Email: email@ioer.edu.vn | vncsp@hnue.edu.vn
Lý luận dạy học, lý luận giáo dục

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGHIÊN CỨU: LỊCH SỬ RA ĐỜI, ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN

     Nguyễn Thanh Hoàn

   Viện NCSP - Trường ĐHSP Hà Nội

 

1. Lịch sử ra đời và phát triển trường Đại học nghiên cứu

Sử sách ghi lại rằng các trường đại học nghiên cứu (ĐHNC) ở châu Âu được truy nguyên từ khi thành lập Trường Đại học Bologna năm 1088 hay Trường Đại học Paris được thành lập năm 1208. Về mặt lịch sử, Trường Đại học Bologna được coi là “mẹ đẻ của các trường đại học” được thành lập như một biểu tượng cho sự thống nhất đất nước của Ý.

Vào Thế kỷ 19 và 20, các trường đại học tập trung vào khoa học nhưng lại không mở với công chúng cho tới sau năm 1914. Tới cuối Thế kỷ 19, tôn giáo đã ảnh hưởng đáng kể nhưng còn hạn chế tới những chương trình đào tạo và nghiên cứu. Vào lúc đó, mô hình Trường Đại học Đức đã trở thành chuẩn của thế giới và ở những nơi khác trên thế giới, người Anh cũng đã thành lập các trường đại học, làm cho giáo dục đại học đến với nhiều tầng lớp nhân dân.

Theo thời gian, các trường đại học châu Âu ngày càng phát triển và tăng nhanh về số lượng. Trường Đại học Paris đã giúp cho việc phát triển nhiều trường đại học ở Bắc Âu trong khi Trường Đại học Bologna giúp đỡ và khuyến khích sự phát triển của những trường đại học ở Nam Âu. Một số nhà lãnh đạo cũng đã thành lập các trường đại học nhằm sử dụng những trường đó để nhân rộng quyền lực chính trị và uy tín của mình. Ví dụ, Frederick II, Hoàng đế Thánh La Mã (Holy Roman Emperor) đã thành lập trường Đại học Naples năm 1224 để đào tạo luật sư và các nhà quản lý hành chính và nó có thể sánh với ảnh hưởng của Trường Đại học Bologna.

2. Những đặc điểm cơ bản

            Năm 1994 theo cách phân loại Carnegie (the Carnegie Classification) các trường đại học nghiên cứu được xác định là những trường:

            - Dạy đầy đủ các chương trình cử nhân;

            - Tăng cường thực hiện chương trình cao học thông qua chương trình đào tạo tiến sĩ;

            - Ưu tiên cao cho công tác nghiên cứu;

            - Cấp từ 50 hoặc hơn bằng tiến sĩ mỗi năm;

                - Hàng năm nhận được 40 triệu đô la hoặc hơn từ hỗ trợ đầu tư cuả chính phủ.

GS. Arthur Bienenstock, Trường Đại học Stanford [2], cũng chỉ ra ĐHNC có những đặc điểm cơ bản sau đây:

            - Có đội ngũ giáo viên chất lượng cao nhiệt tình với công tác nghiên cứu và giảng dạy;

            - Có đội ngũ sinh viên cao học chất lượng cao muốn học cách làm nghiên cứu hoặc hoạt động với trình độ chuyên môn cao;

                - Có bầu không khí trí tuệ khuyến khích học rộng để có học thức uyên thâm;

            - Có cở sở vật chất đủ tốt để giúp cho công tác giảng dạy và nghiên cứu có hiệu quả;

            - Tài trợ cho các hoạt động và giảng dạy;

            - Tài trợ cho công tác nghiên cứu;

            - Có đủ cơ sở hạ tầng cho công tác nghiên cứu;

            - Có ban lãnh đạo chất lượng cao.

Đội ngũ cán bộ giảng dạy có chất lượng cao

Ở một trường ĐHNC tốt, không có gì quan trọng hơn là có một đội ngũ luôn tận tụy và đầy nhiệt huyết với công tác giảng dạy và nghiên cứu. Để làm được điều đó, các quá trình tìm kiếm và lựa chọn đội ngũ cán bộ giảng dạy phải nghiêm ngặt và trực tiếp nhằm vào mục đích này. Các ban tuyển dụng cần xem xét và quảng cáo rộng rãi để đảm bảo rằng hầu hết tất cả những ứng viên có năng lực và đủ tư cách trên thế giới có khả năng biết tin về vị trí này dù là giáo viên cấp cao hay thấp. Vị trí này cần phải được xác định đầy đủ và rộng rãi để có càng nhiều ứng viên tốt nhất càng tốt. Những trường với truyền thống thuê đội ngũ giảng dạy từ những sinh viên tốt nghiệp của chính mình đã không đạt được những mục tiêu của họ theo hai cách: 1/ Họ không có được sự phục vụ của những người tốt hơn từ những trường khác và 2/ Họ đánh mất một nguồn ý tưởng mới cực kỳ quan trọng và những thủ thuật hay mà những người ở bên ngoài mang lại. Vì vậy, quá trình tuyển chọn phải nhận diện được những ứng viên tốt nhất một cách thực sự công bằng và thận trọng, phải chí công, vô tư, không ưu tiên cho những người thân thuộc, thiên vị ưu ái cho bạn bè hay tương tự như thế. Những người được bổ nhiệm hoặc được thăng chức lên những vị trí giảng viên thường trực phải chứng tỏ được năng lực nghiên cứu của mình thông qua những ấn phẩm có ảnh hưởng lớn tới cách lĩnh vực học thuật của họ. Những bài viết có thể không đầy đủ nhưng chúng phải có đóng góp thực sự và quan trọng. Tương tự, các ứng viên còn phải thể hiện được năng lực giảng dạy có chất lượng cao hay vượt trội.

