Email: email@ioer.edu.vn | vncsp@hnue.edu.vn
Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường

PHÁT TRIỂN NỘI DUNG ĐÀO TẠO KIẾN THỨC VÀ KỸ NĂNG VỀ LÃNH ĐẠO VÀ QUẢN LÝ TRONG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN

Ths. Phạm Quang Huân

VNCSP, trường ĐHSPHN

1. Về khái niệm “lãnh đạo” và “quản lý”

Một cách hiểu chưa đầy đủ nhưng đã trở thành phổ biến lâu nay, cho rằng: các khái niệm "lãnh đạo", "quản lý" chỉ gắn liền với những cá nhân có chức danh chính thức trong bộ máy chính quyền hoặc đoàn thể hay tổ chức xã hội. Theo đó, nơi này làm lãnh đạo, nơi kia làm quản lý, phân định rất rạch ròi và cứng nhắc.

Sự lệch lạc nhận thức ấy, tiếc rằng, lại ảnh hưởng rộng rãi và sâu sắc tới mọi lĩnh vực, trong đó có giáo dục. Đây là vấn đề vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn, rất cần được nghiên cứu và nhận thức lại. Bài viết này không trình bày sâu vấn đề đó mà chỉ mượn hai khái niệm nói trên làm điểm tựa để bàn tới vấn đề liên quan trong phát triển chương trình đào tạo giáo viên.

Vậy thế nào là lãnh đạo và quản lý?

Trong rất nhiều kiến giải của các nhà nghiên cứu về khoa học lãnh đạo và quản lý trên thế giới, xin nêu quan niệm sau của hai nhà nghiên cứu nổi  tiếng người Mỹ về khoa học lãnh đạo (LĐ) và quản lý (QL), mà theo chúng tôi, đã phản ánh được bản chất nội hàm của hai khái niệm:

- Lãnh đạo là làm việc đúng (do the right thing), còn quản lý là làm đúng việc (do things right) (Warren Bennis - 1997).

- “Quản lý là quá trình bảo đảm cho chương trình và mục tiêu hành động của tổ chức được thực hiện. Khác với quản lý, lãnh đạo xây dựng tầm nhìn và tạo động lực cho mọi người", "lãnh đạo là gây ảnh hưởng ", “lãnh đạo là truyền cảm hứng" (John C. Maxwell - 1993).

Điều cần nhấn mạnh thêm là, hầu hết các nhà nghiên cứu và các quản lý gia nổi tiếng trên thế giới đều nhất quán coi LĐ và QL là tích hợp của các thuộc tính phẩm chất và năng lực; đồng thời - như Peter Druker khẳng định - cả hai đều quan trọng và cần được kết hợp hài hoà (trong chủ thể LĐ, QL). LĐ và QL là hai khái niệm khác biệt nhau nhưng trong thực tế, chúng không tách bạch mà tích hợp hài hòa trong một chủ thể QL.

2. Những thay đổi về vai trò, chức năng của người GV và sự cần thiết phát triển năng lực LĐ, QL ở nhà giáo

(i) Quan niệm truyền thống coi giáo viên (GV) là đối tượng LĐ và QL

Quan niệm truyền thống cho rằng: trong nhà trường, GV là đối tượng "bị" lãnh đạo, "bị" quản lý, là người thừa hành. Cách hiểu này chưa đầy đủ, phiến diện, thể hiện ở chỗ: một mặt, coi “lãnh đạo”, “quản lý” là những khái niệm chỉ gắn với những cá nhân có các chức danh được quy định chính thức trong cơ cấu tổ chức nhà nước, đoàn thể; mặt khác, chỉ thấy người GV là thuộc cấp chịu sự điều khiển của các cấp LĐ, QL mà chưa thấy vai trò LĐ, QL của họ trong các mối quan hệ khác.

