Email: email@ioer.edu.vn | vncsp@hnue.edu.vn
Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC VIỆN NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI VÀ HƯỚNG NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA VIỆN NGHIÊN CỨU SƯ PHẠM TRONG XU THẾ TĂNG QUYỀN TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM CHO CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC

ThS. Vũ Thị Mai Hường

Khoa QLGD –Trường ĐHSP Hà Nội

 I. ĐẶT VẤN ĐỀ

            Khái niệm đại học nghiên cứu xuất hiện đầu tiên ở Đức, ngay từ cuộc cách mạng Nông nghiệp. Đại học nghiên cứu gắn với vai trò ngày càng lớn của viện nghiên cứu. Một trường đại học hiện đại, chất lượng cao phải là nơi giao thoa của 3 chức năng: đào tạo, nghiên cứu khoa học và phục vụ xã hội. Trong đó, nghiên cứu khoa học có tác động quyết định tới chất lượng của hai chức năng kia và tới chất lượng chung của nhà trường. Nghiên cứu để nâng cao vai trò của viện nghiên cứu là vấn đề rất quan trọng khi các trường đại học Việt Nam đang ít nhiều chuyển theo khuynh hướng đại học nghiên cứu trong thời gian gần đây.

II. NỘI DUNG

1. Hoạt động của nghiên cứu trong trường đại học trên thế giới

            Hệ thống giáo dục đại học ở các nư­ớc trên thế giới phát triển theo hướng đa dạng, thực tiễn và chất l­ượng cao. Với xu hướng này, giáo dục đại học đang có những chuyển biến quan trọng, sự chuyển biến này thể hiện trên các phương diện sau:

            Thứ nhất, số lư­ợng các trư­ờng đại học và cao đẳng nhiều và rất đa dạng. Ở Mĩ có gần 4000 trường đại học và cao đẳng, Ấn Độ có 217 viện đại học (university), 6759 trường đại học đại cương, 1770 trường đại học chuyên nghiệp; Hàn Quốc có hơn 200 trường đại học...Ở Mĩ, các trường đại học khác nhau về nhiều tiêu chí: Cơ quan trợ cấp (Chính phủ, tư nhân,..); Loại bằng cấp đào tạo (Tiến sỹ, Thạc sỹ, cử nhân, cao đẳng); Tính đa ngành của ch­ương trình (đơn ngành, đa ngành, đa lĩnh vực); Chức năng ( giáo dục, nghiên cứu, dịch vụ); Quy mô và địa điểm (số sinh viện của các trường đại học thay đổi từ 18 – 50.000 sinh viên).

            Thứ hai, các tr­ường đại học cũng rất khác nhau về sứ mệnh, mục tiêu và qui mô để đáp ứng nhu cầu rất đa dạng và ngày càng cao của xã hội học tập. Các tr­ường đại học toàn diện, đa ngành (comprehensive universities) thư­ờng có qui mô lớn (hàng vạn sinh viên, hàng trăm mã ngành đào tạo), các tr­ường đơn ngành th­ường có qui mô nhỏ; về bậc đào tạo, có trư­ờng chỉ đào tạo bậc đại học, có tr­ường đào tạo bậc Thạc sĩ và có tr­ường đào tạo cả bậc tiến sĩ; có trường tập trung tại một địa điểm, có trường (ví dụ, The University of California) là một hệ thống các trường con (9 affiliated colleges) nằm ở các thành phố khác nhau trong Bang.

            Hoạt động nghiên cứu ngày càng đóng vai trò quan trọng. Ở mỗi nước, trong số các trường đại học, bao giờ cũng có một phần trăm nhất định là các đại học nghiên cứu chất lượng cao để đào tạo tinh hoa, tài năng (nguồn nhân lực chất lượng cao).

