Email: email@ioer.edu.vn | vncsp@hnue.edu.vn
Đào tạo - bồi dưỡng giáo viên

VAI TRÒ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SƯ PHẠM VỚI ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN THỰC HIỆN ĐỔI MỚI CĂN BẢN VÀ TOÀN DIỆN NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM

PGS.TS Nghiêm Đình Vỳ

Viện Khoa học Xã hội - Trường ĐHSP Hà Nội

 

1. Vai trò của nghiên cứu khoa học đối với đào tạo

Từ những năm 90 trở về trước, ở nước ta trong khoa học, hoạt động nghiên cứu về cơ bản là tách biệt với hoạt động giảng dạy và đào tạo. Truyền thống này được hình thành từ thời Pháp và được định hình trong những năm tiếp thu của nền khoa học Xô viết. Theo truyền thống này, mẫu hình nhà giáo giỏi không nhất thiết phải có sách chuyên khảo, bài đăng trên tạp chí và nhà nghiên cứu chuyên nghiệp không nhất thiết phải dạy hay, đã gần như được khẳng định. Điều này cũng có những mặt tích cực của nó. Nhưng hiện nay, khi chạy theo xu hướng được thực hiện phổ biến ở bậc đại học thế giới, giảng viên đại học gần như “buộc phải” tham gia nghiên cứu, phải có tác phẩm khoa học và thực hiện các đề tài khoa học…lại có những điều nảy sinh.

Việc đào tạo gắn kết với nghiên cứu khoa học là một xu thế, một biện pháp tích cực của nền giáo dục năng động và sáng tạo. Thực tiễn đã loại trừ quan điểm lỗi thời cho rằng trường đại học nói chung, đại học Sư phạm nói riêng chỉ là nơi đào tạo đơn thuần. Giờ đây, trường đại học có hai chức năng song hành là đào tạo và nghiên cứu khoa học, hai chức năng này luôn hỗ trợ, bổ sung cho nhau để nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu. Kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu và giảng dạy, nhằm trang bị cho người học một lượng kiến thức cơ bản cần thiết, phương pháp luận để sau khi tốt nghiệp người học có thể tiếp tục học tập, có khả năng giải quyết những vấn đề do thực tế đề ra. Đào tạo qua nghiên cứu là nguyên tắc quán triệt xuyên suốt toàn bộ quá trình học tập.

Thực trạng nghiên cứu ở các trường đại học đến nay đã được nâng lên nhiều. Tuy nhiên, công tác kết hợp nghiên cứu với đào tạo cũng đã bộc lộ những mặt yếu kém nhất định thể hiện trên các mặt: nhân lực khoa học-công nghệ, kinh phí chi cho nghiên cứu khoa học, khả năng ứng dụng trong thực tế các nghiên cứu do các trường đại học tiến hành… Nghiên cứu không nhằm mục đích phát kiến, phát minh mà chỉ để hoàn thành chức năng của người thầy thì rất khó trở thành động lực thực sự cho sáng tạo.

Việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học là một trong các tiêu chí của khoa học. Ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học trong giáo dục và đào tạo là con đường ngắn nhất của quá trình chuyển giao kết quả khoa học từ khu vực nghiên cứu sang khu vực ứng dụng. Trình độ, năng lực của giảng viên là một trong những yếu tố quyết định chất lượng của giáo dục và đào tạo. Trình độ, năng lực của giảng viên có thể tích luỹ qua kinh nghiệm giảng dạy, nhưng đối với đào tạo đại học thì có yêu cầu rất cao về nghiên cứu khoa học. Quá trình nghiên cứu khoa học đóng góp phần không nhỏ đối với việc nâng cao trình độ, năng lực của giảng viên. Bởi vậy, kể cả trong trường hợp không thể chuyển giao các kết quả nghiên cứu khoa học ra ngoài khu vực nghiên cứu và đào tạo, thì nghiên cứu khoa học cũng có tác động không nhỏ đến chất lượng đào tạo.