Quan niệm trên tất yếu sẽ chi phối và ảnh hưởng tới thực tiễn hoạt động của nhà giáo trong nhà trường, khiến họ trở nên thụ động; tính tích cực và sáng tạo vốn là một tiềm năng rất lớn của đội ngũ GV bị hạn chế; đồng thời, cũng ảnh hưởng rõ nét tới chương trình đào tạo GV. Các kiến thức và kỹ năng về LĐ, QL không có vị trí trong chương trình sư phạm, dù là hệ trung cấp, cao đẳng hay đại học.

Trong xu thế phát triển giáo dục thế giới ngày nay, tiếp cận năng lực thực hiện/ tiếp cận “đầu ra” đang có ưu thế chi phối sự phát triển chương trình đào tạo. Việc mô tả công việc và phân tích các đặc điểm thuộc năng lực thực hiện các hoạt động nghề nghiệp của GV là điểm tựa chân xác cho sự thẩm định và đánh giá chương trình đào tạo sư phạm.

Khi người giáo sinh rời trường sư phạm để thực hiện chức nghiệp nhà giáo trong các cơ sở giáo dục, do yêu cầu của công việc và đòi hỏi của các hoạt động giáo dục trong nhà trường, họ phải làm quen và thực hiện vai trò LĐ, QL. Người GV phải trực tiếp thực hiện những đối tượng, công việc mà tính phức tạp ngày một tăng dần: lãnh đạo và quản lý tập thể học sinh (dù đó là lớp chủ nhiệm hay là những lớp dạy bộ môn thì mỗi tập thể đều là tập hợp những con người, ở đó, mỗi học sinh là một thế giới thu nhỏ của sự “tổng hòa các quan hệ xã hội” - K.Marx); tổ chức, quản lý, điều hành tất cả những công việc liên quan tới các hoạt động dạy học, hoạt động giáo dục khác nhau; lãnh đạo, quản lý các tổ chức đoàn thể, chính quyền hoặc những hoạt động có quy mô, tính chất ngày càng lớn hơn, phức tạp hơn ở cả phạm vi trong và ngoài nhà trường... khi có đủ điều kiện và độ tin cậy. Một thực tế là, ở nhà trường Việt Nam, gần 100% hiệu trưởng, hiệu phó... đều trưởng thành từ GV lên. (trong tiếng Anh: Hiệu trưởng là Principal, nhưng cũng là Head Teacher, Headmaster/ Headmistess). Một thực tế khác, Việt Nam cũng như rất nhiều nước có nền giáo dục phát triển chưa có (và khó có thể có) trường, lớp đào tạo hiệu trưởng.

Trong quá trình thực hiện chức nghiệp nói trên, GV - những người không hề được đào tạo những kiến thức và kỹ năng LĐ, QL – phải tự mình học hỏi lý luận, học hỏi thực tiễn, tự trải nghiệm qua không ít lần thất bại vì không được trang bị các kiến thức, kỹ năng cần thiết. Vốn tri thức chuyên môn, nghiệp vụ được đào tạo bài bản 3 năm, 4 năm ở trường sư phạm vẫn được coi là còn nhiều thiếu hụt, chưa đủ để người GV tự tin khi hành nghề. Vậy nên, khi họ phải thực hiện công việc LĐ, QL – với tư cách là một lĩnh vực mới, với những yêu cầu chuyên môn, nghiệp vụ mới - thì số đông trong họ đều lúng túng, non tay ... Sự non yếu ấy sẽ tạo ra những hạn chế nhất định cho chất lượng và hiệu quả công việc.

Như vậy, từ những căn cứ lý luận và thực tiễn nói trên, có thể kết luận rằng: quan niệm truyền thống về vai trò của người GV, coi họ chỉ là đối tượng thụ động của sự LĐ và QL đã bộc lộ rõ sự bất cập. Bất cập này ảnh hưởng trước hết tới quá trình đào tạo sư phạm (chưa chú trọng đào tạo sinh viên những kiến thức và kỹ năng lãnh đạo - quản lý...); sau nữa, ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình thực hiện nhiệm vụ giáo chức, và ảnh hưởng tới quá trình bồi dưỡng GV các bậc học, cấp học.

