Email: email@ioer.edu.vn | vncsp@hnue.edu.vn
Phát triển Chương trình giáo dục

MỘT SỐ ĐỀ XUẤT GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠ

TS. Trương Thị Bích

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

 

ĐÔI NÉT THỰC TRẠNG…

Có một thực tế, hầu hết sinh viên (SV) khi được tổ chức đi kiến tập (KT), thực tập sư phạm (TTSP) tại các trường phổ thông (PT) đều có một nhận xét rằng : các kiến thức về nghiệp vụ sư phạm (tri thức SP và kỹ năng SP) được trang bị ở trường Đại học không giúp họ được nhiều so với yêu cầu thực tế giảng dạy – giáo dục ở trường PT. Chính vì vậy mà các đợt KT, TTSP đã là một “cơ hội” để sinh viên SP có dịp bộc lộ hết sự non, yếu, thiếu về NVSP của mình.

 Từ góc độ trường Đại học Sư phạm:

Trường ĐHSP là cơ sở đào tạo giáo viên, là nơi cung cấp nguồn nhân lực – người dạy học cho các trường phổ thông. Nói cách khác, trường SP là nơi “tạo ra sản phẩm”, còn các trường PT là “khách hàng tiêu thụ sản phẩm”. Thế nhưng, nơi đào tạo đã chưa quan tâm thực sự đến “đơn đặt hàng” của khách hàng, đã cho “ra lò” những sản phẩm được đánh giá là “giàu tri thức chuyên môn, nghèo kỹ năng SP”. Trong khi, chính NVSP sẽ quyết định tay nghề giáo viên, làm nên bản lĩnh giáo viên. Thiếu NVSP, giáo viên không thể thực hiện tốt hoạt động dạy học của mình. Đã có rất nhiều ý kiến tìm hiểu về những nguyên nhân tạo ra độ “vênh, lệch” giữa nội dung, chương trình đào tạo NVSP ở các trường SP với yêu cầu thực tế giảng dạy - giáo dục của các trường PT. Ở đây chỉ xin được trích lại nhận định của một nhà nghiên cứu về thực trạng rèn luyện NVSP ở trường SP : “Những thay đổi về nội dung, chương trình, phương pháp dạy học ở PT chưa được cập nhật vào việc đào tạo NVSP cho SV, khiến nghịch cảnh “sư phạm đi sau phổ thông” cứ tồn tại dai dẳng mãi”.

Từ góc độ trường PT:

Khách quan mà nói, trường SP chính là “cái nôi” của đổi mới phương pháp dạy học bởi các nhà khoa học, các chuyên gia đầu ngành. Thế nhưng, ý tưởng đổi mới, lý thuyết đổi mới chỉ trở thành hiện thực trong thực tiễn dạy học sinh động, với những đối tượng giáo dục cụ thể. Ở đó (trường PT), mối quan hệ gia đình - nhà trường - xã hội mới được thể hiện với muôn vàn những tình huống cụ thể đa dạng, phong phú. Vì vậy mà đây chính là “thực địa” lý tưởng để các nhà phương pháp triển khai các thành tựu lý luận của mình. Thực tế, qua việc quản lý của nhà trường, qua việc sinh hoạt, dự giờ góp ý của các tổ chuyên môn, qua các đợt thao giảng các cấp (cấp trường, cấp cụm, cấp quận, huyện, thành phố, cấp tỉnh); qua các kỳ kiểm tra, thanh tra của Phòng Giáo dục, Sở Giáo dục, Bộ Giáo dục - Đào tạo ; qua việc triển khai các dự án, việc thử nghiệm kết quả luận án của các nghiên cứu sinh,… giáo viên PT thực sự đã vừa được cập nhật kiến thức mới (cả nội dung và phương pháp) vừa được rèn luyện rất nhiều về kỹ năng SP. Chưa kể hàng ngày, hàng giờ họ phải xử lý rất nhiều các tình huống giáo dục với học sinh, phụ huynh, với các tổ chức xã hội liên quan đến giáo dục. 

Nói như vậy không có nghĩa là tất cả giáo viên PT đều tinh thông về chuyên môn và thuần thục về kỹ năng nghề nghiệp, đều tiếp cận được với tinh thần đổi mới của phương pháp dạy học. Không loại trừ vẫn có một bộ phận giáo viên mặc dù tuổi nghề không ít nhưng vẫn còn những lúng túng khi xử lý các tình huống giáo dục hoặc tỏ ra chưa thật chắc chắn về kiến thức chuyên môn. Điều này phụ thuộc vào tố chất, vào năng lực của mỗi người. Tuy nhiên, nhìn chung, với môi trường, điều kiện công tác thuận lợi, hầu hết giáo viên PT đều đã có những ưu thế nổi trội cả về chuyên môn lẫn NVSP.