Các qúa trình mà đội ngũ giảng dạy cấp thấp được thăng lên giảng viên thường trực cũng là những cơ chế kiểm soát chất lượng ngặt nghèo ở các trường ĐHNC. Không có chuyện thăng bậc theo kiểu “đến hẹn lại lên” hay tương tự như thế. Thường không đầy 50% số giảng viên được thăng bậc làm giảng viên thường trực trong số những giảng viên chưa được thăng bậc. Những người còn lại thường “rời cuộc chơi” hay bỏ trường.

            Quá trình đánh giá đóng góp của ứng viên được xem xét để thăng bậc rất ngặt nghèo và công bằng với sự tham gia đánh giá các công trình nghiên cứu của các học giả ngoài trường. Những giảng viên cấp thấp có 5-6 năm để chứng minh năng lực nghiên cứu của mình.

            Giảng viên ở các trường ĐHNC cũng phải tham gia giảng dạy. Nhìn chung, quá trình phát triển các khóa học và những tương tác sau đó của những sinh viên có chất lượng cao đã giúp giảng viên hiểu sâu hơn về lĩnh vực của họ và điều đó dẫn tới việc nghiên cứu của họ tốt hơn. Ngoài ra, việc giảng dạy tốt ở cao học có xu hướng thu hút được sinh viên tốt vào công tác nghiên cứu và giúp cho việc phát triển thế hệ cán bộ nghiên cứu sau này. Tuy nhiên, điều cũng cực kỳ quan trọng là việc giảng dạy phải dành đủ thời gian cho công tác nghiên cứu vì nghiên cứu tốt thực sự tốn thời gian.

Đội ngũ sinh viên chất lượng cao

            Đội ngũ giảng viên chất lượng cao có xu hướng thu hút được những SV chất lượng cao. Những trường ĐHNC cần tận dụng điều này và cần có sự chọn lọc trong tuyển sinh để đảm bảo rằng những SV này và đặc biệt là những học viên cao học là những người có chất lượng cao. Điều này rất quan trọng vì SVlà những người tham gia chủ yếu vào công tác nghiên cứu ở những trường ĐHNC này. Nếu công tác nghiên cứu thành công, SVphải có năng khiếu về trí tuệ và phải sẵn sàng sử dụng nhiều sinh lực và thời gian cho công tác nghiên cứu.

            Ngoài ra, SVcòn học tập lẫn nhau và quá trình học đó rất có hiệu quả khi tất cả SVđều giỏi và nhiệt tình. Về phần mình, sự có mặt của những SVtốt sẽ tạo điều kiện thuân lợi cho việc thuê đội ngũ giảng viên có chất lượng cao. Tuy nhiên, những trường ĐHNC cần phải tính tới điều này: họ chỉ có thể tiếp tục thu hút được SVchất lượng cao nếu có việc làm thích hợp cho họ sau khi học xong.

Có bầu không khí trí tuệ, khuyến khích mọi người có học thức uyên thâm

Nếu những ĐHNC thực sự thành công thì chúng phải tồn tại trong một bầu không khí tự do học thuật và trí tuệ, thực sự chia sẻ những quan điểm khác nhau, đa dạng nhưng lại mở với những phát hiện mới. Cả tư tưởng, cả tín điều đều không được cản trở việc khám phá và bộc lộ trí tuệ. Bản thân đội ngũ cán bộ giảng dạy phải xác định được hướng nghiên cứu học thuật, phải có khả năng tự do công bố các kết quả nghiên cứu. Chỉ trong những điều kiện như thế thì các ĐHNC mới có khả năng thu hút và giữ chân được nhà giáo-nhà nghiên cứu và những học viên cao học chất lượng cao và làm chủ được công tác nghiên cứu để thúc đẩy xã hội và nền kinh tế một cách có hiệu quả.

Có cở sở vật chất đủ tốt để giúp cho công tác giảng dạy và nghiên cứu có hiệu quả

            Điều có ý nghĩa sống còn là mỗi trường ĐHNC cũng phải có cơ sở vật chất phù hợp với công tác nghiên cứu và giảng dạy của mình. Để giáo dục có hiệu quả học viên cao học, cần phải có hệ thống thư viện chất lượng cao, đặc biệt là thư viện kỹ thuật số, phòng tổ chức seminars, lớp học, phòng thí nghiệm giảng dạy. Thậm chí quan trọng hơn là các phòng thí nghiệm phục vụ công tác nghiên cứu. Các trường đại học cần phân chia không gian công bằng để cho phép giảng viên cấp thấp phát triển được các chương trình độc lập với giảng viên cấp cao.

Tài trợ cho các hoạt động và giảng dạy

            Kinh nghiệm cho thấy, không có trường ĐHNC lớn nào trên thế giới có được đầy đủ ngân sách cho hoạt động của mình từ nguồn thu học phí. Các trường công lập thường nhận được kinh phí phân bổ đáng kể cho hoạt động, giảng dạy và cải thiện cơ sở hạ tầng của mình. Những nguồn này được bổ sung bằng học phí, quà tặng và các nguồn thu khác. Các trường tư nhìn chung không nhận được nguồn kinh phí phân bổ của chính phủ. Thay vào đó, thu nhập của họ là sự hòa trộn giữa học phí, quà tặng và các nguồn thu nhập khác.