(ii). Quan niệm hiện đại coi trọng những phẩm chất và năng lực lãnh đạo, quản lý của người GV.

Các xu hướng đổi mới giáo dục trong thế giới hiện đại được kiến tạo bởi nhiều quan điểm và lý thuyết giáo dục mới. Theo đó, dưới sự soi sáng của triết lý phát triển, cả hai lĩnh vực hoạt động chủ yếu trong nhà trường là dạy học và giáo dục đều nhằm mục tiêu phát triển việc học và phát triển nhân cách người học. Cứu cánh của quá trình dạy học, quá trình giáo dục hiện đại là tích cực hoá hoạt động học tập, tích cực hóa người học hướng tới các mục tiêu học để biết, học để làm, học để cùng chung sống và học để làm người (UNESCO). Các quá trình ấy được tổ chức và tiến hành theo những hướng tiếp cận mới, lý thuyết mới, bằng nhiều con đường, phương pháp và kỹ thuật hiện đại. Từ trung tâm của sự định hướng là quá trình dạy chuyển sang quá trình học. Người thầy, từ chỗ là "chuyên gia về việc dạy" chuyển thành "chuyên gia về việc học" (R.R.Singh - 1995), và phải thực hiện sứ mệnh nhà giáo dục (UNESCO).

Xu hướng phát triển hiện đại ấy dẫn đến sự thay đổi tính chất quá trình giáo dục. Xét "về mặt nghiệp vụ sư phạm, nền giáo dục phải đảm bảo cho việc học phải được tổ chức và kiểm soát, sao cho học gì được nấy, học đâu được đấy" (Hồ Ngọc Đại - 2007).

Trong bối cảnh đổi mới giáo dục nói trên, vai trò của người GV cũng có những biến đổi sâu sắc. Trước kia, cùng với sách giáo khoa, người thầy là nguồn kiến thức, đồng thời là người truyền thụ, "rót" kiến thức xuống học sinh. Giờ đây, GV chẳng những là người lập kế hoạch và tổ chức quá trình học tập, mà còn là huấn luyện viên giúp học sinh tìm con đường riêng để phát triển bản thân trong quá trình học tập; chẳng những là hướng dẫn viên, tư vấn cho việc học, gợi mở cho người học cách làm ra kiến thức mà còn là người cổ vũ, khích lệ người học tích cực tham gia học tập; chẳng những là trọng tài, đánh giá và tổ chức đánh giá mà còn là người quản lý, điều khiển quá trình học tập - giáo dục học sinh.

Các kết quả nghiên cứu về lao động của GV đều nhất quán cho rằng: để thực hiện vai trò, chức năng và nhiệm vụ của mình trong nhà trường, hầu hết GV phải đảm nhiệm các loại hoạt động sau đây: hoạt động dạy học, hoạt động giáo dục học sinh, hoạt động chủ nhiệm lớp, phụ trách các tổ chức, đoàn thể hoặc tổ nhóm chuyên môn, chỉ đạo hoặc tham gia tổ chức các hoạt động xã hội trong và ngoài trường học… Về bản chất, khi tiến hành các hoạt động ấy, người GV đích thực đóng vai thực hiện các vai trò LĐ, QL: phải có kiến thức và kỹ năng xác định tầm nhìn, lựa chọn và ưu tiên “những việc đúng”, những hướng thay đổi và phát triển; biết làm việc với con người và LĐ các cá nhân khác: truyền cảm hứng, tập hợp, lôi kéo, thúc đẩy mọi người tham gia thực hiện những mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài bằng những phong cách và kỹ năng LĐ phù hợp; biết QL điều hành công việc: từ lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều phối, kiểm tra đánh giá… Chính vì vậy, ngoài tri thức về chuyên môn và về nghiệp vụ sư phạm, người GV cần có các phẩm chất, kiến thức, kỹ năng cần thiết để thực hiện vai trò, nhiệm vụ LĐ, QL tập thể người (học sinh, nhà giáo và các lực lượng khác), quá trình dạy học, giáo dục, quá trình tự học, tự rèn để phát triển nhân cách.