            Trư­ờng đại học, nhất là các đại học nghiên cứu là nơi giao thoa của ba chức năng: Đào tạo, Nghiên cứu khoa học và Phục vụ xã hội và sự kết hợp chặt chẽ ba chức năng này hiện nay cũng là xu hư­­ớng cơ bản trong chiến lư­­ợc phát triển giáo dục đại học của các nư­­ớc trên thế giới. Các trư­­ờng đại học không chỉ là trung tâm đào tạo mà đã thực sự trở thành các trung tâm nghiên cứu khoa học, sản xuất, sử dụng, phân phối, xuất khẩu tri thức và chuyển giao công nghệ mới hiện đại. Trong đó, nghiên cứu khoa học và phục vụ thực tiễn vừa là phương tiện (học qua nghiên cứu), vừa là mục đích (học cho nghiên cứu) vừa là động lực để đào tạo, nhất là đào tạo chất lư­ợng cao. Nói cách khác, nghiên cứu khoa học là một yếu tố đặc biệt quan trọng quyết định nhất tới chất lượng đào tạo. Vì vậy, liên kết với các doanh nghiệp, với sản xuất (theo công thức: Nhà nước – Đại học - Cộng đồng - Doanh nghiệp) là xu hướng ngày một phát triển.

            Thời gian dành cho nghiên cứu khoa học t­ương đối lớn. Với các cán bộ giảng dạy đại học, bên cạnh hoạt động đào tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học là hoạt động bắt buộc. Tỷ lệ thời gian dành cho các hoạt động này khác nhau tuỳ loại trư­ờng (Bảng dưới). Ở các đại học nghiên cứu của Hoa Kỳ, khoảng 1/2 thời gian dành cho công tác nghiên cứu khoa học và cứ sau 5 năm mỗi cán bộ có 1 -2 hoc kỳ để bồi dưỡng (nghiên cứu khoa học). Qua nghiên cứu, đội ngũ cán bộ giảng dạy luôn có cơ hội thăng tiến (cập nhật kiến thức và nâng cao trình độ, cũng như­­ học vị, học hàm và đi đôi với các điều này là chế độ đãi ngộ).

            Kinh phí dành cho nghiên cứu khoa học lớn và từ nhiều nguồn. Kinh phí nghiên cứu khoa học trung bình các ĐH của Mỹ là 100 triệu USD/năm (North Carolina State University: 350 triệu USD/năm; Trung tâm Nghiên cứu Ung thư­, đại học Texas: 300 triệu USD/năm...; đại học Seoul: 100 triệu USD/năm).

            Trong các tr­ường đại học, tiềm lực nghiên cứu khoa học (nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị và kinh phí) rất lớn và được biểu hiện ở số l­ượng các đơn vị NC&DV (Research Institutes, Centers, Spin-off Companies) lớn so với các đơn vị đào tạo (Colleges, Schools), (th­ường chiếm khoảng trên 50 %)

Tên tr­­ường đại học

Đơn vị đào tạo đại học

Đơn vị quản lý đào tạo sau đại học

Đơn vị nghiên cứu khoa học

ĐH Seoul

16

5

60

ĐH Myong Ji

6

11

18

ĐH Kangwon

13

5

36

ĐH North Carolina

10

1

50

ĐH Tsinghua

13 (+5)

1

37V+ 23TT+15 PTN

            Các Viện và Trung tâm nghiên cứu (TTNC) đ­ược tổ chức theo mô hình Nghiên cứu & Triển Khai (R&D). Vì vậy, cho phép các nhà khoa học có thể tiến hành từ khâu nghiên cứu cơ bản đến triển khai thực nghiệm ở dạng pilot (Sản xuất thử-thử nghiệm) trư­ớc khi ra thị tr­ường, thông qua các công ty và doanh nghiệp. Viện và TTNC vừa là cơ sở nghiên cứu khoa học và đào tạo (nhất là đào tạo sau đại học), vừa là nơi thực hiện các đơn đặt hàng của các công ty. Rất nhiều các sản phẩm của các Viện nghiên cứu có thương hiệu cao trên thị tr­ường.

Các tr­­ường đại học có vai trò rất quan trọng trong các hoạt động nghiên cứu khoa học của đất nư­ớc (nhất là nghiên cứu cơ bản, chiếm tới 50% tổng số kinh phí của cả nước) với ba thế mạnh: (a) Tiềm năng chất xám của đội ngũ cán bộ cao; (b) lực l­­ượng triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học (sinh viên sau đại học và thực tập sinh sau tiến sỹ) thường xuyên và hùng hậu và (c) tạo ra hiệu quả kép (sản phẩm khoa học công nghệ và sản phẩm đào tạo).