Tài trợ cho công tác nghiên cứu

Công tác nghiên cứu rất tốn kém và đòi hỏi phải có đủ kinh phí. Người ta đã sử dụng nhiều cơ chế cung cấp kinh phí như: tài trợ cả gói cho trường, cho các khóa học, cho các cá nhân và nhóm nhỏ. Quá trình chọn ai sẽ được nhận tài trợ cần phải dựa trên quá trình lựa chọn công bằng và không thiên vị, đánh giá đúng. Thông thường, trong khi giảng viên ngại viết đơn đề nghị hay văn bản dự án thì quá trình này lại rất hữu ích trong việc giúp họ thực hiện chức năng này. Nó buộc họ xác định nghiên cứu nào quan trọng nhất và có tính khả thi nhất mà họ có thể thực hiện được.

Có đủ cơ sở hạ tầng cho công tác nghiên cứu

            Thường bị xem nhẹ là tầm quan trọng của hạ tầng cơ sở hỗ trợ công tác nghiên cứu ở các trường đại học. Thực vậy, ở nhiều nước kể cả ở Mỹ, chính phủ thường xem nhẹ hạ cơ sở hạ tầng, làm cho các trường đại học luôn căng thẳng về tài chính. Người ta khuyến cáo rằng những nước nào mới thành lập các trường ĐHNC không nên lặp lại sai lầm này. Dưới đây là những văn phòng quan trọng của cơ sở hạ tầng:

Có Ban lãnh đạo chất lượng cao.

Xây dựng và duy trì được một trường ĐHNC “loại I” là một việc quan trọng nhưng rất khó khăn. Nó đòi hỏi ban lãnh đạo phải có tầm nhìn xa trông rộng tận tụy và nhiệt tình vì những mục tiêu giáo dục và nghiên cứu.

Có sinh viên chất lượng cao.

Những trường ĐHNC thu hút được những SV xuất sắc, những người có thể được hưởng nhiều lợi ích trí tuệ từ đội ngũ giảng viên. Sự liên hệ giữa SVvà giảng viên tham gia sâu vào công tác nghiên cứu sẽ khiến một số trong những SVnày theo đuổi công tác nghiên cứu. Nó cũng đòi hỏi ban lãnh đạo phải có năng lực quản lý một tổ chức phức tạp mà ở đó đội ngũ giảng viên cung cấp phần lớn những người lãnh đạo có trí tuệ. Ban lãnh đạo cũng phải có năng lực chính trị để chịu đựng thái độ không kiên nhẫn từ bên ngoài và hướng sự phát triển của trường tới sức mạnh trí tuệ.

            Tuy nhiên, theo quan điểm của các học giả Trường Đại học Toronto, Canada [3] thì một trường ĐHNC tốt phải có những đặc điểm sau đây:

Tự do học thuật

        “Trường ĐH Toronto tận tâm với việc nuôi dưỡng một cộng đồng học thuật mà trong đó, học tập và trí tuệ uyên thâm của mỗi thành viên được khởi sắc với quyền con người của mỗi cá nhân được bảo vệ và với sự cam kết dứt khoát với những nguyên tắc cơ hội bình đẳng, đồng đều và công bằng. Trong khuôn khổ duy nhất của trường, có ý nghĩa cốt tử của quyền con người là các quyền tự do ngôn luận, tự do học thuật và tự do nghiên cứu. Cán bộ của trường cho rằng những quyền này sẽ vô nghĩa nếu chúng không gồm cả quyền đưa ra những câu hỏi gây rối hay những thách thức khiêu khích đối với những tín ngưỡng được xã hội nói chung và trường nói riêng. Quyền con người đối với việc giảng dạy và nghiên cứu cơ bản này mà trường phải có bổn phận quan tâm tới vì không có ai khác, không có cơ sở hay cơ quan nào khác, trong chế độ dân chủ tự do hiện đại của chúng ta, là người bảo vệ quyền quí giá nhất, dễ bị tổn thương nhất này của tinh thần con người đã được giải phóng” [4].

Trách nhiệm học thuật

Do chất lượng của những học giả được thuê, nhờ có đánh giá của đồng nghiệp chính thức và không chính thức, nhờ những chính sách của mình, các trường ĐHNC tốt nhất luôn gắn chặt tự do và trách nhiệm học thuật với nhau. Trong lớp học, trong các cuộc tọa đàm hay trong ấn phẩm học thuật những giảng viên có trách nhiệm về học thuật phải trình bày những phát hiện và luận thuyết mới dựa trên học thức uyên thâm có căn cứ, khắt khe về phương pháp và lý luận. Họ tự xem mình là thành viên của cộng đồng các trường đại học. Những cộng đồng này xây dựng mục tiêu tập thể cho những chương trình đào tạo của mình. Họ có trách nhiệm giúp cho việc đạt được những mục tiêu này trong cả giảng dạy và nghiên cứu và thông qua đóng góp của họ vào việc công tác quản trị trường ở nhiều cấp độ tại trượng. Theo Donald Kennedy của trường ĐH Harvard thì trách nhiệm học thuật đó phải là “Đáp ứng được những lớp học được chuẩn bị tốt, duy trì được chuẩn học thuật, cho học sinh thời gian để “tạo ra vấn đề”, ủng hộ đậy đủ bộ mục tiêu của trường”[5].

