Email: email@ioer.edu.vn | vncsp@hnue.edu.vn
Lý luận dạy học, lý luận giáo dục

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

        TS. Phạm Thị Kim Anh  

                                                                                               Viện NCSP – Trường ĐHSP Hà Nội

 

1. Nhìn lại việc nghiên cứu khoa học trong trường ĐHSP

Ngay từ những năm 1947- 1949 tại Việt Bắc, Giáo sư Hồ Đắc Di đã viết:

 “ Đại học không chỉ là một tổ hợp gồm nhiều trường, một trung tâm truyền đạt kiến thức và kỹ thuậ,t mà còn là một trung tâm nghiên cứu. Trong khoa học, sự tiến bộ gắn liền với sự kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu và giảng dạy, mà nếu không có điều đó thì chẳng khác gì xây nhà trên cát”.

Những dòng chữ đó đã thể hiện rõ tư tưởng về việc xây dựng trường đại học nghiên cứu: Ở đó không chỉ là nơi giảng dạy kiến thức khoa học, mà còn là nơi khoa học tồn tại và phát triển. Lẽ dĩ nhiên, trường Đại học sư phạm trọng điểm cũng phải là nơi vừa đi đầu về đào tạo GV, vừa là trung tâm nghiên cứu khoa học cơ bản, khoa học giáo dục và khoa học sư phạm.

Tuy nhiên, do tư duy và quan niệm của các nhà quản lí giáo dục: Sư phạm chỉ là nơi đào tạo, bồi dưỡng GV nên đã có những thời kì việc giảng dạy, đào tạo tách rời với nghiên cứu khoa học cơ bản, khoa học sư phạm. Việc tổ chức lại hai trường Đại học văn khoa và Đại học khoa học thành hai trường: Đại học sư phạm và Đại học tổng hợp  (1956) với hai nhiệm vụ chính trị phân biệt, một bên là đào tạo GV, một bên là đào tạo người nghiên cứu khoa học là một bằng chứng rõ nét cho quan điểm này. Từ đó, trường Đại học sư pham với nhiệm vụ là đào tạo GV thì không cần nghiên cứu khoa học, không đòi hỏi sáng tạo, phát minh, chỉ cần “truyền thụ tốt kiến thức” là đạt yêu cầu. Từ thực tế này đã nảy sinh  những cuộc đấu tranh về quan điểm. Lúc đầu là vấn đề Đại học sư phạm với nhiệm vụ đào tạo GV có cần nghiên cứu khoa học không? Sau đó là: Đại học sư phạm nghiên cứu khoa học giáo dục hay khoa học cơ bản? Do lực lượng cán bộ giảng dạy về khoa học cơ bản mạnh hơn lực lượng cán bộ giảng dạy về khoa học giáo dục nên công tác nghiên cứu khoa học ở các trường ĐHSP  trong suốt thời gian dài vẫn nặng về khoa học cơ bản. Những nghiên cứu về khoa học giáo dục, khoa học sư phạm hầu như được tập trung ở Viện khoa học giáo dục.

Đến 1965, ngành GD tách Bộ đại học ra khỏi Bộ giáo dục. Lúc này hệ thống các trường sư phạm trực thuộc Bộ giáo dục. Việc đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học cũng như đưa cán bộ đi đào tạo nghiên cứu sinh của các trường sư phạm gặp không ít khó khăn và hạn chế nhiều về số lượng. Trong bối cảnh đó, các trường sư phạm phải tìm cách riêng của mình để vừa thực hiện nhiệm vụ đào tạo vừa làm tốt công tác nghiên cứu khoa học phục vụ cho công cuộc cải cách giáo dục và nâng cao chất lượng đào tạo.