Một mô hình tiêu biểu

Một trong những nhân tố đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút sinh viên quốc tế đến Đức du học ngày một gia tăng chính là vai trò "Hoạt động của Viện nghiên cứu trong các trường đại học của Đức". Trong cơ cấu tổ chức của các trường đại học Đức đều có các Viện nghiên cứu (VNC) với chức năng chính là nghiên cứu và giảng dạy. Mỗi Viện đều có hướng nghiên cứu chuyên sâu riêng của mình đồng thời có sự liên kết chặt chẽ giữa các viện khi nghiên cứu những đề tài có quy mô lớn.

Thông thường mỗi viện có một giáo sư đầu ngành giữ vị trí Viện trưởng. Dưới đó là một kỹ sư cao cấp (Oberingenieur) có vai trò thay mặt giải quyết các công việc của viện khi giáo sư vắng mặt, thư ký viện và đội ngũ cán bộ nghiên cứu và cán bộ phụ trách kỹ thuật phòng thí nghiệm, trang thiết bị... Tùy quy mô mà VNC có thể có nhiều chuyên ngành nhỏ. Ví dụ: Tại đại học Tổng hợp Hannover, Viện Cơ bao gồm: Viện Rôbốt (Institut fuer Robotik), Viện Cơ liên tục (Institut fuer Kontinuumsmechanik) và Viện Động lực học và dao động (Institut fuer Dynamik und Schwingungen).

Các giáo sư viện trưởng đóng vai trò rất quan trọng trong việc tìm kiếm và đảm bảo uy tín, tín nhiệm với các đề tài nghiên cứu khoa học cho Viện. Thông thường họ đã trải qua quá trình công tác thực tế, thu thập kinh nghiệm quản lý và nâng cao trình độ tại các công ty trong và ngoài nước, từng nắm các vị trí quan trọng trước khi giữ vai trò Viện trưởng. Số tiền dành cho công tác nghiên cứu thường rất lớn. Nguồn tiền dành cho nghiên cứu có thể từ: trường Đại học, các công ty, nhà máy (VW-Stiftung...) và Chính phủ (các chương trình nghiên cứu cấp quốc gia, quốc tế). Mỗi cán bộ đều phụ trách hoặc tham gia một hoặc nhiều đề tài. Trong quá trình nghiên cứu tất yếu sẽ nảy sinh nhiều vấn đề mới và đối với các cán bộ nghiên cứu trẻ thì đây là cơ hội tốt để họ phát triển thành các đề tài tiến sỹ của mình. Ngoài đội ngũ cán bộ nghiên cứu còn có sự hỗ trợ đắc lực của các sinh viên có khả năng, đam mê nghiên cứu khoa học. Vì thế, sinh viên có cơ hội rất tốt tiếp xúc với thực tế và còn được trả lương góp phần trang trải cuộc sống.

Bên cạnh công tác nghiên cứu thì các VNC cũng đảm nhiệm công tác giảng dạy cho sinh viên. Mỗi viện thường có một vài môn học và các môn học này đều liên quan và gắn liền với công tác nghiên cứu của viện do các giáo sư trực tiếp giảng dạy, trong một số môn học cho phép tiến sỹ đứng giảng bài (điều kiện tối thiểu để đứng giảng bài là cán bộ phải có bằng Tiến sỹ).

Sự liên kết giữa các Viện còn thể hiện qua một mô hình rất mới mẻ, đó là mô hình các Viện có chức năng liên quan mật thiết đến nhau được đặt tập trung trong một khu vực để thuận tiện cho việc nghiên cứu cũng như học tập của sinh viên. Điển hình là mô hình "Khoa học và sản xuất dưới cùng một mái nhà" của Trung tâm kỹ thuật sản xuất Hannover (PZH: Produktionstechnisches Zentrum Hannover).

Tại Trung tâm này hội tụ 6 Viện lớn của Khoa Cơ khí: Viện Kỹ thuật sản xuất và Máy công cụ - IFW, Viện Phương tiện giao thông và Tự động hóa - ITA, Viện Công nghệ vi điện tử - IMT, Viện Kỹ thuật Biến dạng – IFUM, Viện Vật liệu IW và Viện Thiết bị nhà máy IFA với trên 400 các kỹ sư, cán bộ nghiên cứu có chất lượng cao. Trung tâm này là sự hiện thực hóa ý tưởng liên kết giáo dục, nghiên cứu với sản xuất, tư vấn của nền giáo dục Đức nói chung và đại học Hannover nói riêng.