Sự trải nghiệm của học sinh

            Những trường ĐHNC tốt nhất, cả công lập và tư thục, đều cung cấp cho SV những kinh nghiệm tuyệt vời ở bậc đại học cũng như những dịch vụ tích hợp và có hiệu quả cho SV. Những trường này đảm bảo được bầu không khí học thuật, luôn hoan nghênh tính đa dạng, sự khác biệt và đảo bảo mọi SV có năng lực tốt và đủ tiêu chuẩn đều có cơ hội bình đẳng vào trường. Bên cạnh đó, những trường này cũng giảng dạy những chương trình mạo hiểm và khó về trí tuệ để giúp SV có khả năng đạt được những kết quả học tập chung cũng như lĩnh hội được trình độ chuyên môn về một lĩnh vực nghiên cứu cụ thể. Họ không chỉ dạy SV về chủ đề của một bộ môn mà còn dạy SV cách học bộ môn đó. Họ huy động SV vào công tác nghiên cứu thực sự. Những trường này cam kết với việc giảng dạy đại học khó, khuyến khích và khơi dậy trí sáng tạo, đồng thời lôi cuốn SV vào cuộc sống ở các thành phố và nuôi dưỡng trong SV tư tưởng học suốt đời. Nhiều trường ĐHNC đã xây dựng những chương trình tạo cơ hội nghiên cứu cho SV. Trong những chương trình này, SV ngay từ năm thứ nhất đã được làm việc với giảng viên, được dẫn dắt và giám sát thực hiện các dự án nghiên cứu của giảng viên.

Giáo dục cao học.

Những trường ĐHNC tốt nhất luôn giáo dục thế hệ kế tiếp cán bộ nghiên cứu và lãnh đạo về nghề nghiệp khác nhau như khu vực công, văn hóa, công nghiệp, kinh doanh…Họ tổ chức dạy những chương trình cao học mà ở đó số lượng, chất lượng và sự hỗ trợ nghiên cứu của cán bộ giảng dạy có thể sẽ giúp đảm bảo chương trình loại 1 và ở những nơi những nguồn lực sẵn có với học sinh có thể đảm bảo được việc tuyển SV với số lượng lớn. Họ tích cực tuyển, hỗ trợ tài chính và giám sát thận trọng những SV có năng lực nhất. Chuẩn của những trường này rất khắt khe và mục đích của họ là giúp SV đáp ứng những chuẩn này thành công. Họ tích cực đánh giá chất lượng các chương trình và SV của mình để cạnh tranh với các trường bạn ở cấp quốc gia và quốc tế. Họ đề cao và coi trọng chương trình đào tạo tiến sĩ hơn là chương trình thạc sĩ.

Tính đa dạng trong học sinh.

Những trường ĐHNC tốt nhất đều công nhận rằng việc giáo dục toàn bộ SV được đẩy mạnh khi nó được thực hiện trong những tập thể SV đa dạng. Những trường này có những bước đi tích cực để tuyển những nhóm SV đa dạng. Họ phấn đấu để có được sự cân bằng về giới, về kinh tế-xã hội, về chủng tộc và về sắc tộc. Đặc biệt họ có nhiều sáng kiến tuyển sinh để xây dựng đội ngũ SV đa dạng. Bản chất của những sáng kiến này xuất phát từ những khuôn khổ pháp lý và văn hóa. Nhiều trường cố gắng có được sự cân bằng và thành phần đa dạng SV chứ không chỉ nhằm có được những SV học tốt. Những trường như vậy hiểu tính đa dạng không những là lợi ích giáo dục mà còn là lợi ích xã hội.

Điều kiện tiếp cận của sinh viên

Trong các xã hội như Canada và Mỹ, một phần trong số những người đủ năng lực vào đại học lại bị thiết thòi về kinh tế- xã hội. Họ cần được hỗ trợ tài chính thì mới theo học được. Những chương trình như vậy không những nhằm tăng tính đại diện mà còn giữ chân và đảm bảo sự thành công cả trong học cao học và sự nghiệp của những SV bị thiệt thòi về kinh tế-xã hội. Những trường ĐHNC công lập tốt nhất thực hiện chuẩn giáo dục đại học ngang bằng với chuẩn của những trường ĐHNC tư tốt nhất trên cơ sở tài trợ của chính phủ. Trong khi những trường tư tốt nhất tài trợ đầy đủ cho những học sinh bị thiết thòi nhất về kinh tế thì với nguồn tài trợ công, những trường công chỉ có khả năng tiếp cận nhiều hơn với những SV trung lưu. Ở những trường tốt nhất, “cơ hội tiếp cận” không phải chỉ là vấn đề của việc tuyển những SV thiệt thòi về kinh tế mà còn là vấn đề của những cơ hội sẵn có cho những người đã có bằng đại học. SV tốt nghiệp những trường đại học tốt nhất có điều kiện tiếp cận với những cơ hội đặc biệt một phần vì giá trị và danh tiếng của tấm bằng.