Kết quả của nhiều công trình nghiên cứu về chất lượng GV ngày càng làm sáng tỏ điều nói trên. Công trình nghiên cứu tập thể của các nước thành viên OECD đánh giá chất lượng giáo viên dựa trên 5 mặt năng lực như sau:

(1) Có kiến thức phong phú về chương trình học và nội dung môn học;

(2) Có kỹ năng sư phạm, kể cả việc có được "kho kiến thức" về phương pháp dạy học và năng lực sử dụng kho kiến thức đó;

(3) Có tư duy phản ánh, có năng lực tư phê phán - nét đặc trưng của nghề giáo viên;

(4) Biết tập hợp, truyền ảnh hưởng và cảm hứng tới người học, biết cảm thông và tôn trọng phẩm giá học sinh;

(5) Có năng lực quản lý, kể cả trách nhiệm quản lý trong và ngoài môi trường lớp học. (Nguyễn Thanh Hoàn - 2004).

Trong 5 mặt năng lực trên, có 2 mặt thuộc về năng lực LĐ (4) và QL (5);

Trong xu thế phát triển của giáo dục hiện đại, những năm gần đây, nền giáo dục ở các nước tiên tiến như Mỹ, Đức, Nhật, Phần Lan, Hà Lan, Australia, Singapore…đã đặt ra một mục tiêu đào tạo phát triển những năng lực toàn diện ở học sinh, trong đó coi trọng việc hình thành và phát triển năng lực lãnh đạo cho trẻ em ngay từ bậc học nền tảng đầu tiên – bậc tiểu học. Chẳng hạn, mô hình trường học ưu việt (Excellent School Model) của Singapore nhằm vào 6 mục tiêu chính: (i) các quá trình giáo dục hướng tới học sinh; (ii) sự khỏe mạnh của học sinh ; (iii) chất lượng giảng dạy và học tập; (iv) các quy trình hiệu quả để đánh giá học sinh; (v) phát triển các lĩnh vực hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp; (vi) phát triển năng lực lãnh đạo ở học sinh. Theo đó, GV Singapore đều được đào tạo những kiến thức và kỹ năng LĐ, QL để thực hiện được mục tiêu trên.

Phải chăng, vì vậy, trong hệ thống  giáo dục Singapore, các khái niệm “lãnh đạo dạy học”, “lãnh đạo lớp học”, “lãnh đạo sự đổi mới” được dùng phổ biến và trở nên quen thuộc với các cơ sở giáo dục, từ trường mầm non, phổ thông cho tới trường cao đẳng, đại học, viện nghiên cứu khi đề cập tới vai trò GV ...

Từ những phân tích trên đây, có thể kết luận: để có năng lực thực hiện chức nghiệp của mình, người GV rất cần phải có các kiến thức, kỹ năng căn bản về LĐ, QL trường, lớp, học sinh làm nền tảng; đồng thời, việc trang bị những kiến thức, kỹ năng ấy cần bắt đầu từ môi trường đào tạo sư phạm.

 3. Những kiến thức, kỹ năng LĐ, QL căn bản cần phát triển trong chương trình đào tạo GV

Trong khuôn khổ có hạn, sau đây, xin đề xuất khung nội dung các nhóm kiến thức, kỹ năng cơ bản về LĐ, QL cần thiết có trong chương trình đào tạo GV hiện hành.