Có thể khẳng định rằng việc nghiên cứu sư phạm ở trường Sư phạm có quan hệ chặt chẽ và phục vụ cho đào tạo giáo viên. Kết quả nghiên cứu khoa học cơ bản sẽ được truyền thụ ngay cho sinh viên đang học tập nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu Khoa học giáo dục (KHGD), nghiên cứu Khoa học Sư phạm (KHSP) sẽ được ứng dụng từ khâu tuyển sinh, cho đến nội dung, phương pháp đào tạo cho đến việc giúp cho giáo sinh soạn bài, giảng bài khi đi thực tập. Những nghiên cứu về lí luận dạy học, về chương trình, về sách giáo khoa…góp phần nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên. Trong 10 năm qua kết quả nghiên cứu của Viện nghiên cứu Sư phạm (NCSP) trường ĐHSP Hà Nội đã, đang và sẽ có vai trò quan trọng trong đào tạo giáo viên.

2. Những thách thức của nghiên cứu khoa học giáo dục và nghiên cứu sư phạm với đào tạo giáo viên

            Đảng và nhà nước luôn quan tâm đến giáo dục, đến các trường sư phạm. Trong Nghị quyết Trung ương hai khóa VIII ngày 24 tháng 12 năm 1996 của BCH Trung ương; Chỉ thị 40 về xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý ngày 15 tháng 6 năm 2004 của Ban Bí thư khóa IX; Thông báo Kết luận số 242 ngày 15 tháng 4 năm 2010 của Bộ Chính trị khóa X đều khẳng định việc xây dựng 2 trường Sư phạm trọng điểm và cần tăng cường nghiên cứu Khoa học giáo dục. Gần đây là Văn kiện Đại hội XI tiếp tục nhấn mạnh việc nghiên cứu khoa học giáo dục nhằm đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam. (1)

Nghị quyết số 05 - NQ/BCSĐ ngày 06-01-2010 của Ban Cán sự Đảng Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã chỉ rõ đổi mới cơ quan quản lý và triển khai nghiên cứu khoa học ở các trường đại học, cao đẳng, hình thành cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Vụ Giáo dục đại học và Vụ Khoa học Công nghệ và Môi trường để hoạt động nghiên cứu khoa học phục vụ xã hội trở thành nhiệm vụ thường xuyên của các cơ sở đào tạo đại học.

Những văn bản này sẽ là cơ sở quan trọng cho việc thực hiện nghiên cứu khoa học giáo dục nói chung và nghiên cứu sư phạm nói riêng.

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi nói trên, vấn đề này cũng có nhiều khó khăn thách thức, trong tham luận này chúng tôi chỉ nêu vài điểm sau đây:

2.1. Nhận thức tầm quan trọng của Khoa học giáo dục chưa đầy đủ

            Nhận xét về giáo dục đại học, Chỉ thị số 296/CT-TTg ngày 27-2-2010 của Thủ tướng Chính phủ nêu rõ “…giáo dục đại học cũng bộc lộ nhiều hạn chế và yếu kém: chất lượng đào tạo nhìn chung còn thấp,… chưa tạo ra động lực đủ mạnh để phát huy năng lực sáng tạo và sự tự chịu trách nhiệm của đội ngũ giảng viên, các nhà quản lý và sinh viên để đổi mới mạnh mẽ, căn bản giáo dục đại học.”