Một số nước trên thế giới 

Ở các nước trên thế giới, công tác đào tạo và phát triển GV được triển khai theo các hướng :

- Đẩy mạnh thực hành trong quá trình đào tạo ở trường đại học, tăng cường cho SV thực hành giảng dạy và giáo dục tại các trường thực hành.

- Chú trọng đến việc rèn GV mới vào nghề, đặc biệt chú trọng vào việc rèn kỹ năng nghề nghiệp.

- Quy trình tuyển chọn GV vào nghề phải qua các bước :

+ Kiểm tra viết: Bài kiểm tra viết đánh giá kiến thức chung về giáo dục và kiến thức chuyên ngành.

+ Phỏng vấn: Là những giáo sinh đã vượt qua bài kiểm tra viết.

+ Những thí sinh nào qua được bài phỏng vấn sẽ được tham gia vào chương trình đào tạo dành cho GV mới vào nghề. Sau chương trình đào tạo này, họ mới được chính thức trở thành GV dạy tại các trường PT.

Như vậy, ở các nước, công tác rèn luyện NVSP cho SV được đặt ra đặc biệt quan trọng. Nội dung, chương trình, phương pháp rèn NVSP không những được thực hiện rất tích cực ở trường đại học mà còn được đặc biệt chú trọng khi SV đã ra trường. Ở Việt Nam, kỹ năng NVSP hoàn toàn được “phó thác”  trong trường SP. Chính vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu để tìm ra các giải pháp tích cực nâng cao chất lượng NVSP cho sinh viên các trường Đại học Sư phạm là vô cùng cần thiết và cấp bách.

MỘT SỐ ĐỀ XUẤT

1. Tinh thần của đổi mới phương pháp dạy học phải được triển khai và thực hiện ngay từ chính người thầy dạy đại học

Người thầy ở đây là các giảng viên đại học, bao gồm tất cả các giảng viên của các môn giáo dục đại cương (Ngoại ngữ, Giáo dục quốc phòng, các môn khoa học Mác - Lê-nin,…); giáo dục chuyên ngành và nghiệp vụ sư phạm (Tâm lý học, Giáo dục học, Phương pháp giảng dạy bộ môn). Rèn kỹ năng là một quá trình. Người thầy không thể chỉ ngồi nghiên cứu tài liệu Đông, Tây, kim cổ, tìm ra biết bao phương pháp mới, so sánh, đối chiếu phát hiện ra những ưu điểm so với phương pháp truyền thống để rồi truyền tải những kiến thức rất mới này cho SV bằng phương pháp… truyền thống. Rõ ràng đây là những “tấm gương” cho SV về cách dạy, cách học. Dạy học hướng vào người học là luận điểm then chốt của lý luận dạy học hiện đại, là bản chất của đổi mới phương pháp dạy - học. Người thầy trong trường đại học chưa quán triệt và triển khai tinh thần này trong các bài giảng của mình tới SV. Tức là chưa ý thức được việc dạy cho SV cách tư duy, cách học sáng tạo. Người thầy chưa phải là cố vấn, huấn luyện viên, người quản lý, điều khiển quá trình học tập của SV. SV vẫn là những “bình chứa” thụ động để ông thầy chủ động “rót” kiến thức. Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng góp phần “đào tạo” ra những SV ngơ ngác, non, yếu,… khi đi kiến tập, thực tập tại các trường PT. Thiết nghĩ, việc đổi mới cách dạy, cách học trong các trường đại học, nhất là các trường đại học Sư phạm chính là cái gốc, là căn cốt để SV – người giáo viên tương lai học cách dạy sáng tạo, học cách học sáng tạo và cũng chính là rèn luyện bản lĩnh nghề nghiệp.