3.1. Nhóm kiến thức cơ bản về LĐ, QL giáo dục, LĐ, QL nhà trường

i) Các kiến thức cơ bản về LĐ, QL giáo dục: các khái niệm cơ bản như LĐ, QL giáo dục; các chức năng LĐ, QL; những nguyên tắc cơ bản của LĐ, QL trường lớp.

ii) Các kiến thức cơ bản về LĐ và QL nhà trường: về chức năng , nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của nhà trường (mầm non, tiểu học, THCS, THPT...); nội dung LĐ và QL nhà trường phổ thông; chức trách, nhiệm vụ của giáo viên trong LĐ, QL nhà trường; giáo viên tham gia LĐ và QL các hoạt động chuyên môn; giáo viên tham gia LĐ và QL trong các tổ chức đoàn thể và cộng đồng xã hội; giáo viên tham gia LĐ và QL các hoạt động của học sinh trong nhà trường;

3.2. Nhóm kiến thức, kỹ năng cơ bản về LĐ và QL lớp học

i) Những kiến thức chung về lớp học và QL lớp học, bao gồm: khái niệm lớp học; - chức năng nhiệm vụ của giáo viên trong quá trình LĐ, QL lớp học; - nội dung và đặc điểm của quá trình LĐ, QL lớp học; - ý nghĩa của quá trình LĐ, QL lớp học;

ii) Những kiến thức và kỹ năng lãnh đạo và quản lý xây dựng tập thể lớp học: - kiến thức chung về nguyên tắc và phương pháp LĐ và QL tập thể học sinh trong lớp học; - tìm hiểu, phân loại học sinh và lập kế hoạch tổ chức, quản lý tập thể lớp; xây dựng các qui định và chỉ dẫn trong dạy học trên lớp; - LĐ và QL quá trình xây dựng tập thể học sinh lớp chủ nhiệm; - LĐ và QL hoạt động của lớp học theo nội dung giáo dục toàn diện; - LĐ và QL quá trình liên kết các lực lượng giáo dục trong và ngoài trường; - QL hồ sơ lớp học; - đánh giá quá trình học tập và rèn luyện của học sinh trong lớp học.

iii) Những kiến thức và kỹ năng LĐ và QL xây dựng môi trường văn hóa lớp học, bao gồm: - xây dựng môi trường văn hóa vật chất, cảnh quan của lớp học; - xây dựng môi trường tâm lý, tinh thần của lớp học; - cải tiến, đổi mới LĐ và QL lớp học theo các mô hình mới.

iii) Những kiến thức và kỹ năng LĐ và QL quá trình giáo dục học sinh cá biệt trong lớp học;

iv) Những kiến thức và kỹ năng xử lý tình huống trong lớp học.

3.3. Nhóm kiến thức và kỹ năng LĐ, QL hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

i) Những kiến thức cơ bản:- vai trò, tác dụng của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp; - mục tiêu, nội dung của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp; - hình thức, phương pháp, phương tiện tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.

ii) Kiến thức và kỹ năng LĐ, QL hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp: - lựa chọn và tiến hành các hình thức tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp; - lựa chọn và tiến hành các phương pháp, phương tiện tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp; - tổ chức quá trình đánh giá học sinh trong các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp; - thiết kế hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.

3.4. Nhóm kiến thức và kỹ năng LĐ, QL quá trình dạy học

            Dạy học là hoạt động cơ bản của người giáo viên và có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng người thầy cũng như đối với chất lượng giáo dục của nhà trường. Nhìn một cách thực tiễn, việc dạy học do người giáo viên thực hiện là một quá trình theo trục thời gian tuyến tính: soạn, giảng, kiểm tra đánh giá học sinh. Quá trình này có thể phân giải thành các công đoạn: các yếu tố đầu vào, các hoạt động nối nhau liên tiếp ở trong quá trìnhcác yếu tố đầu ra. Thực hiện quá trình ấy đòi hỏi phải có sự kết hợp chặt chẽ các nguồn lực dạy học. Để quản lý được quá trình ấy, để thực sự làm chủ nó, đòi hỏi người giáo viên phải có khả năng kiểm soát được nó ngay từ bước chuẩn bị đầu tiên tới bước cuối cùng. Nhìn khái quát, để quản lý quá trình soạn bài, lên lớp, người giáo viên cần được trang bị những kiến thức, kỹ năng LĐ và QL như sau:

i) Kiến thức, kỹ năng lập kế hoạch chất lượng.