Các cán bộ trong viện vừa tham gia nghiên cứu khoa học vừa hỗ trợ giáo sư trong các công tác chuẩn bị bài tập, đề thi và chấm thi. Điều đặc biệt và rất quan trọng là mỗi cán bộ sẽ có giờ dành cho sinh viên có thể tới hỏi các vấn đề liên quan đến môn học. Các sinh viên có thắc mắc có thể đến vào giờ này và sẽ được hướng dẫn rất tận tình. Người Đức vốn đặt hiệu quả lên đầu. Họ luôn cố gắng làm việc một cách khoa học, sắp xếp thời gian, lịch làm việc tối ưu. Trong công tác nghiên cứu, họ sẵn sàng ở lại thêm thời gian để làm việc, tìm kiếm các bài viết trên mạng và trong các tạp chí, sách báo chuyên ngành. Điều đáng chú ý nữa là các các bộ nghiên cứu đều phải sử dụng thành thạo ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh, để viết báo cáo và tham dự các hội thảo quốc tế. Đây là điều mà các nhà nghiên cứu của chúng ta cần học tập. Một điểm yếu bấy lâu nay của các nhà Khoa học Việt Nam đó chính là khả năng sử dụng ngoại ngữ cho nghiên cứu và trao đổi khoa học.

Giáo trình học của Viện hàng năm đều được cập nhật các kết quả, kiến thức mới và thông qua sự đánh giá của sinh viên để luôn luôn được hoàn thiện hơn. Các sinh viên tham gia đánh giá chất lượng bài giảng, giáo trình, bài tập, nội dung... Sau đó giáo sư và các cán bộ sẽ tổng kết, thống kê, sửa chữa và bổ sung, làm mới cho môn học. Có thể nói hoạt động của VNC thể hiện sự chuyên sâu và chuyên môn hóa cao trong công tác giảng dạy của nền giáo dục Đức. Bên cạnh đó, công tác nghiên cứu gắn liền với việc giải quyết các vấn đề xã hội, sản xuất, công nghiệp... đóng vai trò quan trọng, đưa sinh viên sớm tiếp cận thực tế, thực hiện tốt "học đi đôi với hành".

Nhìn về thực tế trong nước, đôi khi các hoạt động nghiên cứu xa rời thực tế, các kết quả nghiên cứu nhiều khi không được đưa ra áp dụng gây sự lãng phí rất lớn trong công tác đầu tư. Chúng ta đang từng bước hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước thì việc hiện đại hóa và nâng cao chất lượng giáo dục là một yêu cầu tất yếu và cấp bách. Một trong những công việc chúng ta có thể học tập các nước tiên tiến, mà cụ thể ở đây là nước Đức chính là chuyên môn hóa và tập trung phát triển vai trò, chức năng của các VNC, góp phần tránh lãng phí và đưa nền giáo dục, xã hội lên một tầm cao mới.

2. Quản lý viện nghiên cứu trong trường đại học

Sau khi nghiên cứu hoạt động của các viện nghiên cứu trong các trường đại học trên thế giới, có thể rút ra nhận xét về quản lý của các viện này như sau.

Các viện nghiên cứu là đơn vị trực thuộc các trường đại học, nằm dưới sự chỉ đạo chung của nhà trường. Tuy nhiên, giáo dục đại học ở các nước có được sự phát triển như trên do các nhà trường được trao quyền tự chủ (autonomy) cao, tự chịu trách nhiệm (acountability) cao: Các trường đại học có tính tự chủ cao, họ gần như­ quyết định mọi hoạt động của nhà trường. Đặc trưng này tập trung cao nhất trong hệ thống đại học ở Mĩ: Nhà nước Liên Bang hầu như không có chức năng quản lý đại học, mà quyền này thuộc về các Bang. Trong thực tế, các Bang cũng chỉ quản lý giáo dục phổ thông, còn giáo dục địa học thì các trường hầu như tự trị (Lê văn Giạng, 2005). các trường đại học có quyền quyết định gần như mọi hoạt động: tổ chức nhân sự (cán bộ), quản lý, học thuật, cơ sơ vật chất, tài chính... Các viện nghiên cứu trong trường cũng được tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động của mình trên quyền tự chủ, tự chịu chung mà nhà trường được giao.