            Các trường đại học khối Sư phạm cũng không nằm ngoài tình trạng vừa nêu, nhưng các trường này còn chịu sự chi phối của xã hội nhìn nhận về ngành Sư phạm hiện nay, trong khi khoa học tự nhiên và công nghệ có những bước tiến đáng kể thì Khoa học Giáo dục và Sư phạm lại không có được những bước tiến như vậy, việc đầu tư tài chính cho nghiên cứu KHGD không đáng kể so với việc đầu tư cho nghiên cứu các khoa học khác. Đó là xét trên bình diện vĩ mô. Ngay trong bản thân các trường Sư phạm, nhận thức về khoa học giáo dục cũng còn những điều băn khoăn. Chúng tôi chưa có khảo sát đánh giá cụ thể về nhận thức của cán bộ trong khối sư phạm của nước ta, nhưng qua dư luận một cách chưa đầy đủ thì có vẻ gần giống nhận xét sau đây ở Trung Quốc và Hàn Quốc. Chúng tôi xin dẫn để tham khảo và có thể thảo luận xem chúng ta có như vậy không? Ông K.S. Leung (Đại học Hồng Kông) cho rằng “ ở Trung Quốc nhiều trường không bằng lòng với việc thuần tuý là một trường sư phạm. Thay vì tập trung vào việc đào tạo giáo viên và nghiên cứu về khoa học sư phạm, họ cố gắng cạnh tranh với các trường tổng hợp trong những lĩnh vực nghiên cứu không trực tiếp liên quan đến giáo dục (như chú trọng nghiên cứu về toán học thuần tuý hơn là phương pháp dạy toán chẳng hạn). Về mặt nào đó, điều này có thể coi là một điểm mạnh của chương trình giáo dục sư phạm, vì nó có tiềm năng trong việc bảo đảm chương trình này dựa trên một đội ngũ chuyên gia mạnh về mặt chuyên môn thuần tuý. Tuy nhiên thực tế có thể không hoàn toàn như vậy. Trong nhiều trường đại học thông thường, nhất là những trường có danh tiếng, môn giáo dục học được coi là môn học “hạng hai”. Trong khoa đại cương, nhiều giáo sư chỉ dành thời gian để nghiên cứu khoa học thuần tuý. Họ có thể đưa vào chương trình đào tạo giáo viên những nội dung khoa học chẳng mấy liên quan gì đến chương trình giảng dạy ở trường phổ thông. Mối liên hệ giữa những vấn đề khoa học “cao cấp” với những nội dung khoa học mà sinh viên sư phạm sẽ phải đối diện trong việc giảng dạy sau này ở trường phổ thông được dành cho các giáo sư giảng dạy môn phương pháp sư phạm. Nhưng trong bầu không khí coi trọng các bộ môn khoa học khác hơn là khoa học sư phạm…Điều này dẫn tới một cái vòng luẩn quẩn khiến những nghiên cứu về khoa học sư phạm cũng bị coi là ít quan trọng hơn nghiên cứu khoa học cơ bản...

            Ở Hàn Quốc, tình hình tuy có khác nhưng cũng có một mối lo lắng tương tự trong lãnh vực giáo dục môn Toán. Trong các cơ sở đào tạo giáo viên, dù là ở trường sư phạm chuyên biệt hay trường tổng hợp có khoa sư phạm, có những giáo sư dạy toán cũng như những giáo sư dạy môn giáo dục toán học. Nhiều người nhận thấy việc duy trì một thành tích nghiên cứu toán học thuần tuý khó khăn hơn nên đã quay sang nghiên cứu về giáo dục toán học để có những bài báo khoa học, coi đó là một sự lựa chọn dễ dàng hơn nhằm duy trì thành tích của mình. Kết quả là giáo dục toán học một lần nữa bị coi là kém uy tín hơn so với toán học thuần tuý, và điều này đã cản trở sự phát triển của bộ môn giáo dục toán học trong cả nước”.(2)

           Chúng tôi cho rằng, nếu ở nước ta có tình hình nói trên thì cần được chấn chỉnh và phải có sự kết hợp hài hòa giữa khoa học cơ bản và khoa học giáo dục.

2.2. Kinh phí cho nghiên cứu KHGD và KHSP chưa được cao

            Kinh phí chi cho nghiên cứu ngay tại các trường đại học khối SP cũng mức độ trung bình chi cho nghiên cứu nói chung. Chúng tôi chưa kịp thống kê dẫn số liệu ngân sách Nhà nước chi cho nghiên cứu của các trường Sư phạm, nhưng sẽ là thấp so với các khoa học khác? Có lẽ vì thế đã dẫn đến tác phẩm khoa học đăng trên các tạp chí có uy tín quốc tế chủ yếu là khoa học tự nhiên, còn Khoa học Xã hội-nhân văn và khoa học giáo dục khoa học sư phạm vẫn rất hiếm hoi.           

3. Số lượng thí sinh dự thi Sư phạm  vài năm gần đây giảm

  Năm 2011, khi các trường đại học nhận hồ sơ đăng ký tuyển sinh, số thí sinh dự thi vào ngành Khoa học Xã hội-nhân văn (KHXH&NV) và ngành Sư phạm đã giảm đến mức trầm trọng. Cả nước chỉ có 92.249 thí sinh đăng ký thi vào ngành KHXH&NV (chiếm tỷ lệ 4,7% tổng thí sinh) và 18.376 thí sinh đăng ký dự thi vào ngành Sư phạm (khoảng 6%). Nhiều năm nay, các trường đào tạo nhóm ngành KHXH&NV và Sư phạm thuộc loại hàng đầu cả nước ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Đà Nẵng, Giáo dục học, Ngữ văn, Ngôn ngữ học, Ngữ văn Nga, Anh, Pháp, Hán Nôm… tỷ lệ “chọi” giữa các thí sinh chỉ dao động từ 1/0,27, 1/0,5 đến 1/1.(1) Đó là chưa nói đến sinh viên tốt nghiệp ĐHSP rất khó xin việc.