  2. Các môn học cung cấp tri thức sư phạm cần được gắn kết chặt chẽ với hoạt động rèn luyện các kỹ năng sư phạm

Các môn Tâm lý học, Giáo dục học, Phương pháp dạy học bộ môn được xem là những môn học cung cấp tri thức sư phạm cho SV. Điều đó cũng có nghĩa là chúng có mối quan hệ mật thiết với việc hình thành các kỹ năng sư phạm (qua các hoạt động thực hành SP, các đợt KT, TTSP). SV sẽ vận dụng các kiến thức SP này để xử lý các tình huống giáo dục cụ thể. Từ đó sẽ làm giàu thêm vốn liếng NVSP của mình. Muốn thực hiện được nhiệm vụ này, nội dung của các môn học phải rất sát với thực tiễn dạy học - giáo dục ở PT; quá trình giảng dạy môn học phải theo sát các hoạt động thực hành SP, hoạt động kiến tập, thực tập ở trường PT. Thực tế ở các trường SP hiện nay, các môn học Tâm lý học, Giáo dục học thường được xếp vào các môn học chung, học vào năm thứ nhất, năm thứ hai trong khi các hoạt động rèn luyện kỹ năng SP lại dồn về năm thứ ba và năm thứ tư. SV học các môn học này với mục đích là lấy điểm và lấy điểm xong thì có thể quên luôn. Họ không có ý thức vận dụng và cũng không thể vận dụng được các kiến thức về tâm lý học, giáo dục học vào việc xử lý các tình huống SP cụ thể. Chính vì vậy, điều quan trọng cần làm để khắc phục tình trạng này là:

- Thứ nhất, giảng viên các bộ môn Tâm lý học, Giáo dục học cần theo sát nhiệm vụ rèn luyện NVSP của SV để đổi mới nội dung và phương pháp dạy học cho thiết thực và hiệu quả.

- Thứ hai, các nhà quản lí đào tạo, các nhà nghiên cứu xây dựng khung chương trình đào tạo và phát triển giáo viên trong trường SP phải sắp xếp thời gian cũng như thời lượng giảng dạy của các môn học này sao cho phù hợp và hiệu quả với các hoạt động rèn luyện kỹ năng SP (về dung lượng kiến thức, về thời điểm triển khai).

- Thứ ba, bộ môn Phương pháp dạy học phải căn cứ vào thực tiễn dạy học ở trường PT để xây dựng các chuyên đề mang tính thiết thực rèn luyện NVSP cho SV. Ví dụ: tham khảo mẫu soạn giáo án của giáo viên PT, trình tự lên lớp, cách hướng dẫn HS học bài, thu thập các tình huống giáo dục từ giáo viên chủ nhiệm để hướng dẫn SV tập xử lý,… Nên tăng cường các chuyên đề mang tính thực hành, bớt các chuyên đề nặng tính lý thuyết, hàn lâm.

Giảng viên bộ môn Phương pháp dạy học nên trực tiếp dự giờ giáo viên PT, và tốt hơn nữa nếu giảng viên có tham gia giảng dạy tại trường PT.

3. Phải tăng cường thực hành cho SV

Trường SP là cơ sở đào tạo nghề dạy học, không chỉ và không phải đơn thuần là cơ sở nghiên cứu. Vì vậy, phải tổ chức cho SV tiếp cận được với các đối tượng giáo dục càng sớm càng tốt. Hơn nữa, việc học lý thuyết phải được thực hiện song song với hoạt động thực hành. Hiện tại, SV được đi thực tế tại các trường PT vào hai đợt. Đợt một, vào học kỳ II năm thứ ba với thời gian 3 tuần gọi là kiến tập. Đợt hai vào học kỳ II năm thứ tư với thời gian 5 tuần gọi là thực tập. Ngoài ra, trong trường còn tổ chức các đợt rèn luyện NVSP vào các dịp kỷ niệm, các ngày lễ. Ví dụ: Kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam, trường có tổ chức Tuần lễ NVSP.

Có thể thấy rõ những bất cập, những điều chưa đủ cho nhiệm vụ đào tạo nghề, rèn kỹ năng SP cho SV ở trường SP. Thứ nhất, như đã đề cập ở phần Thực trạng…, SV chưa được chuẩn bị kỹ càng nên khi xuống thực tế PT chưa thể bắt tay vào hoạt động “thực hành” đúng nghĩa mà mới chỉ là “làm quen”, “bắt đầu”, thậm chí “bắt chước”. SV chưa đủ thời gian để độc lập sáng tạo. Thứ hai, các hoạt động rèn luyện NVSP ở trường SP được tổ chức tuy có quy mô hoành tráng (ở tất cả các khoa trong toàn trường) nhưng lại dưới hình thức các cuộc thi. Vì thế mà hoạt động này chỉ dồn vào một số em có năng lực riêng (hát, múa, đọc thơ, ngâm thơ, đọc diễn cảm, trình bày bảng,…). Rèn luyện NVSP chưa đạt được hiệu quả tích cực trên diện rộng. Hơn nữa, các hoạt động này được tổ chức tự phát, manh mún hàng năm, không nằm trong khung quy định chương trình chuẩn cho đào tạo NVSP của nhà trường.