Đây là khâu thiết kế đầu vào cho quá trình dạy học, bao gồm: (1) Xác định một cách cụ thể những mục tiêu cần đạt đến sau giờ học. Có mục tiêu tổng quát của cả bài, bao gồm kiến thức, kỹ năng, thái độ mang tính định hướng; có những mục tiêu bộ phận để thực hiện. Những mục tiêu này thường tương ứng với các phần đơn vị kiến thức lớn của bài; (2) Xác định những chuẩn mực cho quá trình thực hiện, đây là những yêu cầu, những mong muốn đạt được đối với các yếu tố tham gia vào quá trình như nội dung kiến thức, phương pháp tổ chức, hướng dẫn của người dạy và cách thức hoạt động để chiếm lĩnh tri thức của người học...; (3) Hình dung, dự kiến tường minh các quy trình tiến hành: theo một quy trình tổng thể nào thì tối ưu, trong quy trình lớn ấy có những hoạt động nào và đâu là hoạt động trọng yếu, đồng thời, để thực hiện những hoạt động ấy, người dạy, người học cần tuân thủ tuần tự những bước đi nào, làm cho học sinh nắm  được phương pháp, cách thức tiến hành công việc có chất lượng trong mỗi giờ ra sao...; (4) Tính đếm những điều kiện hỗ trợ cho các khâu trong quá trình theo một kế hoạch chặt chẽ và cách thức kiểm soát chất lượng giờ học và kết quả học tập của học sinh.  

ii) Kiến thức, kỹ năng lãnh đạo và tổ chức quản lý quá trình dạy học trên lớp.

Trong diễn tiến của quá trình dạy học trên lớp, GV cần làm chủ những kiến thức, kỹ năng tổ chức, điều khiển sao cho quá trình diễn ra đúng với kế hoạch đã xác định và có thể theo dõi, kiểm soát được diễn biến chất lượng một cách hiệu quả ở mọi thời điểm, từ nhiều nguồn: người dạy, người học, người dự giờ, giám định ...

Những nhận thức mới về quá trình sư phạm khẳng định rằng: muốn quá trình dạy học có chất lượng và hiệu quả, người GV không chỉ là nhà chuyên môn, người truyền dạy, nhà tổ chức, quản lý mà phải thực sự đóng vai trò của một “nhạc trưởng”, một “lãnh tụ tinh thần” với kỹ năng, nghệ thuật lãnh đạo khéo léo tập thể lớp học. GV vừa là “ngọn cờ” khởi xướng sự tìm tòi, sáng tạo ở người học, vừa là nơi / “ngọn cờ” tập hợp, có sức lan truyền cảm hứng và kích thích hứng thú người học tham gia vào các hoạt động học tập. GV vừa là người “bạn học” cùng tham gia và chia sẻ với người học trong quá trình học tập, lại vừa là “trọng tài” công minh, dân chủ khi đánh giá và khen chê người học bằng cả tầm lòng nhân ái …Đó là những gì thuộc phẩm chất và năng lực lãnh đạo lớp học của người GV.

iii) Kiến thức và kỹ năng sử dụng các công cụ quản lý chất lượng để cải tiến chất lượng công việc. Các công cụ QLCL hỗ trợ cho người GV trong việc đo đếm, nắm bắt diễn biến của CL dạy học, giáo dục đã và đang diễn ra trong một bộ môn, một lớp và trong nhà trường. Kiến thức và các kỹ năng sử dụng công cụ QLCL giúp cho người GV: nắm  được một cách xác thực diễn biến của chất lượng dạy học và giáo dục học sinh; phân tích, đánh giá chất lượng các công việc tiến hành; tìm ra những khiếm khuyết và nguyên nhân gây tình trạng khiếm khuyết đó cũng như đề xuất những biện pháp cải tiến, khắc phục và phòng ngừa những khiếm khuyết. Các công cụ QL chất lượng giúp cho GV kiểm soát quá trình dạy học được xác thực, thông qua những dữ kiện cụ thể, tường minh; đồng thời, làm cho hoạt động cải tiến chất lượng nhằm tạo ra những động lực thức đẩy chất lượng ngày một tốt hơn.