3. Một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của nghiên cứu khoa học giáo dục và Viện nghiên cứu Sư phạm trong đào tạo giáo viên

3.1. Cần xây dựng Chiến lược phát triển ngành Sư phạm

          Sau khi Chính phủ ban hành Chiến lược phát triển Giáo dục giai đoạn 2011-2020, cần phải xây dựng Chiến lược của một số ngành cụ thể. Chúng tôi đề nghị nên xây dựng Chiến lược phát triển ngành Sư phạm. Bộ GD-ĐT nên nghiên cứu và giao cho Viện Nghiên cứu Sư phạm, trường ĐHSP Hà Nội chủ trì thực hiện đề án này, sau đó đưa ra thảo luận, rồi ban hành. Đây là công việc mà Viện NCSP có đủ năng lực tiến hành khi được Bộ GD-ĐT và trường ĐHSP Hà Nội giao phó.    

            Thời kỳ hội nhập quốc tế, chúng ta phải phát triển ngành Sư phạm Việt Nam tiên tiến, hiện đại và chuẩn hóa, để thực hiện tốt chiến lược phát triển giáo dục. Các trường đại học sư phạm sẽ trở thành những trung tâm sáng tạo và đổi mới sư phạm cả nước. Cần tạo sự gắn kết mạnh mẽ hơn nữa giữa hệ thống các trường, khoa sư phạm với hệ thống giáo dục mầm non, phổ thông và của cấp quản lý giáo dục để thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo (4)

3.2. Tiếp tục nghiên cứu về “khuôn mẫu thày giáo” để phục vụ cho công tác đào tạo giáo viên.

Khoa học Giáo dục, trước hết là khoa học Sư phạm, Viện nghiên cứu Sư phạm của trường ĐHSP Hà Nội cần tiếp tục nghiên cứu về “ khuôn mẫu thày giáo” ( Mô hình người thày giáo) để phục vụ cho công tác đào tạo giáo viên.

Về lý thuyết của thuật ngữ “giáo dục sư phạm” trong tiếng Trung Quốc nghĩa là “khuôn mẫu giáo viên”, hay là giáo viên như một khuôn mẫu cho học sinh (5).  Người thầy đóng vai trò là một khuôn mẫu, một chuẩn mực cho học sinh noi theo, cả trong việc chinh phục tri thức lẫn đạo đức. Trong lĩnh vực tri thức, điều này hàm nghĩa thầy giáo phải luôn luôn là một nhà khoa học hay ít nhất là một người học sâu hiểu rộng trong môn học mà mình dạy, và tư tưởng “thầy giáo – học giả” đã tồn tại trong văn hoá của các nước châu Á. Năng lực sư phạm tất nhiên là quan trọng, nhưng không thay thế được năng lực chuyên môn trong những vấn đề của môn học.

            Như vậy, người thầy giáo cần phải liên tục cập nhật kiến thức của mình để luôn luôn là khuôn mẫu cho học sinh và có ý thức trách nhiệm  trước xã hội. Để chuẩn bị cho vai trò là khuôn mẫu của sinh viên sư phạm cần có một khuôn mẫu là các giảng viên của trường sư phạm. Theo quan điểm đó, sẽ rất có lợi nếu có những người thầy vừa giỏi về chuyên môn vừa có kỹ năng sư phạm và kiến thức về giáo dục, như vậy tốt hơn là bản thân sinh viên phải tự kết hợp các kiến thức về chuyên môn và kiến thức về sư phạm mà họ tiếp thu một cách riêng rẽ từ những chuyên gia bộ môn và những chuyên gia về giáo dục và sư phạm. Trình bày điều này cũng thể hiện quan điểm của chúng tôi nghiêng về mô hình đào tạo hiện nay của trường Sư phạm.