Bước sang thập kỉ 80 của thế kỉ XX, thực hiện Nghị quyết 37/NQ-TW (20/4/1981) về chính sách khoa học-kĩ thuật; quyết định 175 CP năm 1981 của Hội đồng Chính phủ và Nghị định 51 /HĐBT năm 1983, việc mở rộng chức năng và quyền hạn của các cơ quan nghiên cứu đã mở ra thời kì phát triển mới cho hoạt động nghiên cứu khoa học của các trường đại học. Từ đây mỗi trường đại học phải là một cơ sở giảng dạy, đồng thời là một cơ sở nghiên cứu khoa học. Nghiên cứu khoa học là một trong hai nhiệm vụ cơ bản của các trường đại học. Trải qua hơn 20 năm, hoạt động NCKH được các đơn vị đẩy mạnh và có sự phát triển vượt bậc, thể hiện ở số lượng các công trình khoa học được công bố trên các tạp chí khoa học uy tín quốc tế và trong nước ngày càng tăng, số lượng các văn bằng chứng chỉ sở hữu trí tuệ được bảo hộ ngày càng nhiều. Tuy nhiên, theo đánh giá của Hội nghị tổng kết hoạt động khoa học và công nghệ 5 năm 2006-2010 và phương hướng phát triển giai đoạn 2011-2015 của Bộ GD&ĐT (tổ chức ngày 11-6-2011 tại Hà Nội) thì: công tác nghiên cứu khoa học và công nghệ trong các trường vẫn còn nhiều hạn chế. Các công trình được thực hiện một cách riêng lẻ, chưa gắn kết thành hệ thống ở các trường, cụm trường nên kết quả không có tầm cỡ, trùng lặp và ít có giá trị ứng dụng trong thực tiễn. Riêng mảng nghiên cứu khoa học giáo dục còn thiếu hụt và lạc hậu, không có sự gắn kết giữa nghiên cứu và thực tiễn của ngành giáo dục.

Góp chung vào nhận định ấy, GS. Nguyễn Văn Hiệu cũng có ý kiến: “hàng loạt đề tài nghiên cứu sau khi được nghiệm thu đúng thủ tục đã chẳng đem lại hiệu quả gì, bởi vì không có đủ giá trị khoa học để công bố mà cũng không thể áp dụng vào thực tiễn, lại cũng không coi là công việc dở dang và được làm tiếp cho đến cùng, cho nên đã chấm dứt không dấu vết”.

Nguyên nhân của thực trạng này thì có nhiều, song nguyên nhân sâu xa nhất là sai lầm của các cơ quan quản lý và khuyết điểm của chính những người làm khoa học. Có thể nói, cơ chế và bộ máy quản lý có vai trò như người cầm lái con tàu khoa học. Con tàu đó đi đúng hay chệch hướng, chạy nhanh hay chậm là do “người cầm lái”. Vi vậy, muốn cho khoa học giáo dục phát triển lành mạnh, đáp ứng đúng nhu cầu phát triển của đất nước, thì điều quan trọng trước hết là cơ chế và bộ máy quản lý phải làm tròn được sứ mệnh của mình là dẫn dắt khoa học đi đúng hướng, thu hút được nhiều cán bộ vừa có tài vừa có đức tự nguyện gắn bó cả đời mình với nghề nghiệp mà mình yêu thích.

Để đẩy mạnh việc nghiên cứu khoa học giáo dục trong các trường đai học,  từ năm 2006, thực hiện Nghị quyết 14/2005/NQ-CP về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020, Bộ GD&ĐT đã qui hoạch, xây dựng mạng lưới các viện nghiên cứu mạnh trong các trường đại học, đồng thời sáp nhập một số đơn vị nghiên cứu khoa học vào các trường đại học để gắn kết chặt chẽ đào tạo với nghiên cứu  khoa học. Từ đây, trong một số trường đại học sư phạm như ĐHSP Hà Nội, ĐHSP TP. HCM  đã có Viện nghiên cứu về khoa học giáo dục và khoa học sư phạm. Kể từ đó đến nay việc nghiên cứu khoa học giáo dục nói chung, khoa hoc sư phạm nói riêng đã được chú trọng và đẩy mạnh trong trường Đại học sư phạm. Chẳng hạn như ở ĐHSP HN, nhiều nghiên cứu mới về khoa học sư phạm đã được triển khai nghiên cứu: mô hình phát triển trường sư phạm; chuẩn tốt nghiệp cho SV; chuẩn nghề nghiệp GV; đạo đức nhà giáo; mô hình liên kết thực tập sư phạm; đổi mới hội thi nghiệp vụ sư phạm; đổi mới quản lí đào tạo GV, phát triển năng lực nghề nghiệp GV thông qua nghiên cứu bài học vv….. đã đóng góp vai trò không nhỏ trong  việc nâng cao chất lượng đào tạo sư phạm.