Trước thực tế này, nên chăng :

- Tổ chức cho SV xuống các trường PT sớm hơn, ngay từ năm thứ nhất. Có thể không cần phải tổ chức quy mô như các đợt KT, TT mà định hướng cho các khoa, từ các khoa triển khai cho các lớp cụ thể về việc đăng ký kết nghĩa với các trường PT gần trường SP; làm việc với Ban Giám hiệu các trường PT cho SV về trường tham gia làm công tác chủ nhiệm, tham gia dự giờ, sinh hoạt với nhóm, tổ chuyên môn ; tất nhiên là chưa cho SV tham gia dạy thử trên đối tượng HS ; không đặt ra vấn đề có giáo viên hướng dẫn. Các hoạt động này không cần phải nhận xét, đánh giá, cho điểm, chỉ cần SV báo cáo diễn biến và kết quả công việc hoặc đưa ra các tình huống giáo dục mà mình gặp để nhóm, tổ SV cùng tham gia xử lý, rút kinh nghiệm. Tất cả các hoạt động này để các nhóm SV chủ động sắp xếp thời gian, làm sao để không ảnh hưởng đến việc học các môn học khác. Điều này hoàn toàn có thể thực hiện được vì SV thông thường chỉ phải lên lớp một buổi trong ngày. Các đợt đi xuống các trường PT như thế có thể không cần quy định ngày kết thúc. Ngày kết thúc phụ thuộc vào ý định của nhóm SV, phụ thuộc vào thỏa thuận giữa giáo viên chủ nhiệm và SV, giảng viên phụ trách nắm tình hình thông qua nhóm trưởng SV.

- Tại trường SP, nên phân SV thành các nhóm nhỏ hoặc vẫn duy trì các nhóm tham gia sinh hoạt ở trường PT. Giảng viên tùy vào nội dung môn mình phụ trách để đưa ra các vấn đề, các tình huống hoặc tổ chức cho SV nghĩ ra các vấn đề, các tình huống khác để suy nghĩ tìm ra các phương án giải quyết. Các vấn đề, các tình huống có thể là việc khai thác sách giáo khoa như thế nào cho hợp lý. Là cách trình bày bảng thế nào cho khoa học. Diễn đạt trước một tập thể làm sao cho khỏi lúng túng, nói năng thế nào cho lưu loát, xử lý một em học sinh có thái độ vô lễ thì phải như thế nào?… Sang đến năm thứ ba, thứ tư có thể tổ chức cho SV tập giảng, chọn SV ưu tú để giảng mẫu, giảng viên giảng mẫu, nhóm, tổ góp ý xây dựng, rút kinh nghiệm.

Chuẩn bị kỹ cho SV ngay từ năm thứ nhất như thế chắc chắn đến các đợt KT, TT ở những năm sau, SV sẽ bớt lúng túng, bỡ ngỡ ; thậm chí còn phát huy tính chủ động, sáng tạo trong công tác giảng dạy cũng như công tác chủ nhiệm và các hoạt động giáo dục khác tại trường PT.

  Tóm lại, vấn đề nâng cao chất lượng nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên các trường đại học sư phạm là một vấn đề lớn, đòi hỏi sự nỗ lực tổng hợp của các nhà quản lý, các nhà khoa học, các giảng viên trực tiếp đứng lớp, đặc biệt đòi hỏi sự nỗ lực tự thân của SV. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ tập trung đề cập đến ba vấn đề góp phần nâng cao chất lượng rèn luyện NVSP cho SV. Thứ nhất, người thầy giáo trong trường SP phải là người đi tiên phong trong việc đổi mới phương pháp dạy học. Thứ hai, các môn học cung cấp tri thức SP phải gắn kết, liên kết mật thiết với các hoạt động rèn kỹ năng SP. Thứ ba, phải tăng tính thực hành cho SV, tổ chức cho SV sớm tiếp xúc với “môi trường thực”, môi trường nhà trường PT. Thiết nghĩ, nếu ba vấn đề này được triển khai và thực hiện tốt, chắc chắn sẽ góp phần không nhỏ trong việc thực hiện thành công nhiệm vụ lớn: đào tạo sinh viên sư phạm trở thành những giáo viên có trình độ chuyên môn vững vàng, có vốn liếng tri thức SP, kỹ năng SP phong phú, có tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo trong giảng dạy cũng như trong việc xử lý các tình huống giáo dục nói chung. Các giáo viên được đào tạo với “chất lượng” như vậy sẽ là một nguồn lực mạnh, góp phần không nhỏ đưa sự nghiệp giáo dục nước nhà sớm hội nhập với khu vực và quốc tế. 
Publish: 4/24/2015 - Views: 540 - Lastest update: 4/24/2015 8:30:15 AM
Tin cùng chuyên mục