3.3. Viện Nghiên cứu Sư phạm, trường Sư phạm cần nghiên cứu cơ chế gắn kết chặt chẽ hơn nữa với trường phổ thông trong đào tạo giáo viên

   Hiện nay các trường phổ thông, thực sự chưa ý thức về nghĩa vụ đóng góp trong việc đào tạo giáo viên. Nhà trường phổ thông không thấy lợi ích thiết thực gì trong việc tham gia đào tạo giáo viên, đôi khi còn  coi giáo sinh thực tập là một người phụ việc hơn là một người cần được quan tâm giúp đỡ. Cũng vậy, cũng có giáo viên cho rằng công việc của mình đã quá đủ nặng nề, đòi hỏi nhiều thời gian và công sức, không còn nhiệt tình hướng dẫn cho giáo sinh thực tập. Kết quả là các trường đào tạo giáo viên cũng gặp phải khó khăn trong việc tìm được những trường phổ thông chấp nhận cho giáo sinh của mình đến thực tập.

   Do thực tế đó mà các nhà khoa học của Viện NCSP nên cố gắng nghiên cứu về việc trường phổ thông tham gia đào tạo giáo viên để thiết lập lại mối quan hệ giữa trường phổ thông và trường sư phạm trong việc đào tạo giáo viên. Trường phổ thông không còn chỉ được coi là địa điểm thực tập của giáo sinh sư phạm, mà còn được coi là một đối tác của trường sư phạm với nhiều hình thức khác nhau. Trong bối cảnh đó, nên có một sự chuyển hướng trong sự cộng tác để đào tạo giáo viên, nhằm đạt đến một kết quả có lợi cho cả hai phía.

   Có lẽ cũng còn rất nhiều việc mà Viện NCSP cần nghiên cứu thực hiện để đóng góp thiết thực cho công tác đào tạo giáo viên mà chúng tôi chưa nêu ra đầy đủ. Hội thảo cũng cần thảo luận thêm vấn đề này.

4. Một số kiến nghị

Chúng tôi xin đưa ra một vài kiến nghị ban đầu như sau:

    Về tổng thể cần có cách nhìn đúng đắn để nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của khoa học giáo dục, của các trường Sư phạm đối với sự phát triển trên mọi mặt của đất nước, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến chính trị, tư tưởng, kinh tế - xã hội.

    Cần có mức đầu tư nhân lực và tài chính thoả đáng cho nghiên cứu  Khoa học giáo dục, khoa học Sư phạm để nâng cao chất lượng nghiên cứu, nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo giáo viên, để đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam. Trong đại kế giáo dục thì giáo viên là gốc.

    Bộ GD-ĐT nên đầu tư xây dựng Viện Nghiên cứu Sư phạm của trường ĐHSP Hà Nội thành cơ sở nghiên cứu hàng đầu của ngành Sư phạm để nghiên cứu toàn diện những vấn đề liên quan đến đào tạo giáo viên. Nên có những trợ giúp về giao đề tài trực tiếp, ưu tiên kinh phí, có những đặc cách riêng đối với cơ sở tự hoạch toán đặc biệt này.

    Về phía Trường ĐHSP Hà Nội cũng cần quan tâm nhiều hơn đến Viện về biên chế, con người, chế độ, phúc lợi cho Viện NCSP như một đơn vị đào tạo vì Viện đã và đang nghiên cứu để phục vụ đào tạo giáo viên.                                     

Tài liệu tham khảo

1. Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011.

2. Chỉ thị số 40-CT/TW, của Ban Bí thư khóa IX, ngày 15-6-2004, về     “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục”.

3. Frederick K.S. Leung, Tuyển tập giáo dục quốc tế, ĐHSP tp Hồ Chí Minh ( bản dich của Phạm Thị Ly)

4.  Xem: Diệu Mai (2011), Còn đó nỗi buồn sư phạm.      http://www.baotayninh.vn/newsdetails.aspx?newsid=27532.

5.Bộ Giáo dục và Đào tạo, “Kỷ yếu Hội nghị toàn quốc các trường Sư phạm”, Hà Nội, 2011

6.Đề cương quốc gia qui hoạch Cải cách và phát triển Giáo dục trung và dài hạn 2010-2020 của Trung Quốc, Tài liệu dich của Ban Tuyên giáo Trung ương, năm 2011.

(1) Xem: Diệu Mai (2011), Còn đó nỗi buồn sư phạm. http://www.baotayninh.vn/newsdetails.aspx?newsid=27532.

Publish: 4/24/2015 - Views: 1655 - Lastest update: 4/24/2015 9:10:05 AM
Tin cùng chuyên mục