Với vị trí là một đơn vị có tính độc lập lớn, người đứng đầu viện có tiếng nói quan trọng đối với các hoạt động trong nhà trường. Viện nhận kinh phí từ nhà trường và có thể tự tìm kiếm các nguồn thu khác từ kết quả nghiên cứu của mình, tự chủ với nguồn tài chính đó

            Trong quy trình quản lý nhà trường, nhiệm vụ của các viện nghiên cứu trong nhà trường đại học được coi trọng, được đặt ra một cách cụ thể, rõ ràng luôn gắn với đòa tạo và các dịch vụ phục vụ nhu cầu xã hội

Không chỉ nhà trường mà quốc gia và các tổ chức kinh doanh đều chú trọng đầu tư cho nghiên cứu khoa học và sử dụng các sản phẩm nghiên cứu.

Tóm lại cơ chế quản lý ở đây là tự trị từ cấp trường đến cấp viện

3. Nâng cao vai trò của viện nghiên cứu sư phạm trong sự nghiệp phát triển đội ngũ giáo viên hiện nay

3.1. Trong thực tế hiện nay, viện nghiên cứu ở Việt Nam được thành lập và quản lý theo điều lệ trường đại học quy định trong điều 44.

- Về mặt pháp lý: Các tổ chức nghiên cứu và phát triển được tổ chức dưới hình thức viện hoặc trung tâm, được thành lập theo quyết định của Hiệu trưởng, hoạt động theo quy định của pháp luật. Trên cơ sở quyết nghị của Hội đồng trường về kế hoạch phát triển của trường, Hiệu trưởng quyết định việc thành lập và giải thể các tổ chức nghiên cứu và phát triển, các tổ chức dịch vụ, các doanh nghiệp và các đơn vị sự nghiệp.

- Về nhiệm vụ của các viện bao gồm

a) Triển khai các hoạt động khoa học và công nghệ mũi nhọn hoặc liên ngành, đưa tiến bộ khoa học và chuyển giao công nghệ phục vụ đào tạo, phát triển kinh tế-xã hội, an ninh, quốc phòng;

b) Tham gia đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ ngắn hạn, gắn hoạt động khoa học và công nghệ với đào tạo và thực tế sản xuất, kinh doanh.

            Như vậy, các viện nghiên cứu vẫn chưa có tính độc lập, vẫn phụ thuộc chặt chẽ vào cơ chế hoạt động của nhà trường, điều này dẫn đến hạn chế kết quả nghiên cứu cũng như ứng dụng.

Viện nghiên cứu sư phạm thuộc Đại học sư phạm Hà Nội đã cụ thể hóa hoạt động của mình trên các phương diện sau:

Chức năng của Viện Nghiên cứu Sư phạm

a) Nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai các kết quả nghiên cứu về khoa học giáo dục; tổng kết kinh nghiệm và xây dựng các mô hình giáo dục;

b) Tổ chức bồi dưỡng giáo viên, đào tạo sau đại học, tham gia đào tạo đại học;

c) Tư vấn các vấn đề về khoa học giáo dục cho Trường Đại học Sư phạm, cho Bộ Giáo dục & Đào tạo và các địa phương;

d) Thông tin khoa học giáo dục, tham gia tổ chức biên soạn sách giáo khoa, giáo trình, sách tham khảo, sách bồi dưỡng giáo viên theo yêu cầu của ngành giáo dục;

e) Hợp tác trong nước, quốc tế về nghiên cứu khoa học giáo dục và đào tạo.

Nhiệm vụ của Viện Nghiên cứu Sư phạm

1. Nghiên cứu cơ bản, thực hiện các đề tài, dự án thuộc lĩnh vực khoa học giáo dục, tổng kết kinh nghiệm và mô hình giáo dục, tổ chức thử nghiệm và ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, phục vụ cho sự nghiệp nâng cao chất lượng đào tạo của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và sự phát triển của ngành giáo dục và đào tạo;

2. Tham gia tổ chức đào tạo sau đại học, tham gia đào tạo đại học và bồi dưỡng giáo viên các bậc học, ngành học;

3. Thu thập, lưu trữ, xử lý và phổ biến thông tin khoa học giáo dục;

4. Tham gia tổ chức nghiên cứu biên soạn sách giáo khoa phổ thông, giáo trình cao đẳng và đại học, sách tham khảo, sách bồi dưỡng giáo viên, sách tư vấn tâm lý, giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông…;

5. Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm;

6. Tư vấn cho Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm về việc thẩm định chất lượng các công trình nghiên cứu khoa học giáo dục, chất lượng đào tạo giáo viên;