Tuyển giảng viên thường trực

Những trường nghiên cứu hàng đầu thế giới trong một lĩnh vực nào đó thường tích cực tuyển dụng những giảng viên có khả năng duy trì sự nghiệp nghiên cứu tích cực của mình. Ở những trường tốt nhất, cả giảng viên, SV, CBQL và các ủy viên Hội đồng quản trị đều hiểu rằng việc giảng dạy đại học và cao học sẽ mạnh hơn, có hiệu quả hơn khi phần lớn việc giảng dạy đó được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu hàng đầu. Họ cũng hiểu rằng không những các nhà nghiên cứu đó mang sự hiểu biết bộ môn mình dạy vào lớp học mà họ còn làm gương cho SV một cách có hiệu quả quá trình khám phá trong lĩnh vực minh dạy. Và nhờ đó, SV học được cách tư duy hiện đại.

Đánh giá giảng viên được tuyển một cách ngặt nghèo

Những trường ĐHNC tốt nhất luôn thực hiện những rà soát và đánh giá ngặt nghèo khi tuyển dụng giảng viên. Thông thường, thời gian bổ nhiệm làm giảng viên chính thức là 7 năm hoặc lâu hơn. Việc đánh giá công tác nghiên cứu của các ứng viên được thực hiện bởi các học giả tốt nhất được thuê từ các cơ quan bạn.

Coi trọng vai trò của giảng viên không được bổ nhiệm chính thức

Trong khi giảng viên ở những trường tốt nhất vừa dạy đại học vừa dạy cao học và việc nghiên cứu và giảng dạy là hai hoạt động đan xen với nhau thì nhiều mô hình sư phạm lại đang phát triển gồm cả những nhóm giảng viên nghiên cứu chính thức và những giảng viên dạy thuần túy. Chính điều đó đã dẫn tới sự lệ thuộc ngày càng tăng vào các giảng viên không chính thức. Đồng thời các trường y cũng ngày càng dựa vào giảng viên ở các bệnh viện gần đó để dạy đại học hoặc cao học. Dù sao, các trường cũng đang cố gắng “hòa nhập” những giảng viên không chính thức vào cộng đồng học giả chính thức của mình. Còn rất nhiều việc phải làm mới tạo ra được môi trường chào đón thực sự với họ, giúp họ có và duy trì được kiến thức về lĩnh vực mình dạy để họ dạy theo chuẩn của trường.

Đội ngũ cán bộ có đẳng cấp cao.

Những trường ĐHNC tốt nhất thường tuyển dụng và đào tạo đội ngũ phục vụ, kỹ thuật viên và quản lý hành chính có đẳng cấp cao để họ có thể cung cấp các dịch vụ kịp thời, có chất lượng cao và chi phí thấp. Những cán bộ này thực sự làm tăng đáng kể giá trị của công tác nghiên cứu, giảng dạy và quản lý của trường và chất lượng đời sống học thuật của trường. Trường ĐHNC thường ủng hộ và khuyến khích công việc mà cán bộ của họ đang làm bằng cách cung cấp đúng và đủ các nguồn lực và công cụ, đánh giá việc thực hiện nghiêm túc đồng thời tạo cơ hội bồi dưỡng cho cán bộ để họ có đủ năng lực gánh vác những trách nhiệm lớn hơn và hưởng chế độ đãi ngộ tốt hơn.

Có sự đa dạng của giảng viên và cán bộ

Những trường ĐHNC tốt nhất cũng tích cực tuyển dụng giảng viên và cán bộ phục vụ từ nhiều nhóm khác nhau. Ở Mỹ, người ta đã sử dụng công cụ tài chính để thu hút cán bộ, làm cho việc tuyển dụng hấp dẫn hơn. Ngược lại, ở Ca-na-da người ta không dung công cụ này mà chủ yếu đựa vào hô hào, khích lệ, thiện ý và một số biện pháp can thiệp khác.

Sức mạnh toàn diện trong các môn học cơ bản

Những trường ĐHNC tốt nhất, do qui mô và sực mạnh học thuật, có những khoa hàng đầu mạnh gần như toàn diện về hầu hết các chuyên ngành cơ bản. 

Mạnh về các chương trình đào tạo bộ môn.

Những trường ĐHNC tốt nhất duy trì được sức mạnh học thuật và giảng dạy đặc biệt trong tất cả các chương trình bộ môn đã chọn. Các trường y có những mạng lưới bệnh viện tuyệt vời phục vụ công tác giảng dạy. Ví dụ, Trường ĐH Toronto trong những năm qua đã tiến gần tới một trường danh tiếng tuyệt vời trong hầu hết các lĩnh vực. Nó đã có một trong những tổ hợp khoa học y học tốt nhất trên thế giới. Trường luật của nó được cải thiện nhanh chóng trong những năm gần đây và hiện nay là một trường tốt nhất ở Bắc Mỹ…

Giảng dạy và nghiên cứu liên môn.

Những trường ĐHNC tốt nhất từng bước phát triển trên cơ sở sức mạnh liên môn để tạo ra và hỗ trợ một môi trường phong phú cho hoạt động dạy-học và nghiên cứu liên môn của cả SV và giảng viên. Họ cố gắng loại bỏ những trở ngại cho việc dạy học liên môn trong giảng viên, đồng thời áp dụng nhiều chính sách khuyến khích. Mọi người đều ý thức rõ rằng những học giả giàu kinh nghiệm và có trình độ chuyên môn khác nhau sẽ đưa ra nhiều đề xuất có ý nghĩa cho việc giải quyết những vấn đề khó khăn và phức tạp nhất. Ở những trường nghiên cứu tốt nhất, cách tiếp cận liên môn đã thấm sâu vào các hoạt động học thuật của trường và được ban lãnh đạo trường ấp ủ và đưa vào tất cả các chương trình, truyền đạt tới các khoa, giảng viên và cán bộ hành chính cấp cao.