4. Kết luận

Chất lượng của một nền giáo dục tuỳ thuộc vào chất lượng của mỗi nhà trường và chỉ thực sự được đảm bảo khi người GV thoát khỏi vai trò thụ động của người "bị quản lý" theo quan niệm thông thường để thực sự đóng vai trò chủ thể lãnh đạo - quản lý tham gia trong  mọi công việc, mọi hoạt động, mọi lĩnh vực trong nhà trường.

Để làm chủ phải có tri thức làm chủ. Kiến thức và kỹ năng về LĐ, QL sẽ giúp mỗi người GV thực hiện một cách đúng nghĩa và đầy đủ vai trò làm chủ của mình. Bởi lẽ, những kiến thức và kỹ năng ấy sẽ đem đến cho người GV những nhận thức mới, cách làm mới để thực hiện một cách hiệu quả vai trò lãnh đạo, quản lý các nhóm cá nhân nhằm thực hiện có chất lượng các công việc, các hoạt động, quá trình của mình, của đồng nghiệp và của nhà trường; từ đó mà chất lượng và hiệu quả của các hoạt động giáo dục được nâng cao. Trên cơ sở có kiến thức, kỹ năng LĐ, QL, người GV lại càng có thêm điều kiện để tham gia vào các hoạt động LĐ và QL trong nhà trường, góp phần làm cho guồng máy nhà trường hoạt động có hiệu quả. Đây cũng chính là tinh thần căn bản của dân chủ hóa quá trình quản lý nhà trường.

Bởi vậy, đã đến lúc nhận thức rõ ràng và đúng đắn hơn về tầm quan trọng và sự cần thiết của những kiến thức và kỹ năng LĐ, QL ở người GV. Đó là  nội dung cần thiết phải có trong chương trình đào tạo và bồi dưỡng giáo viên.

 (Đã đăng trên Tạp chí Giáo dục - Số chuyên đề - Tháng 6/2010)

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ GD và ĐT. Bồi dưỡng Hiệu trưởng trường phổ thông theo chương trình liên kết Việt Nam – Singapore. Học viện QLGD - Học viện giáo dục quốc gia Singapore - 2008

2. Warren Bennis (1997). Learning to Lead: A Workbook on Becoming a Leader. Perseus Book/Addison Wesley.

3. Michel Develay (1999) Một số vấn đề về đào tạo giáo viên. NXB-GD.

4. Nguyễn Thanh Hoàn (2004). Chất lượng giáo viên và chính sách cải thiện chất lượng giáo viên. Tạp chí Khoa học giáo dục.2004

5. Trần Bá Hoành (2006). Đào tạo giáo viên. Những nghiên cứu lí luận và thực tiễn. NXB ĐHSP.

6. Phạm Quang Huân (2006). Vai trò chủ thể quản lý chất lượng của giáo viên trong nhà trường. Tạp chí Giáo dục.4/2006

7.  Phạm Quang Huân (2011). Vai trò, nội dung và phương pháp quản lý chất lượng giáo dục của người giáo viên viên trong nhà trường. Tạp chí Khoa học – Trường ĐHSP Hà Nội. Số đặc biệt – năm 2011.

8. John C. Maxwell (1993). Developing the Leader within You. Thomas Nelson Business.

9. R. RoySingh. Nền giáo dục thế kỷ hai mươi mốt, những triển vọng Châu Á – Thái Bình Dương. Ủy ban UNESCO Việt Nam – Viện Khoa học Giáo dục. H-1995

10. Trần Tuyến-Nguyễn Văn Bính (2008), Đào tạo nghiệp vụ cho SV SP theo quan điểm tiếp cận thực tiễn giáo dục PT, Tạp chí Giáo dục,  4/2008

Publish: 4/24/2015 - Views: 905 - Lastest update: 4/24/2015 10:03:31 AM
Tin cùng chuyên mục