7. Thực hiên các dịch vụ khoa học, tư vấn chuyển giao công nghệ giáo dục;

8. Hợp tác nghiên cứu khoa học và đào tạo với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.

Quyền hạn của Viện Nghiên cứu Sư phạm

1. Xây dựng kế hoạch nghiên cứu, đào tạo, bồi dưỡng hàng năm (hoặc theo chu kỳ dài hạn)

2. Giao nhiệm vụ để nghiên cứu, đào tạo, bồi dưỡng cho các đơn vị nghiên cứu trực thuộc; kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch;

3. Được trường Đại học Sư phạm giao nhiệm vụ kiêm nhiệm đào tạo, bồi dưỡng đại học và sau đại học;

4. Ký kết và thực hiện các hợp đồng nghiên cứu, đào tạo và triển khai ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học giáo dục với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước;

5. Hợp tác nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm với nước ngoài và các tổ chức quốc tế về khoa học giáo dục theo pháp luật hiện hành của Nhà nước Việt Nam

            Có thể thấy hoạt động của viện nghiên cứu chủ yếu tập trung vào nghiên cứu, giảng dạy, gắn kết quả nghiên cứu với ứng dụng thực tiễn chưa cao. Viện nghiên cứu vẫn chưa phát huy được vai trò thực sự của mình trong nhà trường đại học.

            Các viện bị quản lý chặt chẽ và phụ thuộc vào nhà trường. Khi nhà trường chưa được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm triệt để thì các viện cũng chưa thể có được quyền đó. Bản thân các viện phụ thuộc trường từ nhân sự đến tài chính, thậm chí định hướng nghiên cứu, đề tài nghiên cứu...

            Quyền hạn của viện cũng mới chỉ dùng ở các công việc hành chính, những quyền tự quyết về các vấn đề của viện như nhân sự, tài chính, học thuật lại ít được hay hầu như chưa được đề cập đến. Từ  đó có thể thấy sự chi phối và quản lý chặt chẽ của nhà trường

2.2. Một số giải pháp để phát huy vai trò của viện nghiên cứu

- Cần thay đổi tư duy, quan niệm đúng về vai trò của viện nghiên cứu trong nhà trường đại học nói chung, đại học sư phạm nói riêng. Viện nghiên cứu là nơi tập hợp những nhà khoa học đầu ngành, là nơi sáng tạo, đào tạo và ứng dụng thực thụ, đóng vai trò lớn trong vị thế của một trường đại học

- Cần cụ thể hóa tầm quan trọng của viện nghiên cứu bằng việc tăng quyền tự chủ cho viện, từ vấn đề chủ động trong đề xuất các nghiên cứu, ứng dụng đến vấn đề tự chủ về tài chính, nhân sự.

- Có chế độ đãi ngộ xứng đáng đối với các nhà khoa học của viện: điều kiện làm việc, nghiên cứu, đội ngũ hỗ trợ và thực hành...

- Gắn nghiên cứu với đào tạo, ứng dụng như ba trụ cột tạo nền tầm, thế của viện nghiên cứu, đặc biệt là viện nghiên cứu sư phạm, để viện có những đóng góp quan trọng trong sự phát triển của khoa học sư phạm.

III. KẾT LUẬN

            Trong lộ trình hình thành đại học nghiên cứu, cũng như xu thế phát triển của giáo dục đại học hiện nay thì viện nghiên cứu càng có vị thế quan trọng. Có thể nói hoạt động của viện nghiên cứu thể hiện sự chuyên sâu và chuyên môn hóa cao trong công tác giảng dạy của nền giáo dục đại học. Sự tồn tại và phát triển cũng như vai trò của viện là xu thế tất yếu, do đó, một nền giáo dục hiện đại không thể không quan tâm đầu tư cho các viện nghiên cứu và vấn đề quan trọng là trao cho các viện nhiều quyền hơn trong hoạt động của mình.


Tài liệu tham khảo

1.Trương Quang Học (Bản tin ĐHQG Hà Nội - số 217, năm 2009), Đại học nghiên cứu.

2. Website của du học Đức: www.duhocduc.de

3. Website của viện nghiên cứu sư phạm trường ĐHSP Hà Nội, ioer.edu.vn

Publish: 4/24/2015 - Views: 914 - Lastest update: 4/24/2015 10:30:30 AM
Tin cùng chuyên mục