Liên kết quốc tế và năng lực liên văn hóa

Do tầm quan trọng và thành tích đã đạt được trong công việc của mình, giảng viên ở những trường tốt nhất thường liên kết với một mạng lưới học giả quốc tế để những học giả này có thể cộng tác làm việc với họ. Những trường ĐHNC này liên thông với một thế giới đã được “toàn cầu hóa” về các chương trình đào tạo đại học và cao học ở nhiều cấp độ và theo nhiều cách khác nhau. Những chương trình này có rất nhiều khóa học mang tính quốc tế và đa quốc gia, đồng thời phát triển cả những chương trình nghiên cứu và giảng dạy chọn lọc mang tính “nhập khẩu quốc tế” hoặc nghiên cứu các lĩnh vực khác của thế giới. Những chương trình này giúp cho SV tiếp cận với những kinh nghiệm quốc tế có ý nghĩa như là một phần của chương trình đào tạo thông qua việc tuyển sinh các SV quốc tế và sử dụng kiến thức văn hóa của họ. Vì vậy, phát triển năng lực liên văn hóa trở thành kết quả học tập mà SV của những trường này phải đạt được.

Tính chọn lọc.

Những trường tốt nhất đầu tư vào các chương trình nghiên cứu và học thuật khi phần lớn là tất cả những tiêu chí sau đây được đáp ứng:

     - Lĩnh vực đó có ý nghĩa lớn về học thuật hoặc được công chúng cần.

     - Có ban lãnh đạo có tầm nhìn xa trông rộng và có nhiệt huyết với những chương trình và đội ngũ cán bộ nòng cốt mạnh,có hiệu quả sẵn sàng làm việc tích cực để hiện thực hóa các nguồn lực lớn và những thành tựu trí tuệ của chương trình.

     - Có nhiều SV nhiệt huyết tham gia vào chương trình.

     - Tuân thủ những quy trình đánh giá ngặt nghèo. Và việc đánh giá phải kịp thời.

     - Kế hoạch công việc phải thực tế, kịp thời xác định chính xác, nhu cầu chi tiêu và các nguồn thu.

Trách nhiệm công.

Do những trường ĐHNC tốt nhất được tài trợ nên thông qua các chương trình nghiên cứu và học thuật, người ta mong những trường này hỗ trợ giải quyết những vấn đề văn hóa, kinh tế-xã hội và chính sách cấp bách nhất của khu vực và của đất nước. Dù là công hay tư, những trường này phải là bộ mặt văn hóa, xã hội và kinh tế của thành phố, khu vực, đất nước và là động lực quan trọng thúc đẩy sự thịnh vượng và chất lượng cuộc sống.

Quản lý nhà nước.

Các trường công thường phải có trách nhiệm và có độ minh bạch cao hơn các trường tư. Trách nhiệm trước những nhà tài trợ khu vực công ở hầu hết các nước nghĩa là phải chịu trách nhiệm trước các nhà chính trị được bầu. Những trường ĐHNC tốt nhất là những trường mà chính phủ và các nhà tài trợ hiểu được giá trị của kết quả đào tạo cũng như những đóng góp của họ vào công tác đào tạo đại học và cao học và những lợi ích lâu dài khác mà việc hỗ trợ những trường này mang lại.

Cơ sơ hạ tầng phục vụ học thuật.

Những trường ĐHNC tốt nhất duy trì cơ sở hạ tầng hiện đại có thể giúp giảng viên, cán bộ trườngvà SV làm được những công việc tốt nhất. Họ hiểu được tầm quan trọng của các thư viện lớn và các phòng thí nghiệm và công nghệ thông tin. Những trường này cung cấp nhà ở, lớp học và văn phòng có thể nhỏ bé nhưng “thông minh” và hiệu quả về công nghệ. Họ cũng tạo CSVC, không gian học tập cho SV. Họ có các các nguồn lực và nguồn thu đa dạng. Đây là kết quả của những mối quan hệ có hiệu quả và có ý nghĩa của họ với chính phủ, doanh nghiệp và cộng đồng. Dưới đây là 5 thư viện tốt nhất thế giới theo các năm:

ARL Rankings: 5 Thư viện ở các trường ĐHNC tốt nhất thế giới

Năm 1999

Năm 2000

Năm 2001

1. Harvard

1. Harvard

1. Harvard

2. Yale

2. Yale

2. Yale

3. Stanford

3. Toronto

3. UC Berkeley

4. Toronto

4. UC Berkeley

4. Stanford

5. UC Berkeley

5. Stanford

5. Toronto

Tạo ra các nguồn lực.

Những trường ĐHNC tốt nhất phải nói cho bên ngoài biết họ đang làm gì và ưu tiên của họ là gì để hiện thực hóa được các nguồn lực của mình. Họ tuyển những SV tốt nhất, những giảng viên tốt nhất để thu hút tài trợ bằng cách nói cho nhân dân, các nhà tài trợ và chính quyền địa phương cái họ đang làm và tại sao những việc quan trọng đó.

Trường phải là nơi sôi động và quan trọng.

Những trường ĐHNC tốt nhất mong giảng viên của mình trở thành những người đi đầu trên thế giới trong học thuật và giảng dạy và trường phải là nơi sôi động, quan trọng và tạo ra cảm giác thú vị cho cả người dạy và học.

