên quan đến việc xây dựng con người và, để thành công, cần có sự phối kết hợp giữa khoa học và nghệ thuật. Khoa học sư phạm, theo quan niệm thông thường, là khoa học về giảng dạy và giáo dục trong nhà trường. Như vậy, có thể nói, khoa học sư phạm là một khoa học cơ bản, nền tảng của nghề dạy học, do đó cần phải được nghiên cứu nghiêm túc và công phu để rồi trên cơ sở của những kết quả nghiên cứu, nhà trường sư phạm sẽ giúp giáo sinh sở hữu cái khoa học ấy để họ có vốn mà hành nghề. Vậy mà rất tiếc, một số anh chị em giảng dạy và quản lý ở trường sư phạm vẫn nói với tôi, trường sư phạm của chúng ta chưa thể hiện được rõ rệt cái chức năng đào tạo nghề dạy học. Ở đây, cần làm rõ mục tiêu đào tạo cụ thể và trong chương trình đào tạo của trường sư phạm, phần nội dung thực sự có tác dụng về mặt nghề nghiệp như khoa học tâm lý, giáo dục học, khoa học nhân văn… và đặc biệt vấn đề rèn luyện nghiệp vụ phải chiếm một tỷ trọng thích đáng. Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, nhiều thiếu sót, khuyết điểm của các thầy cô giáo được phản ánh mà hầu hết thiếu sót, khuyết điểm đó đều thể hiện sự non kém trong ứng xử sư phạm. Bên cạnh trách nhiệm cá nhân của các thầy cô giáo có sai sót, còn có phần trách nhiệm của các nhà quản lý, có phần tác động từ điều kiện xã hội, nhưng nhà trường sư phạm - nơi đào tạo ra các nhà giáo có sai sót đó không thể rũ bỏ trách nhiệm của mình trước những khuyết tật của sản phẩm đào tạo.

Trong tình hình mới, rõ ràng đang có nhiều yêu cầu mới được đặt ra, cần phải giải quyết trong công tác giáo dục. Công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện do Đại hội XI chủ trương, mà chúng tôi quan niệm là một cuộc cải cách, không thể không dựa trên cơ sở nghiên cứu khoa học nghiêm túc và chu đáo. Việc xác định mục tiêu và nguyên lý giáo dục, xác định nội dung và phương pháp giáo dục ở phổ thông trong tương lai có quan hệ đến việc đào tạo của nhà trường sư phạm hiện nay. Khoa học sư phạm/ khoa học giáo dục phải có câu trả lời đối với câu hỏi làm thế nào để người thầy dạy tốt/ giáo dục tốt trong bối cảnh hiện tại và tương lai 10-15 năm tới của nước ta. Khoa học giáo dục/ khoa học sư phạm nhất thiết phải tiếp cận kịp thời những vấn đề mới, những đòi hỏi mới của nghề dạy học để các nhà giáo có đủ năng lực đáp ứng các yêu cầu mới.

Trong đào tạo giáo viên các cấp, vấn đề mới gần đây là đào tạo giáo viên tiểu học. Theo tôi hiểu, nếu giáo dục phổ thông là nền móng của cả hệ thống giáo dục thì tiểu học lại chính là nền móng của giáo dục phổ thông. Các nước phát triển đều theo xu thế nâng cao trình độ đào tạo của giáo viên tiểu học, từ chỗ có trình độ đại học lên đến chỗ có trình độ cao học. Ở nước ta, nhiều khoa Đại học Sư phạm được hình thành gần 20 năm qua. Trong một số thành phố lớn, số giáo viên tiểu học có trình độ đại học ngày càng đông. Tuy nhiên, cho đến nay, chúng ta chưa có công trình nghiên cứu nào mang tính tổng kết để khẳng định tính cấp thiết và tính khả thi của việc mở rộng đào tạo đại trà giáo viên tiểu học có trình độ đại học từ đó giúp cho cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục xây dựng và thực hiện một kế hoạch đại học hóa giáo viên tiểu học. Và về mặt chương trình và tổ chức đào tạo, cũng chưa có những công trình nghiên cứu để xác định một mô hình đào tạo giáo viên tiểu học có tính tối ưu và thuyết phục trong bối cảnh hiện nay.

Những điều tôi vừa đề cập cũng có thể xem là thích hợp cả đối với việc đào tạo giáo viên mầm non. Rồi cũng có những vấn đề tương tự đối với hai cấp học trung học cơ sở và trung học phổ thông. Tôi cũng hiểu, những vấn đề có tính chiến lược như vậy thuộc phần trách nhiệm của Bộ GD & ĐT và các cơ quan tham mưu của bộ, đặc biệt là Viện KHGD Việt Nam, nhưng Viện Nghiên cứu Sư phạm rất cần chủ động nghiên cứu và đề xuất bởi không ai có uy tín và tiếng nói thuyết phục hơn Viện Nghiên cứu Sư phạm của trường Đại học Sư phạm trọng điểm số một của ngành.

Tôi hy vọng, trong việc triển khai chủ trương “Đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục” lần này - mà muốn tạo được sự chuyển biến thật sự thì phải thực hiện theo đúng quy cách của một cuộc cải cách như đề nghị của nhà khoa học và các nhà giáo dục - khoa học sư phạm và các trường sư phạm cũng sẽ đi trước bằng một cuộc cải cách sư phạm sâu sắc để đóng góp phần quan trọng cho những chuyển biến của cả ngành theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa./.  

Publish: 4/24/2015 - Views: 725 - Lastest update: 4/24/2015 8:58:43 AM
Tin cùng chuyên mục