Có thể nói, việc nghiên cứu khoa học sư phạm nhằm tìm kiếm các giải pháp tác động để thay đổi những hạn chế, bất cập của hiện trạng đào tạo sư phạm là thực sự cần thiết trước bối cảnh hội nhập và đòi hỏi ngày càng cao của thực tiễn giáo dục.. Thông qua nghiên cứu khoa học sư phạm, những nhà nghiên cứu, giảng viên và cán bộ quản lý còn được nâng cao về năng lực chuyên môn để áp dụng vào thực tế, góp phần thúc đẩy nâng cao chất lượng giáo dục.

Nghiên cứu khoa học sư phạm còn có ý nghĩa quan trọng giúp cho trường ĐHSP, giảng viên, CBQL nhìn lại quá trình để tự điều chỉnh phương pháp đào tạo cho phù hợp với đối tượng và hoàn cảnh cụ thể, phù hợp với mục tiêu đào tạo theo yêu cầu của xã hội trong thời kỳ hội nhập quốc tế .

2. Định hướng phát triển

Ở các nước phát triển, ĐH nghiên cứu là cốt lõi của sáng tạo và đổi mới. Các nền kinh tế mới nổi như Ấn Độ và Trung Quốc cũng đang nỗ lực xây dựng các ĐH thành trung tâm nghiên cứu khoa học hàng đầu hỗ trợ cho nền kinh tế. Ngày nay, ở nhiều nước phát triển đều có ít nhất một trường đại học nghiên cứu, bởi họ nhận thấy rằng, phát triển đại học nghiên cứu là con đường ngắn nhất giúp các trường đại học củng cố tiềm lực khoa học để bứt phá trong nền khoa học thế giới.

Ở nước ta, Chiến lược giáo dục 2009-2020 đã chỉ rõ: “Tổ chức một số trường đại học theo hướng nghiên cứu. Đến năm 2010 có 14 trường và đến năm 2020 có khoảng 30 trường đại học theo hướng nghiên cứu cơ bản”

Định hướng đó đã mở ra cho các trường đại học nói chung, đại học sư phạm nói riêng hướng đi mới. Ngay từ năm 2006, trường ĐHSP Hà Nội đã kiện toàn và phát triển Viện NCSP thành một trung tâm nghiên cứu về khoa học giáo dục và khoa học sư phạm. Đây là mô hình phù hợp với sứ mạng của trường đại học sư phạm trọng điểm và xu thế phát triển của thế giới. Trong những chặng đường đầu tiên của sự phát triển, không tránh khỏi những trở ngại, khó khăn và non yếu. Bởi vậy, cần lắm một sự hỗ trợ từ các cấp lãnh đạo để tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của Viện NCSP trong tương lai, tránh tình trạng coi đó là “con nuôi”, “con riêng” phát triển theo cơ chế tự cấp, tự túc dẫn đến tình trạng oặt ẹo, lay lắt. Bộ GD&ĐT cũng như Trường ĐHSP Hà Nội nên có những cơ chế, chính sách phù hợp để tạo điều kiện cho khoa học sư phạm ngày càng phát triển.

Tóm lại, với sứ mạng là trường đào tạo nghề dạy học, việc nghiên cứu khoa học sư phạm đóng vai trò cực kì quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề. Sự gắn kết giữa giảng dạy, đào tạo và nghiên cứu khoa học sư phạm có thể được ví như hai bờ của con sông. Thiếu một trong hai bờ đó sẽ không tạo ra dòng chảy mạnh mẽ.

 

      Tài liệu tham khảo

1.      Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam  2009-2020.

2.      Kết luận của Thứ trưởng Trần Quang Quý tại Hội nghị tổng kết hoạt động khoa học và công nghệ  5 năm 2006-2010 và phương hướng phát triển giai đoạn 2011-2015 (ngày 11/08/2011)

3.      Nền khoa học nước nhà không thể tuyệt tự-Báo Dân trí điện tử 19/09/2011

Publish: 4/24/2015 - Views: 1497 - Lastest update: 4/24/2015 10:22:59 AM
Tin cùng chuyên mục