Trong bài viết của mình với tiêu đề “Xây dựng trường đại học nghiên cứu mang màu sắc Trung quốc”, Thứ trưởng Giáo dục Trung Quốc Zhao Qinping [7] cho rằng:

1/ Ngoài những đặc điểm chung là có chuẩn cao, có đội ngũ giảng viên hạng nhất, có nghiên cứu khoa học hạng nhất, có nguồn SV hạng nhất cùng với đặc điểm và lợi thế riêng của mình, chuẩn cao và những đặc điểm riêng là hai “vũ khí bí mật” để những trường ĐHNC Trung Quốc tồn tại và phát triển, góp phần vào sự phát triển XH và tác động tới XH.

2/ Đặt nền móng vững chắc cho nghiên cứu cơ bản. Nghiên cứu cơ bản nói về quá trình mà trong đó loài người phát hiện ra những qui luật tự nhiên và là những cầu nối cơ bản nhất trong khoa học. Giáo dục cơ bản là khởi nguồn của mọi NCKH và là điểm xuất phát mà ở đó khoa học giúp cho việc thực hiện được sự phát triển của XH và con người. Bất cứ ai cũng có thể cảm nhận sâu sắc được sự đóng góp to lớn của nghiên cứu cơ bản vào sự tiến bộ XH và phát triển lịch sử. Quốc hội và chính quyền Mỹ coi nghiên cứu cơ bản là hòn đá tảng trong việc đảm bảo lợi ích lâu dài của quốc gia, duy trì tính cạnh tranh trong tương lai và sự đi đầu của khoa học và công nghệ và luôn luôn hỗ trợ đặc biệt cho nghiên cứu cơ bản. Tất cả các trường ĐHNC đã thành danh trên thế giới đều coi trọng giáo dục và nghiên cứu cơ bản trong khoa học xã hội. Một số nước phát triển ở Bắc Mỹ và châu Âu cũng coi các trường ĐHNC là những lực lượng to lớn trong việc thực hiện nghiên cứu cơ bản của quốc gia.

3/ Ưu tiên hàng đầu cho nghiên cứu công nghệ và nghiên cứu triển khai. Phát triển công nghệ là chìa khóa cho việc chuyển giao khoa học và công nghệ. Cuộc cách mạng khoa học đã tạo ra những thay đổi lớn lao trong cơ cấu tổ chức và kinh tế của hệ thống sản xuất xã hội và hậu quả là dẫn tới các cuộc cách mạng công nghiệp. Nghiên cứu và triển khai công nghệ là những phương tiện quan trọng để thúc đẩy sự phát triển kinh tế và tạo thuận lợi cho sự hình thành và phát triển các ngành công nghiệp.

4/ Gánh vác trách nhiệm thương mại hóa và công nghiệp hóa công nghệ. Mục tiêu cuối cùng của NCKH là cải thiện lực lượng sản xuất XH, thúc đẩy sự phát triển XH và tăng trưởng kinh tế. Việc thương mại hóa và công nghiệp hóa những thành quả của NCKHlà phương tiện và cách cần thiết. Chỉ có thông qua ứng dụng những thành quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất và công nghiệp hóa sản phẩm nghiên cứu thì NCKH mới thực sự góp phần vào sự phát triển kinh tế XH và chỉ có bằng cách đó khoa học và công nghệ mới trở thành lực lượng sản xuất đầu tiên.

5/ Thực hiện nghiên cứu chính sách công và tư vấn chính sách cho chính phủ. Thực hiện nghiên cứu trong việc hoạch định chính sách công đều có liên quan trực tiếp tới sự phát triển XH, tới hiệu quả của chính phủ và tới quyền lợi của công chúng nói chung. Chính quyền các cấp luôn ngày càng coi trọng việc hoạch định chính sách khoa học và dân chủ. Qui trình hoạch định chính sách của chính phủ đang được chuẩn hóa và hợp pháp hóa và khối lượng công việc trong thực hiện nghiên cứu chính sách công, NCKH mềm và hoạch định chính sách của chính phủ đang ngày càng lớn.

3. Xu hướng phát triển

      Sự phát triển mạnh của ĐHNC còn thể hiện ở chỗ: nhiều trường ĐHNC lớn trên thế giới còn liên kết với nhau thành mạng lưới trường. Liên minh các trường ĐHNC Châu Âu (League of European Research Universities, viết tắt là LERU) là hiệp hội các trường ĐHNC chuyên sâu gồm 21 nước hàng đầu châu Âu, chia sẻ những giá trị giảng dạy chất lượng cao trong một môi trường cạnh tranh quốc tế. Liên minh được thành lập năm 2002 với sứ mệnh tạo ra những tri thức mới thông qua nghiên cứu cơ bản – cái là nguồn gốc cách tân cuối cùng trong xã hội đồng thời thúc đẩy nghiên cứu trên một mặt trận đối tác rộng lớn có liên kết với các ngành và doanh nghiệp trong xã hội. Mục tiêu chính của Liên minh là ủng hộ những giá trị, tác động tới những chính sách của châu Âu,  mở rộng thực hành thông qua trao đổi kinh nghiệm, thường xuyên xuất bản và công bố các sản phẩm nghiên cứu, cung cấp những bài phân tích chuyên sâu và đưa ra những khuyến cáo cụ thể cho các nhà hoạch định chính sách, các trường đại học, các nhà nghiên cứu và các đối tác. Sự phát triển tầm cỡ của Liên minh này có thể được hiểu thông qua những con số sau đây:

-  Hơn 550.000 sinh viên trong đó có 50.000 nghiên cứu sinh tiến sĩ.

-  Mỗi năm đào tạo ra khoảng 55.000 thạc sĩ, 12.000 tiến sĩ.

-  Tổng ngân sách cho nghiên cứu hàng năm trên 5 tỷ Euro

-  Các Hội đồng nghiên cứu cấp trên 1 tỷ Euro trong khi đó các hợp đồng nghiên cứu thu được khoảng 1,25 tỷ Euro.

-  Tổng các khoảng tài trợ nghiên cứu từ các dự án của Liên minh châu Âu cho các trường ĐHNC thành viên xấp xỉ 300 triệu Eurro

-  Trên 230 người được giải thưởng Nobel và giải Field đã từng học tập hoặc làm việc tại các trường thành viên.

-  Các trường thành viên có 55.000 cán bộ có trình độ học thuật và 55.00 người khác làm trong các chuyên môn khác như bệnh viên, dịch vụ…[9]

Tháng 1 năm 2006, Liên minh Quốc tế Các Trường ĐHNC cũng được ra đời. Đây là cơ quan cộng tác của 10 trường ĐH nghiên cứu chuyên sâu là  ĐH Quốc gia Úc, Đại học Cambridge(Anh), Đại học Oxford (Anh), Đại học California tại Berkeley (Mỹ), Đại học Yale, Đại học Bắc Kinh, Đại học Quốc gia Singapore, Đại học Tokyo, Đại học Copenhagen,  Đại học ETH Zürich.

4. Kết luận

            Trường ĐHNC là một loại trường có chất lượng cao và có xu hướng ngày càng phát triển trên thế giới trong những năm tới. Có thể nói, công tác nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu triển khai chủ yếu được phân thành hai luồng chính: Thứ nhất, công tác nghiên cứu được thực hiện bởi giảng viên và SV ở các khoa về các chuyên ngành họ đang giảng dạy và học tập. Cũng ở các khoa, giảng viên có thể hướng dẫn, chỉ đạo SV, nghiên cứu sinh cùng thực hiện các dự án hoặc liên kết với các đối tác trong và ngoài nước. Cơ sở vật chất thường là thư viện hoặc các phòng thí nghiệm, mạng Internet hoặc các phương tiện giúp công bố các sản phẩm khoa học khác. Thứ hai, công tác nghiên cứu chuyên sâu được thực hiện trong viện nghiên cứu nằm trường ĐHNC. Đội ngũ cán bộ nghiên cứu có thể làm nghiên cứu thuần túy hoặc kiêm nhiệm công tác giảng dạy. Thực tiễn ở các nước cho thấy ĐHNC có thể tồn tại trong bất cứ ngành nào, dù trong KHKT, KHGD, CNTT hay KH Y học hay khoa học vũ trụ. ĐHNC dường như là một hiện tượng mới ở Việt Nam trong quá trình hội nhập. Mặc đù vậy, chưa trường ĐH nào tự cho mình là ĐHNC vì nó chưa thỏa mãn được tất cả những tiêu chí quốc tế. Nhưng chúng ta tin rằng trong những năm tới Việt Nam sẽ có nhiều trường ĐHNC và chúng sẽ được hoàn thiện từng bước chứ không phải chờ tới khi hoàn thiện mới công nhận “đạt chuẩn”.

 

Tài liệu tham khảo

1.      University of Washington. "Carnegie Research I Universities". Retrieved 2009-03-18.

2.      Viện Đại học Leland Stanford Junior, thường được gọi là Viện Đại học Stanford hay chỉ Stanford,[1] là viện đại học tư thục thuộc khu vực thống kê Stanford, California (Hoa Kỳ). Cùng với Viện Đại học Harvard, Viện Đại học Yale và Viện Đại học Princeton, Viện Đại học Stanford nằm trong nhóm những viện đại học tốt nhất của Hoa Kỳ. Giấy phép thành lập Viện Đại học Stanford được viết ngày 11 tháng 11 năm 1885 và được chấp nhận bởi Ban Quản trị đầu tiên ngày 14 tháng 11. Viên đá móng được đặt xuống ngày 14 tháng 5 năm 1887, và trường mở cửa chính thức ngày 1 tháng 10 năm 1891 đón 559 sinh viên.

3.      (http://portal.unesco.org/education/es/files/51613/11634229035Bienenstock-EN.pdf/Bienenstock-EN.pdf.

4.      http://www.utoronto.ca/plan2003/greenB.htm

5.      Statement of Institutional Purpose, The University of Toronto

6.      Donald Kennedy, Academic Duty (Harvard UP, 1997), trang19

7.      For much more extended treatments of the history of the University, see A.B. McKillop, Matters of Mind: The University in Ontario 1791-1951 (Toronto: UTP, 1994) and Martin L. Friedland, The University of Toronto: A History (Toronto: UTP, 2002).

8.      http://www.hlhl.org.cn/english/shownews.asp?newsid=380

9.      http://www.nesovietnam.org/Vietnamese-students/information-in-english/dutch-institutions/research-universities

http://en.wikipedia.org/wiki/League_of_European_Research_Universities
Publish: 4/24/2015 - Views: 644 - Lastest update: 4/24/2015 10:26:34 AM
Tin cùng chuyên mục